Chương 47: Ruộng công và ruộng tư
Trần Nhật Thanh sắc mặt điềm đạm nhưng trong lòng đã không ngừng cười to, thật không uổng công Trẫm cho các ngươi ăn nhiều mồi như vậy để luyện tập phản xạ, cuối cùng cũng dụ được các ngươi sập bẫy.
Trong suốt dòng lịch sử đất Việt, thân là một quốc gia nông nghiệp vấn đề ruộng đất luôn là yếu tố quyết định to lớn đến hưng suy của các triều đại. Ruộng đất cơ bản có thể chia thành hai loại ruộng công của triều đình cùng làng xã quản lý và ruộng tư do tư nhân đứng tên sở hữu. Sự tồn tại song song của hai loại ruộng này cũng dẫn đến các chế độ thuế khác biệt ảnh hưởng sâu rộng đến điều kiện kinh tế xã hội.
Ở triều đại nhà Trần của Trần Nhật Thanh đường thời biểu thuế quy định thu tô thuế ruộng được quy định cụ thể như sau :
Với ruộng công:
+Địa tô mỗi mẫu thu 100 thăng thóc
+Thuế ruộng : với người có 1-2 mẫu đất thu 1 quan tiền, với người có 3-4 mẫu đất thu 2 quan tiền, từ 5 mẫu đất trở lên thu 3 quan tiền
Với ruộng tư :
+ Thuế ruộng mỗi mẫu thu 3 thăng thóc
Nhìn từ biểu thuế này rất dễ dàng có thể nhận ra một sự thật, tô thuế ruộng công gấp nhiều lần ruộng tư, riêng phần địa tô ruộng công đã cao gấp hơn 33 lần thuế ruộng tư, chưa kể còn phải đóng góp thêm thuế ruộng bằng tiền. So với ruộng công thuế của ruộng tư thấp đến mức gần như có thể xem nhẹ. Thuế ruộng tư được đánh thấp như vậy được các triều đại đưa ra lý do là để khuyến khích dân khai hoang, ruộng khai hoang được sẽ là ruộng tư thuộc sở hữu của dân, thuế thấp giúp dân an cư lạc nghiệp. Lý lẽ này nghe có vẻ rất hay nhưng nếu suy luận logic sẽ thấy đây bất quả là lớp vỏ che đậy bản chất ẩn phía sau mà thôi. Ai là người cày cấy ruộng công – chính là dân nghèo không có tiền mua đất, ai là người sở hữu ruộng tư- là những người có tiền mua đất hoặc có thể bỏ được công sức tiền bạc khai hoang mà có được, những người này có một tên xưng ngắn gọn- địa chủ. Chính sách thuế được thiết kế chuyên môn nhằm vào ai để bóc lột không phải đã quá rõ ràng rồi sao. Chưa hết việc tiền thuế ruộng phân bố theo biểu thuế trong chế độ thuế này chỉ cần tính toán đơn giản một chút là sẽ nhanh chóng nhận ra một sự thật, người càng được phân nhiều ruộng công thì tỉ lệ thuế phải đóng trên diện tích ruộng càng thấp. Hơn nữa hay lưu ý xem ai là người quyết định phân phối ruộng công – chính là giới cường hào lý trưởng, bọn họ sẽ phân nhiều ruộng cho người nào tự nhiên không cần phải suy nghĩ nhiều. Có thể nói chế độ thuế này thật sự đã đem nguyên tắc thuế nặng cho người nghèo, thuế nhẹ cho người giàu phát huy đến tột bậc. Để so sánh thì triều Nguyễn thường được hiện đại coi là hủ bại thuế ruộng công và ruộng tư cũng chỉ chênh nhau cao nhất là 3 lần mà thôi.
