Chương 71: Cải tiến nông nghiệp
Ngoại ô thành Thăng Long, trên một thửa ruộng những bông lúa chín vàng đang được thu hoạch. Khác với cách thu hoạch thường thấy của nông dân Đại Việt là dùng liềm tay cắt lấy thì trên thửa ruộng này có một cỗ xe hình dáng kỳ lạ đang không ngừng thu cắt lấy từng mảng lúa. Lúc này một người ngồi trên lưng trâu dùng cành tre nhẹ nhàng quất xuống hối thúc, con trâu bị cành tre đánh biết được ý của hắn nhẹ nhàng cất bước tiến lên kéo theo cỗ xe chầm chậm lăn bánh, trên xe một guồng thép cũng theo chuyển động của bánh xe được truyền đến qua các bánh răng không ngừng xoay tròn. Trên guồng thép được trang bị các đinh sắt nhọn không ngừng theo chuyển động xoay mà cắt đứt từng bông lúa gạt vào một máng lớn phía sau cỗ xe có một người ngồi cẩn thận dùng bồ cào cào những cây lúa trên trong máng rơi xuống ruộng. Xung quanh chiếc xe là một nhóm khoảng 4-5 người dò bước đi theo, hễ thấy bông lúa bị cào rơi xuống là chạy đến dùng dây rơm cẩn thận buộc chúng thành bó rồi chuyền tay nhau đem lên chất lên xe trâu đang ngừng trên bờ ruộng. Gặt lúa, bó lúa, vận chuyển chất lên xe, toàn bộ lưu trình như nước chảy mây trôi làm người dân cùng đứng trên bờ quan sát trầm trồ không thôi.
Lý trưởng thần sắc kinh hỉ hướng quan viên nông bộ đứng trước chắp tay tán thưởng:
-Đại nhân, chiếc xe gặt này thật là quá thần kỳ.
Quan viên nông bộ chỉ cười nhẹ không đáp, hắn xuất thân là người Thánh Hoa, nhân nông bộ tổ kiến mà trở thành thủ hạ của Lê Tòng, đối với kỳ tư diệu tưởng của quan gia nhà mình hắn đã sớm quen thuộc .Trong lòng thầm nghĩ công cụ do quan gia đích thân suy nghĩ cùng giám sát chế tạo, có thể không tốt sao, có gì để kỳ quái.
Trần Nhật Thanh căn cứ vào trí nhớ đời trước hạ lệnh các thợ thủ công mày mò chế tạo theo nguyên mẫu máy gặt của gia đình McCormick người Mỹ nhưng chỉ chỉnh sửa bộ phận gặt từ cánh quạt gỗ thành guồng sắt như máy gặt hiện đại để tăng hiệu suất và thay thế động lực từ ngựa kéo thành trâu kéo phù hợp với điều kiện ruộng bùn lúa nước ngập của Đại Việt. Đồng thời với máy gặt, các thợ thủ công cũng đồng thời dựa theo chỉ đạo của hắn đem máy gieo hạt máy tuốt đập lúa cùng máy quạt lúa cũng làm ra.
Máy gieo hạt phiên bản Đại Việt cấu tạo gồm các thùng gỗ dạng thùng rượu được nối với nhau bằng trục xuyên tâm hai đầu lắp bánh xe, trên thân thùng có 1 lỗ lớn hình chứ nhật có bản lề được khóa lại bằng chốt tre cùng một ống nhỏ kéo dài có thể mở ra bịt lại. Khi cần gieo giống thì hạt giống sẽ được đổ vào thông qua lỗ chữ nhật lớn rồi khóa lại, đầu ống nhỏ sẽ được mở ra, khi máy gieo hạt được kéo đi hạt giống sẽ theo ống nhỏ thoát ra ngoài rơi trên mặt ruộng, khoảng cách lỗ trên các thùng đảm bảo hạt giống cách đều nhau về chiều ngang, vòng quay của thùng đảm bảo hạt chỉ rơi ra khi thùng quay hết một vòng cách đều nhau về chiều dọc không cần ướm bằng mắt.
Máy tuốt đập lúa kỹ thuật cũng không có bao nhiêu phức tạp đơn giản chỉ là các trục quay bằng gang có răng, khi trục quay răng va đập vào cây lúa làm hạt thóc rơi xuống bên dưới đồng thời gạt đẩy thân lúa ra khỏi máy.
