Chương 72 : Lần thứ hai cải cách quân chế
Trần Nhật Thanh tay cầm bút lông không ngừng viết, viết xong, hắn với tay cầm lấy ấn vàng trên bàn đóng lên, hoàn thành soạn thảo chỉ dụ, mới cuộn lại đưa cho Hồ Hải đang đứng hầu bên cạnh :
-Người đem chỉ dụ này chuyển đến Binh bộ .
-Vi thần tuân mệnh !
Hồ Hải hai tay cung kính tiếp nhận chỉ dụ, xoay người rời khỏi, chạy đi hướng cung Quan Triều hướng về phía phòng làm việc của Binh bộ . Trần Nhật Thanh sau khi cải chế vì tính toán thuận tiện đường sá tiết kiệm chi phí và nhân lực, quyết định trực tiếp đem toàn bộ nha môn trung ương triều đình dời hết về cung Quan Triều làm việc. Lục bộ cùng các viện tụ tập xung quanh cung Quan Triều, khi cần họp nội các tại điện Cần Chính chỉ cần vài bước chân không cần đi xa, hắn muốn truyền lệnh gì cũng đơn giản nhẹ nhàng . Dĩ nhiên đây cũng là vì số lượng quan lại dưới quyền hắn khá ít, tính tổng cộng cũng mới xấp xỉ chưa đến 200 người mới có thể làm như vậy, chứ nếu đặt theo bộ máy tiêu chuẩn hiện đại quan chức lên đến mấy vạn cung Quan Triều của hắn thật sự là không chứa nổi. Đúng vậy, không hề nghe nhầm, triều đình trung ương của một đất nước có mấy triệu dân thực tế cũng chỉ có chưa đến 200 quan chức mà thôi, tính cả toàn quốc thêm số lại viên phụ tá cũng tuyệt đối không vượt quá 2 vạn, trung bình mỗi quan chức và lại viên quản 300- 500 dân, đây còn là đã qua Trần Nhật Thanh cải chế làm số lượng tăng lên không ít, nếu không tỉ lệ còn phải hạ thấp đi nhiều nếu so sánh với tỉ lệ quan chức trên dân số của thời hiện đại là 1 quản mấy chục thì càng không đáng giá nhắc tới. Đây cũng là thực trạng chung của các nhà nước thời đại này, quan chức ít, bộ máy nhỏ, có mô hình cá biệt như 2 triều Minh Thanh còn cực đoan đến nỗi tỉ lệ quan chức lại viên trên dân số còn thấp đến 1 phần mấy ngàn, đây cũng là vì sao khoa cử thời đại này cạnh tranh vô cùng khốc liệt, không có cách nào, số chức vị chỉ có ít ỏi như vậy, người muốn làm quan lại có một đống lớn, tự nhiên phải chém giết kịch liệt mới có thể được tuyển. Chính vì như vậy nếu xét trên một khía cạnh nào đó dân thời đại này so với hiện đại thì “ tự do” hơn nhiều, dĩ nhiên sự “tự do” đó đi kèm với tình trạng là phúc lợi xã hội vô cùng hạn chế, y tế công toàn dân, giáo dục công toàn dân, lương hưu, bảo hiểm thất nghiệp, chính sách hỗ trợ khó khăn… cái gì đó cũng đừng mơ tưởng, tội phạm trộm cướp lừa đảo quấy rối trật tự, buôn lậu mà lẩn trốn đi rất nhiều khi là không bắt được vì nhân lực mỏng, quản lý văn hóa xã hội lỏng lẻo còn quản lý giao thông hạ tầng, quản lý vệ sinh môi trường càng là đến khái niệm cũng không có. Tình trạng này thực tế còn duy trí đến tận thời cận đại, chỉ thay đổi vào thế kỉ 20 khi mô hình nhà nước phúc lợi trở thành tiêu chuẩn chủ lưu, quá trình đô thị hóa mạnh mẽ, dân cư thường xuyên lưu động, nhà nước phải đón lấy nhiều việc hơn, nhiều loại tiêu chuẩn quy chuẩn chi tiết sinh ra kéo theo dẫn đến xuất hiện một loạt các cơ quan kiểm định, giám định, xét nghiệm, đo lường, công chứng… sinh ra lượng giấy tờ giấy phép phải làm trong công tác hành chính cũng tăng lên một mảng lớn.