Nếu có ai thắc mắc chế độ thuế ác độc này do ai đặt ra thì câu trả lời chính là lão tổ tông của Trần Nhật Thanh- Thái Tông Trần Cảnh thiết luật vào năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 11 (1242) vào thời điểm đó một mẫu ruộng trên thị trường có thời giá là 5 quan tiền, tức là chỉ riêng phần thuế người nông dân cày cấy ruộng công đã phải nộp bằng 1/5 giá đất với người có một mẫu ruộng chưa kể phần tô. Thời đó ruộng tư thậm chí còn không cần đóng thuế, mãi đến đời Nhân Tông mới đặt lệ mỗi mẫu ruộng tư thu 3 thăng thóc. Lệ thuế này tuyệt đối có thể xưng là sưu cao thuế nặng, cực kỳ bạo chính, không thèm che dấu mà phân biệt đối xử. Nếu ngươi ở nhà Trần là nhà cường hào, hương lý, địa chủ, quý tộc dưới chế độ thuế này ngươi sẽ sống vô cùng thoải mái, còn nếu ngươi là nhà nông dân nghèo cày ruộng công chỉ được phân ít đất thì ha hả, kết quả tự biết.
Nếu có người hỏi vì sao từ đầu triều nhà Trần đã đặt ra chế độ bạo chính như vậy mà họ Trần vẫn còn duy trì được thống trị thậm chí còn đánh thắng người Mông Cổ, để đời sau tôn xưng làm Phật, Thánh thì câu trả lời là có 3 nguyên nhân:
Đầu tiên là vũ lực họ Trần hùng mạnh có thể dễ dàng đàn áp nội phản từ trong trứng nước không cho thanh quy mô có thể đưa vào sử sách
Thứ hai là trải qua chiến loạn cuối đời Lý và ba lần chiến đấu chống Nguyên Mông dân trong nước chết rất nhiều, trong quý tộc người bỏ chạy sang đầu hàng quân Nguyên cũng rất nhiều, những người này chết chết, hàng hàng, đất đai tự nhiên trống ra nhiều, phân cho người ở lại cũng được nhiều, tự nhiên quỹ ruộng công ban đầu là dư dả dân chúng vẫn có thể chấp nhận áp lực
Cuối cùng là nguyên nhân thứ 3, nhà Trần tô thuế nhà Trần chỉ đánh lên người có ruộng, tức là nếu ngươi không đóng nổi thuế nữa, ngươi có một lựa chọn đó là vứt bỏ ruộng đất, thoát khỏi làng xã, làm lưu dân lang thang tự nhiên cũng không phải chịu áp lực thuế, đây chính là kênh xả áp lực xã hội không cho bất mãn dâng cao quá mức.
Thế là nhờ có 3 nguyên nhân này mà các vua Trần đời đầu có thể xây dựng nên tô son trát phấn nên một nền “thịnh thế” với ba lần đánh bại Nguyên Mông được đưa lên tầm huyền thoại. Tuy nhiên đã là giả thì không thể là thật, cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra, theo thời gian chuyển dời sang hòa bình, dân số tăng lên cùng các quý tộc địa chủ lấn chiếm ruộng đất, lượng ruộng công ngày một ít, ruộng tư ngày một nhiều, lưu dân ngày một đông, nguồn thu thuế của triều đình họ Trần càng lúc càng bị xói mòn, đến đời Minh Tông tình trạng xã hội thực tế đã âm ỉ rung chuyển. Triều đình bắt đầu thiếu tiền thế là các chính sách như đúc tiền kẽm, sa châu tiệt cước đúng thời mà sinh, cứu cấp được cái ngân khố đáng thương của triều đình, để Minh Tông có vốn liếng tiếp tục giả bộ làm minh quân thánh chủ.
