Chương 45 : Muốn lập phủ lệnh
Hoạn quan giờ ra chiếu thư tiếp tục đọc :
Trẫm nghĩ: đạo trị nước quý ở thuận thời, pháp chế hay phải hợp đạo. Phàm việc lập pháp, tùy thời mà dụng; việc bỏ pháp, cũng vì thời đã khác, lòng người đã thay, hoàn cảnh đã đổi. Pháp đã lỗi thời, đã bất lợi cho nước, gây phiền hà cho dân thì há chẳng nên bãi bỏ hay sao
Xét đời trước từng đặt ra hai pháp lớn:
Một là pháp “sa châu tiệt cước” do Chiêu Từ Thái hậu đời Minh Tông Hoàng đế. đặt ra, cắt lấy đất bãi bồi ven sông thu làm công hữu, không cho chủ lập điền trang ven sông được hưởng như trước. Trẫm xét thấy các điền trang ven sông là nơi đối mặt với lũ lụt sạt lở mỗi mùa nước lên, là tuyến đầu để gìn giữ đê điều thủy lợi, các đời trước quy định phân cấp bãi bồi ý chính là để khuyến khích vậy. Từ khi phép này đặt ra, việc đê điều ngày một lơi lỏng, lũ sông thường xuyên xâm hại, tệ đoan của phép này đã rõ, Trẫm xét thấy pháp này cần thiết bỏ.
Hai là lệnh “ kiểm kê tài sản” đời Dụ Tông Hoàng đế thiết lập, mỗi khi có người qua đời thì quan lại địa phương vào kiểm đếm, định loại tài vật, vốn bản ý là tránh giấu của bất nghĩa, bảo hộ quyền thừa kế cho người sống, nhưng bị bọn tiểu nhân lợi dụng mà xâm đoạt của cải tang gia, cướp lấy tài vật quý giá.
Trẫm từng nghe lẽ ở đời : người chết cần được yên nghỉ, người sống cần được yên tâm. Mà nay người mất chưa lạnh mà đã bị cướp đoạt gia tài, con cháu lo sợ, người chết không yên, lễ nghĩa luân thường bị đảo lộn. Pháp hà khắc như vậy há không phải nên trừ bỏ để yên lòng người sao ?
Nay trẫm nối nghiệp tổ tiên, lại xét thực trạng thiên hạ, ban chiếu này, tuyên bố :
Bãi pháp “ sa châu tiệt cước” phàm đất bồi mới ven sông, nếu sát ruộng ai, thì thuộc quyền canh tác của người ấy. Các thửa bị thu công không dùng vào việc công, mà bỏ hoang hoặc lạm chia, phải trả lại người cũ nếu có bằng cứ. Quan địa phương phải cắm mốc xác định bờ bãi mỗi mùa nước rút, không được để tranh chấp sinh ra kiện tụng.
Bãi lệnh “kiểm kê tài sản “ từ mọi việc tang chế, tài sản của người quá cố do thân tộc tự xử, không được phép nha lại xâm nhập kiểm kê. Nếu có nghi án mưu sự bất chính, thì phải do có khởi tố rõ ràng, không được mượn cớ kiểm kê vô lối.
Người nào lén lút vin vào luật cũ để sách nhiễu dân, xử theo tội tham ô lạm quyền. Trẫm muốn trị quốc bằng lễ, lấy nhân làm gốc, luật pháp không cốt để nghiêm mà cốt để giữ lòng người. Nay chiếu cáo thiên hạ, các nha môn và địa phương sở tại nghiêm cẩn thi hành, không được trì trệ hay che giấu.
Khâm thử ! “
Hoạn quan vừa đọc dứt tiếng tán tụng như không ngừng vang lên, trong hàng bá quan ai nấy đều mặt mũi hớn hở, đặc biệt các vương hầu tông thất đều không hề giấu nổi vẻ mừng rỡ như điên. Bọn họ vốn dĩ với hai pháp lệnh này bất mãn đã lâu, đầu tiên là pháp “ sa châu tiệt cước “ cắt mất đi những vùng đất bãi bồi màu mỡ mà họ thân với cương vị chủ điền trang ven sông vốn được hưởng, sau là lệnh kiểm kê tài sản cướp đoạt vật quý của người chết càng khiến lòng người phẫn nộ, mặc dù số ít vương hầu quý tộc, công khanh đại thần đỉnh cấp có thể lợi dụng quyền lực mà né tránh nhưng đa số các trung tiểu quý tộc cùng địa chủ đều không đủ sức né tránh. Trần Nhật Thanh một chiếu này ban ra, tiếng hô “Bệ hạ thánh minh” so với trước đây sống sờ sờ lớn thêm mấy phần, lúc này không ai thèm để ý đến Lê Giác mặt đen như đáy nồi, thần sắc càng lúc càng không tốt.