Đồng thời với đó một nguyên nhân khác khiến quan chức trong nhà nước hiện đại tăng lên có thể kể đến là chế độ thuế má của nhà nước hiện đại rất đa dạng và phức tạp từ thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài sản, thuế thừa kế, thuế xuất nhập khẩu, thuế môi trường, thuế an sinh,… và các loại lệ phí khác đánh chuẩn xác hiệu quả vào dòng tiền thu nhập của người dân, kèm theo cơ chế tính toán, hoàn thuế, miễn giảm, khấu trừ tinh vi so với chế độ thuế của nhà nước thời đại này ví dụ như thuế ruộng đầm ao, thuế bãi dâu, thuế sản vật núi rừng, thuế qua quan ải, thuế ngà voi sừng tê hương liệu, thuế gỗ và thuế hoa quả tổng cộng 6 loại của triều Lý hay như thuế ruộng thuế bãi dâu tổng cộng 2 loại của triều Trần nhà Trần Nhật Thanh thì chi li hơn quá nhiều. Cho dù đến đỉnh điểm về số lượng loại thuế của triều đại quân chủ đất Việt là nhà Nguyễn số thuế cũng chỉ có 30-40 loại mà thôi so với tiêu chuẩn hiện đại vẫn kém xa. Chính sự tăng về số lượng và mức độ phức tạp của các loại thuế cũng là một nguyên nhân dẫn đến số lượng quan chức nhà nước dâng lên bộ máy quản lý phình to ra rất nhiều.
Một yếu tố nữa càng làm hệ thống thuế cần nhiều nhân viên hơn là cơ chế thuế lũy tiến được nhà nước hiện đại áp dụng, thuế này theo lý thuyết là đánh theo tỉ lệ tăng dần người nghèo nộp ít, người giàu nộp nhiều, nhà nước có thể tối đa hóa số lượng thuế thu được cùng đảm bảo công bằng xã hội nhưng nó có lỗ hổng chí tử là người giàu có thể chia nhỏ tài sản cho người khác đứng tên, khai gian thu nhập, khai gian số liệu để né thuế mà những hành động này rất khó kiểm soát, bắt buộc nhà nước phải tăng cường số lượng nhân viên giám sát để truy thu chống trốn thuế mà hệ quả kéo theo là phải trả thêm lương, mất công đào tạo thêm nhân viên. Trần Nhật Thanh không phải không biết thuế lũy tiến ưu việt nhưng đầu tiên hắn và các thân tín đều là tầng lớp khá giả hữu sản đối với thuế lũy tiến tự nhiên là không ham thích, không đến tình thế nguy cấp mọi người chấp nhận đồng lòng hi sinh thì sẽ không thực thi, thứ hai là thu thuế kiểu này lượng công việc nhiều làm không xuể với số nhân viên hiện tại thế nên hắn mới quyết định tiếp tục tuân theo phép cổ truyền đánh thuế đồng đều, mặc dù như vậy không xét đến chất lượng đất người ruộng tốt và người ruộng xấu phải đóng như nhau, nhưng đây là có thể chấp nhận được và do không cần phân biệt ruộng công tư như trước thủ tục còn đơn giản làm nhanh hơn. Nói tóm lại bản thân Trần Nhật Thanh vẫn luôn cho rằng đối với triều đình thời đại này chính lệnh vẫn nên là càng đơn giản càng tốt mới là vương