Minh Tông có thể dùng biện pháp tình thế để nhưng đến Dụ Tông thì tình hình đã nghiêm trọng thật sự là giả bộ không nổi nữa, các trò như tổ chức đánh bạc trong cung, trồng hành làm quạt đem bán, kiểm kê tài sản người chết,… cái nào không phải do bị thiếu tiền bức ra. Dụ Tông là hôn quân ăn chơi ảnh hưởng đến quốc gia là sự thật nhưng cái cục diện ”tốt đẹp” của các “ vua hiền” đời trước để lại cho hắn ảnh hưởng lớn hơn cũng là sự thật, tổ tiên bày lệ thì oai phong rồi, cục diện rối rắm con cháu lại phải đi dọn dẹp mà nỗ lực của Dụ Tông theo nguyên bản lịch sử cuối cùng đã được chứng minh là vô ích.
Vốn dĩ theo nguyên bản dòng thời gian Trần Phủ đoạt được ngai vàng, hắn vì lấy lòng vương hầu tông thất mà bãi bỏ phép sa châu tiệt cước cùng phép kiểm kê tài sản hậu quả là nguồn thu ngân sách tụt giảm không phanh, nhất là sau này Chế Bồng Nga nhiều lần xâm lấn, áp lực tài chính càng lúc càng lớn, hắn lại không dám đắc tội địa chủ quý tộc, thế là tiếp nhận kiến nghi thu thuế dung của Đỗ Tử Bình thù 3 quan tiền một đầu đinh, đánh lên cả người không có ruộng thế là vốn dĩ các lưu dân trước đây có thể lay lắt sống tạm qua ngày nay bị dồn vào đường cùng, mâu thuẫn xã hội đã không thể chịu đựng được nữa mà bùng nổ, lại còn gặp phải song trọng đả kích từ thiên tai và ngoại xâm cơ nghiệp họ Trần cũng chính thức đi vào trượt dốc kéo dài tạo cơ hội cho Lê Quý Ly nổi lên, thực sự cũng là tổ tiên gieo gió con cháu phải gặt bão, chuyện tất nhiên sẽ xảy ra.
Trần Nhật Thanh đời này thay thế Trần Phủ ngồi vào vị trí này hắn tự nhiên sẽ không ngu xuẩn đi lại vết xe đổ của Trần Phủ, tự nhiên sẽ không ngu xuẩn mà đem đao chém về phía lưu dân không đất. Tuy vậy bản thân hắn biết rõ, tăng thuế ruộng tư không dễ dàng, nếu hắn để lộ ra ý này tuyệt đối sẽ vấp phải phản đối nhất là những vương hầu tông thất họ hàng nhà mình tuyệt đối sẽ đi đầu nhảy ra, muốn tăng thuế ruộng của bọn họ gấp 33 lần, nào có dễ như vậy, hắn chỉ có thể trước ẩn giấu ý đồ chính mình, cùng Trần Quốc Chân cùng Lê Quát phối hợp diễn trò trước dùng mồi nhử làm tê liệt khiến họ mất cảnh giác mà bước vào tròng, bây giờ bá quan văn võ đã sập bẫy tán tụng chiếu thư tương đương với đồng ý nội dung, xem các người như thế nào rút lại, nghĩ đến đây lòng hắn thầm đắc ý, trong mắt hiện ra ý cười.
Bá quan cùng tông thất sau khi ngây dại đã lấy lại tinh thần, ai nấy thái độ vô cùng bối rối, lười đã nói ra rút lại không được, giờ phải làm sao, bọn họ trong lòng loạn như ma sau đó không hẹn mà nhìn về phía Trần Sư Hiền với ánh mắt chờ mong, chi nhánh nhà hắn là địa chủ lớn nhất ở đây chỉ sau quan gia, hắn hẳn là nên vì mọi người đứng ra chủ trì công đạo.
Trần Sư Hiền bị vô số ánh mắt nhìn đến mất tự nhiên khóe miệng giật giật vừa định lên tiếng thì một ánh mắt sắc bén từ phía trên ngai vàng nhìn xuống làm hắn sống lưng lạnh toát. Trần Nhật Thanh nhìn Trần Sư Hiền tươi cười nói:
-Trần phủ lệnh, trẫm thấy khanh có vẻ như có điều gì muốn nói, trẫm biết khanh là trung thần luôn vì trẫm mà tận tụy, khanh có ý kiến gì cứ việc nói đừng ngại.