Máy quạt lúa cấu tạo cũng đơn giản không kém nó gồm một hộp gỗ kín chứa cánh quạt được quay bằng tay hạt giống được đổ vào từ trên chảy xuống dưới thông qua cơ cấu quạt quay tay, tại đâu dưới sức gió từ cánh quạt rơm trấu có vụn hạt lép được thổi bay đi, những hạt chắc mẩy được giữ lại. Nguyên bản máy này được người Trung Hoa chế tạo vào trung kỳ triều Minh có truyền sang Đại Việt vào thời nhà Lê nhưng do nông dân Đại Việt sống trong điều kiện thông tin bế tắc ít cập nhật, tập quan tư duy quen thuộc lâu đời khiến máy này không được phổ biến rộng rãi, không thể không nói thật sự là chuyện đáng tiếc.
Quan viên quay đầu lại dặn lý trưởng:
-Về gieo trồng giống lúa mới, ngươi cứ chọn ra một mẫu ruộng làm thí nghiệm gieo trồng, nếu tính chất tốt thì triển khai nhân rộng, nếu có vấn đề gì thì đến quan phủ báo lên.
Lý trưởng cung kính :
-Tiểu nhân tuân mệnh
Vốn cho rằng công nông nghiệp phải phát triển song hành, Trần Nhật Thanh ngay từ thời ở Thanh Hoa đồng thời với mở công xưởng hắn cũng mở ra một khu vườn ươm tuyển mộ nông dân có kinh nghiệm, thu thập giống cây trồng từ khắp Đại Việt về để chọn lọc giống và lai tạo. Công tác chọn lọc cũng đơn giản, liên tục gieo trồng, chọn ra các cây có đặc điểm mong muốn rồi lại nhân lên, qua nhiều thế hệ tự nhiên thu được giống tối ưu với nhu cầu. Lai tạo thì kỳ công hơn, cần cắt nhị phấn của một cây rồi thụ phấn cho nó bằng cây khác song cũng không có bao nhiêu ngạch cửa, người tinh mắt khéo tay kiên nhẫn cẩn thận một chút là có thể làm được. Biết rõ cả hai công việc của vườn ươm tuy đơn giản nhưng muốn có kết quả cần mài thời gian lâu dài nên Trần Nhật Thanh cũng không nóng lòng cầu thành, ngoài phái người giám sát đinh kỳ ra thì hoàn toàn phó mặc cho họ phát huy, đến hiện tại sau hơn 10 năm cuối cùng hắn cũng thu được thành quả mong muốn, trải qua rất nhiều lần chọn lọc và lai tạo, giống lúa nảy mầm nhanh và sinh trưởng ngắn ngày cuối cùng cũng được chọn lọc ra. Theo đó chu kỳ của giống lúa mới là xấp xỉ 100 ngày giảm 20 ngày so với giống ban đầu, thời gian nảy mầm nhanh cùng lực nảy mầm mạnh cho phép giống lúa mới có trực tiếp gieo sạ thưa bằng máy gieo hạt lên ruộng giúp tiết kiệm thời gian rút ngắn thời gian mùa vụ, tiết kiệm nhân công lao động, tiết kiệm nước tưới, hành được gieo cũng vừa đủ thưa không lo cạnh tranh dinh dưỡng so với phương pháp cấy truyền thống của Đại Việt thì ưu việt hơn đại đa số phương diện, đối với hạn chế duy nhất là cỏ dại dễ phát triển chen vào khoảng cách giữa các cây lúa thì hoàn toàn có thể giải quyết bằng nhiều biện pháp như siêng năng nhổ cỏ và điều tiết nước trong ruộng đúng mức. Chính vì những ưu điểm như vậy nên đến ở đời trước Trần Nhật Thanh sinh sống phương thức gieo trực tiếp đã hoàn toàn áp đảo phương thức cấy, trở thành phương thức được sử dụng trong đại đa số diện tích trồng lúa nước ở nước Việt nói riêng và thế giới nói chung .
Đồng thời với phổ biến máy nông nghiệp cùng giống lúa mới, Trần Nhật Thanh đem mô hình canh tác lồng ghép đời sau viết ra hạ lệnh cho quan viên nông bộ thực hiện vận động giới thiệu thí điểm cho nông dân Đại Việt. Cụ thế hắn đề ra hai mô hình gồm 2 vụ lúa- 1 vụ màu đậu nành cùng mô hình 2 vụ lúa kết hợp nuôi cá và nuôi vịt.