đạo, ngươi ra chính lệnh phức tạp lấy năng lực lý giải của cấp dưới khả năng rất lớn là hiểu cũng không hiểu nổi mà thi hành, đến nỗi nghĩ đến một số tiền bối xuyên không nào đó đú theo chủ nghĩa Marx với chả kinh tế “định hướng xã hội chủ nghĩa” hiện đại hắn càng là muốn cười đến rụng hết cả răng, chưa nói đến yếu tố chính trị xã hội chỉ nói riêng đến vấn đề quản lý kinh tế vị tiền bối ấy căn bản không hiểu “ định hướng xã hội chủ nghĩa” 6 chữ này có bao nhiêu hàm lượng kỹ thuật, nó đại diện cho nhà nước phải thường xuyên giám sát can thiệp điều chỉnh nền kinh tế, đối với các ngành kinh tế trọng điểm nhiều lúc còn phải trực tiếp đón lấy, điều này ắt kéo theo nhu cầu về một bộ máy nhân sự không lồ, trong bối cảnh đại đa số dân đều mù chữ, phương tiện liên lạc giao thông lạc hậu ngươi đi đâu tìm ra nhân lực biết chữ biết tính toán chính xác cho bộ máy lớn như thế, lấy ví dụ một hành động đơn giản nhất như quy định áp mức giá bán cho một hàng hóa nhất định xuống đến địa phương tin hay không người ta làm lơ, trước bán như thế nào thì vẫn là bán thế đó, xem lệnh của ngươi là đánh rắm, cuối tháng báo cáo công tác hoàn thành đem mũi ngươi dắt như dắt bò, ngươi có đủ nhân lực đi kiểm tra xác thực từng giao dịch sao, hiển nhiên là không thể nào.Nên nhớ độc tài chuyên chế chuyện lớn chuyện nhỏ đều hỏi đến, có năng lực hằng ngày làm việc siêu tiêu như Napoleon còn không thể duy trì nổi hệ thống phong tỏa lục địa chống lại sự xâm nhập của hàng hóa Anh, ở các địa phương quan chức cùng thương nhân cấu kết đồng lõa làm ngơ xem chính sách như đánh rắm mà không thể truy tra được, chưa nói đến ngươi một cái người bình thường. Muốn thi hành can thiệp giám sát trừ khi ngươi biết phép phân thân của con khỉ biến hóa ngàn vạn xuất hiện ở mọi nơi, nếu không vẫn là đừng mơ.
Hồ Hải mang chỉ dụ của Trần Nhật Thanh đến Binh bộ, Trịnh Thốn tiếp nhân chỉ dụ mở ra đọc, bất giác nở nụ cười khổ, quan gia nhà mình kì tư diệu tưởng thật là ùn ùn không dứt, từ khi đăng cơ đến nay chính sách mới liên tục ban ra, làm các bộ bận rộn không thôi. Hắn thần sắc có chút bất đắc dĩ chỉ có thể xoa trán tiếp nhận.
Nội dung chỉ dụ của Trần Nhật Thanh cũng đơn giản, không ngoài 1 điệu mà hắn vẫn làm trong giai đoạn này- sửa chế. Cụ thế theo lệnh bài thân phận được phát ra, chế độ hộ tịch đã dân bị bãi bỏ, phương pháp tuyển lính cho lộ quân theo đinh hộ “ngụ binh ư nông” cũ đã bị hắn phán định là lỗi thời không còn cơ sở vì vậy hắn hạ sắc chỉ cho Binh bộ thay thế bằng “ Trưng binh chế” – một tên gọi mà hắn lấy cho chế độ mô phỏng chế độ nghĩa vụ quân sự của mình.