Hoạn quan lại tiếp tục tuyên đọc :
“Hạo thiên thành mệnh, hoàng đế chiếu viết
Trẫm nghĩ: nước có phép, dân có kỷ, pháp chế phải phân minh thì lòng người mới yên ổn. Kinh sư là nơi tể hội trăm quan, đất trọng yếu của triều đình, việc kiện tụng tranh đoạt không ít; lại thêm nhiều gia thất quyền quý, quan lại cao phẩm cư trú nơi đây — nếu để lẫn lộn xử lý như các tỉnh phủ, e khó giữ đúng tôn nghiêm; mà nếu bỏ lỡ không phân xét tường tận, lại sinh bất bình.
Từ trước, việc xét kiện cáo tại kinh đều quy về Kinh triệu doãn, song doãn phủ hiện kiêm quản quá nhiều sự vụ thật là lực bất tòng tâm, việc không tránh khỏi sơ lược. Vì lẽ ấy, nay trẫm đặc biệt thiết lập chức quan mới, gọi là Phủ Lệnh, đặt tại kinh thành, chuyên trách xử lý các việc tranh tụng, kiện cáo, tranh đoạt, thỉnh cầu oan khuất, để nhẹ phần việc cho Kinh triệu doãn, đồng thời phân minh pháp lý tại kinh sư:
Phủ Lệnh có quyền:
Thụ lý các vụ kiện trong kinh sư, bao gồm dân thường, nha lại, và cả những vụ liên quan đến các viên quan nhị phẩm trở xuống cư trú tại kinh;
Xét xử sơ thẩm các vụ án liên quan đến gia thất quan lại, hoàng thân quốc thích, khi xét thấy không tiện giao về Hình bộ như lệ thường; Tâu trình lên Trẫm những đại án nghiêm trọng, đặc biệt liên quan đến các bậc quyền quý thượng phẩm, để trẫm đích thân phán quyết.
Phàm các quan lại trong kinh, dẫu quyền cao chức trọng, cũng không được lấy cớ phẩm trật cao mà thoái thác xét xử trước Phủ Lệnh. Trẫm lập chứuc này, là để giữ công bằng giữa chốn đô thành, khiến người quyền quý cũng có nơi kêu oan, kẻ nghèo hèn cũng có chốn giãi bày.
Lại truyền: Phủ Lệnh được đặt ngay trong thành nội, lập nha môn riêng, có ấn tín và công bộ cấp dưỡng lương bổng. Chiếu này ban ra, từ nay kinh đô có thêm một đường pháp lý vững bền, chia việc rành mạch, phân xử thấu tình, vừa giữ phép nước, vừa thấu tình người. Đó cũng là thể hiện đạo trị nước công bằng, không thiên vị, không lạm quyền vậy
Khâm thử !”
Bệ hạ thánh minh ! Lê Quát lại đứng ra lôi theo một làn sóng lớn hô vang.
Miễn lễ ! Trần Nhật Thanh lại phất tay ra hiệu. Các quan lại lục tục đứng lên. Lê Quát lúc này mới chắp tay tâu trình :
-Muôn tâu bệ hạ, bệ hạ thiết lập chức này thật là phải lắm, nhưng thần xét thấy chức Phủ lệnh vị trí trọng yếu, thống quản việc kiện cáo của kinh sư là nơi đại quân quý nhân tụ tập, nhân tuyển phải được lựa chọn kỹ càng, tuyệt không thể lơ là sơ suất.
Trần Nhật Thanh mới gật đầu nói :
-Lời của khanh nói thật phải lắm.
Đến đây hắn ánh mắt lướt qua các quan mở miệng dò hỏi :
-Đối với vị trí Phủ lệnh Trẫm vẫn chưa có nhân tuyển thích hợp, các khanh thấy người nào phù hợp thì có thể đề cử.
Bá quan im lặng một lúc, chợt Trần Quốc Chân đứng ra nói:
-Muôn tâu bệ hạ, thần có một nhân tuyển muốn đề cử cho vị trí Phủ lệnh
Trần Nhật Thanh mặt lộ ra nụ cười nói :
-Thái sư xin cứ nói.