Trần Sư Hiền trong lòng run lên, mô hôi lạnh không ngừng ứa ra, Trần Nhật Thanh mặc dù tươi cười nói chuyện nhưng từ ánh mắt lạnh băng của hắn, Trần Sư Hiền có thể đoán ra được nếu mình dám nói ra một tiếng phản đối, chắc chắn sẽ bị lấy tội đại bất kính khi quân phạm thượng mà chém giết tại chỗ, ai bảo hắn chính miệng vừa thế thốt phải coi mệnh vua là trên hết, làm việc không được thiên tư cơ chứ, hắn chỉ có thê run rẩy không ngừng, trái bổn ý mà nói:
-Thần thấy bệ hạ ban bố chính sách này thật là lợi nước lợi dân, là phúc của thiên hạ.
Lời vừa nói xong, Trần Sư Hiền từ ánh mắt bá quan tông thất nhìn mình biến chuyển từ mong chờ thành căm ghét đã biết được, hắn xong, hoàn toàn xong, uy vọng tổ tiên để lại lần này thất sự là trong một buổi sáng đã không còn lại gì. Người ta phụng ngươi làm chủ là muốn dựa vào ngươi để được che chở, nay ngươi không thể che chở được, làm bọn họ thất vọng, tự nhiên tình nghĩa cùng biến thành thù hằn, đây chính là mặt xấu xí đáng ghê tởm của nhân tính. Hắn thân thể xụi lơ, cảm thấy mình đột nhiên bị rút hết sức lực.
Trần Nhật Thanh thấy hắn biết điều như vậy thì nhẹ nhàng thở ra, còn tốt ngươi thức thời làm Trẫm không phải ra tay giết ngươi, mặc dù giết ngươi cũng không thể lung lay vị trí của Trẫm nhưng tóm lại vẫn là có chút ảnh hưởng đến danh tiếng hiền đức mà Trẫm khổ công xây dựng. Hắn nhìn quanh một lượt, thấy không ai dám lên tiếng liền cười nói :
-Nếu các khanh không ai có dị nghị gì thì cứ tiến hành như vậy. Triều hội hôm nay kết thúc ở đây, bãi triều.
Hắn đứng khỏi ngai vàng xoay người rời đi, các đại thần ngơ ngác không biết làm gì, ánh mắt theo bóng lưng hắn xa dần, chỉ riêng Trần Quốc Chân cùng Lê Quát dẫn theo Lê Giác đang kinh hỉ hưng phấn mà ung dung rời đi.
Chú thích :
1, Tác giả tham khảo biếu thuế từ Lịch triều hiến chương loại chí, Đại việt sử ký toàn thư và diễn giải trong cuốn đại cương lịch sử Việt Nam của nhóm tác giả do Trương Hữu Quýnh chủ biên như sau:
Mốc tô thuế quy định năm 1242 xem ra rất nặng. Theo thời giá ruộng đất thì một mẫu giá từ 5 quan đến 10 quan. Như vậy là hàng năm người nông dân phải nộp số tiền bằng 1/10 đến 1/5 mẫu ruộng ( đối với loại chỉ có 1 mẫu) và 1/10 đến 1/20 mẫu ruộng ( đối vơi loại có 2 mẫu )
2, Quy đổi 100 thăng thóc = 2 quan tiền là tác xét theo mức quy đổi thuế đời Lê sơ 100 thăng thóc= 3 quan tiền cân nhắc đến 1 quan đời Trần là 700 đồng lớn hơn 1 quan đời Lê sơ là 600 đồng, cùng tình thế khan hiếm đồng đời Trần mà định ra