Theo đó toàn bộ nam giới Đại Việt từ 16 đến 60 tuổi đều có nghĩa vụ quân sự nếu không phải trong cấm quân thì sẽ tham gia lộ quân, lộ quân sẽ tuyển mộ theo nguyên tắc tập luyện và chiến đấu luân phiên theo đó từ 16 đến 28 tuổi mỗi nam giới khỏe mạnh không tàn tật cứ 3 năm một lần sẽ phải nhập ngũ phục vụ 4 tháng trong lộ quân chia làm 2 đợt dài 2 tháng, 1 đợt huấn luyện 1 đợt làm nhiệm vụ thực chiến như diệt trộm cướp, cứu trợ thiên tai, tuần tra địa giới, canh gác các đầu mối yếu đạo giao thông cùng kho bãi cơ sở quan trọng, các hoạt động này sẽ được dẫn dắt bởi huấn luyện viên phái từ Cấm quân. Với nam giới từ 28 tuổi đến 48 tuổi là lộ quân dự bị loại 1 chu kỳ sẽ là 5 năm, nam giới từ 48 đến 60 tuổi là lộ quân dự bị loại 2 không còn cần nhập ngũ thường xuyên nữa mà chỉ bị chính triệu khi cần. Đon vị gọi nhập ngũ cũng không nhất thiết là quê quán nữa mà là bất cứ nơi nào người này đang đăng ký thường trú lâu dài, mỗi lần gọi nhập ngũ sẽ cho phép người này chủ động lựa chọn thời gian nhập ngũ trong năm qua các đợt 2 tháng để tiện sắp xếp không ảnh hưởng công việc. Toàn quốc sẽ làm sổ binh dịch thống nhất để theo dõi xem người nam giới này đã nhập ngũ phục vụ lộ quân trong chu kỳ hay chưa để tiến hành gọi lính, một khi đã làm xong người này sẽ được phát giấy chứng nhận đã phục binh dịch để xuất trình cho các địa phương khác cập nhật sổ sách tránh bị gọi lính lặp lại, một khi một người đến địa phương mới thường trú lâu dài phải đến quan phủ khai báo thông tin và đăng ký để địa phương có thể cập nhật sổ sách nếu khống sẽ xem như cư trú bất hợp pháp, quê nhà anh ta khi thấy quá chu kỳ tạm vắng, cũng không được thông báo anh ta thường trú lâu dài từ địa phương khác có thể báo lên triều đình tiến hành truy tìm trên toàn quốc, nếu quá lâu không truy tìm được tự đông coi như anh ta đã chết mà xử lý tài sản theo thủ tục thừa kế.
Song song với phương pháp tuyển lộ quân mơi thế chế tổ chức lộ quân cũng được quy định lại theo đó lộ quân các địa phương sẽ được chỉ huy bởi chức chỉ huy sứ do Binh bộ bổ nhiệm, quyền điều động thời bình được giao cho Binh bộ nhưng chỉ có thể hoạt động trong phạm vi tại chỗ trong tỉnh, một khi vượt tỉnh phải gửi yêu cầu lên Quân cơ viện xem xét phê chuẩn, trong thời chiến toàn bộ lực lượng lộ quân đều sẽ chuyển giao cho Quân cơ viện. Quân cơ viện trực tiếp điều hành Cấm quân toàn thời gian, Cấm quân không bị hạn chế bởi ranh giới địa lý, được di động luân phiên giữa các tỉnh nhưng kế hoạch điều động đơn vị vượt ranh giới tỉnh phải trình Đại Nguyên soái ở đây là Trần Nhật Thanh phê duyệt mới có thể thi hành. Chỉ dụ của từ cung Lạc Thanh làm bộ máy triều đình Đại Việt lại một lần nữa vận động, nhất là quan viên Binh bộ rất nhiều người bận rộn đến quyết định ngủ luôn tại phòng làm việc không trở về nhà. Đối với bản thân làm quan viên Binh bộ áp lưc như vậy Trần Nhật Thanh cũng là không có biện pháp gì, chỉ có thể dặn đầu bếp làm thêm thức ăn tẩm bổ đưa đến để an ủi kèm theo lời nhắn: khiến các ngươi vất vả như vậy Trẫm cũng là bất đắc dĩ, các ngươi cứ cố gắng qua được giai đoạn thiết lập này, sau này chế độ đã hoàn chỉnh sẽ không còn nhiều việc như thế nữa. Lời an ủi nói ra làm quan viên Binh bộ đều cảm động không thôi, nước măt lưng tròng nhấc lên bát cháo gá ăn sạch, mỗi người lại từ trên khay đồ ăn nhặt lên một thỏi bạc nhét vào tay áo, tiếp tục hăng hái làm việc.