Trần Quốc Chân điềm đạm nói:
-Muôn tâu bệ hạ, thần xét thấy chức Phủ lệnh cần có uy vọng lớn được người kính phục có vậy việc phân xử mới được tâm phục khẩu phục. Nay có Hưng Chính quốc thượng hầu là người nổi danh, uy vọng lớn trong tông thất, có thể đảm nhận chức ấy.
Lúc này trong hàng, Hưng Chính quốc thượng hầu Trần Sư Hiền nghe được Trần Quốc Chân đề cử mình, lập tức kinh hỉ, đầu tới ánh mắt cảm kích. Trần Sư Hiền là người lèo lái chủ chốt đường thời của nhánh hậu duệ An Sinh Vương Trần Liễu cùng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, dù vậy cho đến nay trong triều vẫn không có chức vụ gì, chỉ có thể ở nhà ngồi không, buổi triều này nếu không phải triều đinh cần tuyên bố chính sách rộng rãi, Trần Nhật Thanh phá lệ triệu gọi tới thì hắn cũng không có tư cách tham gia.
Địa vị của nhánh An Sinh Vương trong triều đại nhà Trần vẫn luôn vô cùng xấu hổ, mọi chuyện bắt nguồn từ giai đoạn chuyển giao Lý Trần mà khởi lên. Dưới triều Lý Huệ Tông Lý Hạo Sảm họ Trần thông qua chinh phạt đánh bại các thế lực quân phiệt các nơi mà dần khống chế triều chính, quyền hành ngày một lớn, các nhân vật chủ chốt trong họ Trần bắt đầu tính đến chuyện làm việc thay triều đổi đại. Thế là thân làm con trưởng đích dòng của họ Trần, Trần Liễu rất tự nhiên thành ứng cử viên hàng đầu, được sắp xếp kết hôn với trưởng công chúa Thuận Thiên Lý Ngọc Oanh của Lý Huệ Tông với ý đồ rằng chỉ cần chờ con của hai người sinh ra có thể thuận thế ép hắn nhường ngôi cho con gái hoặc cháu ngoại, vì Lý Hạo Sảm không có con trai, hai bên đều là con trưởng dòng họ, có thể danh chính ngôn thuận kế thừa mà không có nhiều trở ngại.
Nhưng Lý Hạo Sảm cũng không phải kẻ chỉ biết khoanh tay chịu trói, hắn trước đó cũng từng muốn dựa vào các quân phiệt khác để cân bằng thế lực họ Trần, ai ngờ bọn chúng đánh trận quá mức phế sài hoàn toàn không phải đối thủ của họ Trần, thời thế ép buộc hắn chỉ có thể chấp nhận hoàn toàn bị khống chế. Tuy vậy tuy trong lòng biết cơ nghiệp họ Lý đã không thể cứu vãn, sớm muộn cũng rơi vào tay họ Trần nhưng bản thân hắn không cam tâm tuân theo sắp đặt, hắn muốn họ Trần có đoạt được thiên hạ cũng không thể suôn sẻ như kế hoạch, cũng phải lưu lại trả giá. Và thế là Lý Hạo Sảm đã nghĩ đến một phương pháp phá rối, đầu tiên hắn tỏ ý muốn nhường ngôi cho con thứ của Trần Thừa là Trần Cảnh, bỏ qua nhân tuyển họ Trần sắp đặt là Trần Liễu, Trần Thừa thông qua suy xét trước sau biết được cho Trần Cảnh nhận ngôi ắt sẽ có nguy cơ gây rạn nứt giữa anh em họ Trần về sau, với lại kế hoạch đoạt ngôi êm ả cũng đã sắp đắt từ đầu, chỉ chờ thời cơ đến, không cần phải nóng vội, mới ra mặt khước từ. Lý Hạo Sảm biết Trần Thừa không mắc mưu, thế là dứt khoát ban chiếu nhường ngôi cho con gái thứ Lý Thiên Hinh, hoàn toàn làm kế hoạch của họ Trần bị rối loạn, thế là cuối cùng mới dẫn đến sự kiện Trần Cảnh được ngôi sau này.