Đậu nành hay còn có tên gọi khác là đậu tương giống như những cây họ Đậu khác nó có một tác dụng được biết đến rộng rãi đó là tăng độ màu mỡ cho đất. Về tăng độ màu mỡ cho đất thì Trần Nhật Thanh thông qua kiến thức sinh học đời trước biết bản chất là ở vùng rễ của cây họ Đậu có những nốt sần cư trú loài một loài vi khuẩn cộng sinh, loại vi khuẩn này tiết ra một loại enzim đặc biệt có thể cố định khí Nito trong không khí thành các dạng hợp chất chứa Nito mà thường được thông dụng gọi là đạm, thế cho nên trồng đậu nành thực tế cũng tương đương gián tiếp bón phân đạm cho đất. Ngoài tác dụng làm màu mỡ đất bản thân đậu nành còn là một cây trồng có rất nhiều công dụng, trong đậu nành chứa rất nhiều protein có thể lên đến 40% thế nên loài cây này còn được xưng tụng là “thịt không xương”. Đậu nành ngoài chế biến làm thức ăn còn có thể xào chín rồi ép làm dầu thực vật thay thế dầu mỡ động vật, đây là lựa chọn tuyệt vời cho các quốc gia không có ngành chăn nuôi phát đạt. Chưa kể đậu nành sau khi ép dầu phần bã dư lại cũng không phải vô dụng, bã đậu nành có thể làm thức ăn chăn nuôi các loài gia súc gia cầm, trâu bò lợn già vịt ngựa rất tốt, vừa hợp khẩu vị vật nuôi vừa giàu dinh dưỡng. Mô hình gieo trồng 2 vụ lúa một vụ đậu nành không chỉ cải tạo đất còn có tác dụng cắt đứt chu kỳ sinh trưởng của một số loài sâu bệnh đặc hữu trên lúa chính vì thế mô hình này từng một thời trở thành mô hình gieo trồng điển hình nông dân Việt sau Đổi Mới trước khi bị cạnh tranh bởi mô hình thứ hai là lúa- cá –vịt.
Mô hình lúa-cá-vịt là một mô hình canh tác nông nghiệp dựa theo truyền thống cổ được khoa học hóa bởi các nhà nông học Trung Quốc hiện đại từ năm 1980, đến thời đại của Trần Nhật Thanh đã nổi lên như một đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ với mô hình 2 vụ lúa 1 vụ màu truyền thống. Mô hình này tận dụng diện tích ruộng lúa được gieo thưa để thả cá vào ngày 15-20 và thả vịt vào ngày 25- 30 sau khi gieo thóc. So với mô hình 2 vụ lúa và 1 vụ màu thì mô hình này không cần phải làm đất khô ráo để trồng màu nên rất ít khi cần cày xới đất, tiết kiệm sức lao động, .Cá và vịt được thả trong ruộng trong mô hình khi hoạt động sẽ ăn sâu bệnh, diệt cỏ, xới nhẹ đất, bài tiết phân giúp tăng độ màu mỡ của đất một cách tự nhiên giúp ít phải sử dụng thuốc trừ sâu cùng phân bón hóa học hơn, giá trị kinh tế của cá và vịt lại thường cao hơn là cây màu nên mô hình này đem lại giá trị kinh tế cao hơn hẳn mô hình 2 vụ lúa 1vụ màu. Tương tự mô hình lúa-cá-vịt có nhiều biến thể cũng tận dụng môi trường thủy sinh đồng nhất của ruộng lúa như lúa-cá-lươn hay lúa-cá-ếch, lúa- tôm, lúa- cua đều cho ra giá trị kinh tế cao hơn hẳn 2 lúa 1 màu. Tuy vậy những mô hình này đều có yêu cầu quan trọng gây hạn chế là phải có được nguồn tưới tiêu tốt đảm bảo môi trường nước tương đối ổn định mới có thể thi hành, nếu gặp phải đất giữ nước không tốt mùa cạn hay bị khô thì khó tiến hàn, tương tự với mô hình 2 lúa 1 màu khó tiến hành ở nơi trũng ngập nước thường xuyên. Trần Nhật Thanh biết bản thân ngồi ở kinh đô không thể trực tiếp quan sát hết toàn bộ địa phương, nếu theo ý mình cứng nhắc áp đặt một mô hình tiêu chuẩn cho tất cả tất sẽ không phù hợp, vì vậy hắn quyết định viết ra tất cả các gợi ý lệnh Nông bộ truyền xuống cho quan lại cùng dân địa phương theo tình hình mà chọn lựa, phát huy tối đa tính năng động chủ quan của chính nông dân. Kèm theo bản danh sách còn là hắn còn rất hào phóng mà vung bút lên phê chuẩn ưu đãi vay vốn lãi suất thấp từ ngân hàng hoàng gia cùng miễn thuế thêm 3 năm với các cá nhân đầu tư nếm thử mô hình canh tác mới. Chính sách này ban ra lập tức kích khởi lên tính tích cực của nông dân Đại Việt, rất nhiều người từ rụt rè lo ngại ban đầu trở nên mạnh dạn nếm thử. Nền nông nghiệp Đại Việt cũng vì thế mà bước sang một trang mới