Lý Hạo Sảm tuy không thể ngăn được họ Lý mất đi cơ đồ nhưng lại thành công trong việc để lại mầm mống chia rẽ giữa hai anh em Trần Liễu Trần Cảnh, sau này vì Lý Thiên Hinh chậm chạp không thể vì họ Trần sinh ra con lai hai họ khiến người lèo lái họ Trần lúc đó là Trần Thủ Độ không thể nhẫn nại được nữa, Lý Ngọc Oanh người đã chứng minh được khả năng được con lai hai họ qua việc sinh cho Trần Liễu con chung là Trần Doãn lại đang mang thai trở thành ứng cử viên được nhắm đến để thay thế. Thế là Lý Ngọc Oanh được Trần Thủ Độ sắp xếp trở thành hoàng hậu của Trần Cảnh, Trần Liễu vốn có hiềm khích vì mất đi cơ hội làm Hoàng đế nay lại gặp nỗi nhục cướp vợ mới dựng cờ tạo phản, anh em họ Trần chính thức xé rách mặt. Tuy cuối cùng nổi loạn thất bại, anh em giải hòa nhưng trong thâm tâm Trần Liễu vẫn luôn nhận định ngôi vị Hoàng đế lẽ ra phải thuộc về mình, dặn dò các con phải lật đổ dòng Trần Cảnh. Hai con của Trần Liễu với thiếp thất là Trần Tung và Trần Quốc Tuấn không nghe lời, duy chỉ có Vũ Thành vương Trần Doãn là con Lý Ngọc Oanh là nuôi tham vọng dựa vào mẹ mình là Hoàng hậu mà phát triển thế lực. Tuy nhiên kế hoạch chưa thành thì Lý Ngọc Oanh đã qua đời, Trần Doãn thất thế sợ hãi muốn lẩn trốn sang Tống nhưng bị bắt lại. Trải qua sự kiện này dòng Trần Cảnh cũng đề cao cảnh giác với dòng Trần Liễu, hiềm khích hai bên càng sâu thêm dẫn đến mặc dù dòng Trần Cảnh cần dựa vào tài năng quân sự của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn để chống lại quân Nguyên nhưng bản chất trong thâm tâm vẫn luôn đề phòng cảnh giác, chỉ cần nhìn thấy Hưng Đạo Vương cầm gậy đầu bịt sắt nhọn lòng nghi ngại đã nổi lên. Cuối cùng trải qua nhiều nghi kỵ hai dòng mới đạt được thỏa thuận giải hòa theo đó dòng Trần Liễu sẽ được giữ vị trí hoàng hậu, hậu duệ hai dòng sẽ cùng nhau cộng trị thiên hạ để đảm bảo hòa thuận dài lâu.
Tuy vậy, trời luôn là không chiều lòng người, ý người có lớn cũng không thể chống nổi sự thật khách quan, việc hai dòng gần nhau lại cận huyết liên tục khiến hậu duệ dòng đích kết hợp về sau càng ngày càng yếu ớt, đến đời Anh Tông thì hoàn toàn đoạn tuyệt, ngai vàng rơi vào tay con thứ là Minh Tông. Minh Tông thân là con thứ không có liên kết với dòng Trần Liễu, tự nhiên thế lực của dòng Trần Liễu từ Minh Tông trở đi dần dần bị cố ý vô tình mà giảm bớt, truyền đến đời Trần Sư Hiền hiện tại đã bị loại khỏi trung tâm quyền lực, uổng có uy vọng cùng gia sản lớn nhưng lại không được giữ chức vụ trong triều, nên bây giờ Trần Quốc Chân đứng ra tiến cử hắn làm Phủ lệnh chẳng khác nào đưa than ngày tuyết, nắng hạn gặp mưa rào, làm hắn trong thâm tâm thầm cảm động không thôi.
Chú thích: Trên đây là đoạn suy luận cá nhân của tác giả dựa trên dữ kiện lịch sử mang tính giả thuyết phục vụ cho thiết lập của truyện, không chắc chắn là sự thật.
Dữ kiện trong Đại Việt sử ký toàn thư :
*Mùa thu, tháng 7, Vũ Thành Vương Doãn đem cả nhà trốn sang nước Tống. Thổ quan Tư Minh là Hoàng Bính bắt lại đưa trả cho ta.
(Doãn là con An Sinh Vương do Hiển Từ sinh. Yên Sinh có hiềm khích với vua, đến khi Hiển Từ mất, bị thất thế, nên trốn sang nước Tống). Vua thưởng vàng lụa cho Bính ). Do đấy việc giữ phòng quan ải càng thêm nghiêm ngặt.
*Lúc ấy, xa giá nhà vua phiêu giạt, mà Quốc Tuấn vốn có kỳ tài, lại còn mối hiềm cũ của An Sinh Vương, nên có nhiều người nghi ngại. Quốc Tuấn theo vua, tay cầm chiếc gậy có bịt sắt nhọn. Mọi người đều gườm mắt nhìn. Quốc Tuấn liền rút đầu sắt nhọn vứt đi chỉ chống gậy không mà đi, còn nhiều việc đại loại như thế.