Chương 88 : Khan thư (Hậu sự)
Vất vả lắm mới đem vứt tên ấy vào trong kho mà nằm, hơi thở còn có nhưng yếu ớt đi, đoán chừng là do quá sức trong khi đang bị thương mà ngất. Ngọc Cơ rửa mặt rồi lại vào xem sách vở tiếp, đọc cũng chẳng mấy là chán, đa thư chân quý ấy thực đúng khi trò chơi chẳng có gì mấy…
Kêu lính vào, treo một cái quạt hình chữ nhật theo chiều ngang bên cạnh cửa sổ, đầu thì nối dây, ngoài lính kéo thả liên tục mà tạo lực đập cho quạt. Ấy là cách người thời xưa dùng quạt, dẫu trời trời hơi mưa lạnh nhưng quạt thì chỉ thêm gió mát, chứ chưa lạnh toàn bộ.
Sách “Việt Nam quốc sử toàn lục 越南國史全錄” này nhiều phần là ghi chép tham khảo từ “Đại Việt sử ký toàn thư 大越史記全書” nhưng văn phong lề lối khác, nhiều ý trung lập, giở ra thì vớ ngay phần cuối của Âu Việt mà đọc qua :
“An Dương Vương thất bại vong quốc thì nhiều chuyện, giả việc dễ hòa hoãn với giặc, không đề phòng người ngoài trong nước, nhưng cũng phải trách Mỵ Châu vài phần vì tội phản quốc. Song, Mỵ Châu và Triệu Trọng Thủy vốn không yêu nhau, Mỵ Châu lại hay chung thủy và thương chồng, tin tưởng chồng mà lỡ vận bán nước.
Trọng trách của hoàng thất rất lớn, nước mất nhà tan vì nàng mà hóa thực. Bất quá khó trách được, vì cốt vẫn là An Dương Vương cậy Kim Quy giúp đỡ mà lơ là, trọng việc thủ thành chứ không phản công. Tự trước tới giờ bất kể chuyện chi muốn thành công thì phải do sức người cùng cực gây dựng nên, chớ nghĩ được thần linh giúp mà dương oai diễu võ.
Từng nghe lời thơ : “Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu/ Trái tim lầm chỗ để trên đầu/ Nỏ thần vô ý trao tay giặc/ Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu.” ấy lại còn nghe : “Cha ơi cha chọn rể/ Cha đắp lũy xây thành/ Mà sao khi nước mất/ Cha xử con tội hình.”. Ấy mà nhớ việc coi sử phải đa chiều, không nên chửi bớt một cá nhân nào cả, mỗi người đều có cái khổ và cực riêng. […]
Mỗi triều lại có mỗi việc ác độc, nhơn quả ắt tự kiếm tới mà xử. Như Lê Ngọa Triều tức Lê Long Đĩnh 黎龍鋌 cầm đao cưỡi ngựa chinh chiến dẹp loạn, ấy mà bảo có bệnh trĩ mà thiết triều phải nằm là cớ gì? Ngài còn chủ động viết thư xin mở cửa thông thương Bắc – Nam, xin kinh Phật về cho dân đọc mà sao lại chẻ mía trên đầu nhà sư được?
Tất cả là do hệ thống sư lấn vào trong triều, vua bị hại mà tức chết. Có sách chép là bị đầu độc, rút ra là không được để các thế lực tôn giáo lấn sâu vào triều chánh được. Lý Công Uẩn lên ngôi dời từ Hoa Lư là chốn nhiều kẻ Lê Long mà về Thăng Long vốn gần Đình Bảng, để đúng chỗ nhiều phe phái của bản thân.
Lại xét vì sao mà họ Lê Long còn nhiều người mà toàn quần thần lại bầu Lý Công Uẩn lên? Nói tiếp Lê Long Đĩnh bị nói là loại vô đạo bất lương, nhưng thấy Lý Công Uẩn khóc lóc trước xác vua anh thì ban thưởng mà khen trung tín, người như ấy khó là loại vô đạo bất lương được!
Là quốc sử sau chép làm xấu đi hình ảnh của Lê Long Đĩnh, tôn cao hình ảnh của Lý Công Uẩn lên… […]
Sau này, họ Lý bị họ Trần tạo điều mà diệt trừ, tới mức Trần Thủ Độ 陳守度 lập kế đào sẵn hố mà giết gần hết họ Lý, gặp qua Lý Huệ Tông mà đáp : “Nhổ cỏ thì phải nhổ tận gốc” đương lúc Huệ Tông đi tu đang nhổ cỏ, biết điều mà tự treo cổ tự vẫn. Lại sai lôi đâu tục kỵ húy từ Hoa Hạ xuống mà lý Trần Lý là ông của Trần Thái Tông, ép bắt họ Lý sang họ Nguyễn…
[…] Dân Nam Hà thường chửi bới Bắc Hà, coi là giặc. Nhưng xin nhớ dân ta phần lớn từ Bắc Hà di cư vào, thêm thơ như sau : “Ai về xứ Bắc ta đi với/ Thăm lại non sống giống Lạc Hồng/ Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” qua ấy nhớ rõ cội nguồn dân tộc, nhớ được điều ấy mà tránh phân nhau man di.
Thời thế đều từ ấy mà ra, như theo Ô Châu Cận Lục 烏州近錄 của Dương Văn An 楊文安 người phủ Tân Bình, thượng thư bộ lại thời nhà Mạc, biểu tự Tĩnh Phủ 靜甫 ghi chép về quê hương Thuận Hóa có chép như sau : “Thời Lê Thánh Tông, có người Thuận Hóa chân đất lấm lem bộ vào Đông Kinh, tới nơi bị lính chặn cổng không cho vô, gặp ngay Triệu Vương Lê Thoan có mẹ người Thuận Hóa bắt gặp mà chém đầu ngay tại chỗ.”
Tuy việc chém đầu thì hơi quá, nhưng chung quy thời nào cũng không được phân biệt vùng miền nhau. Nhớ lấy mà thấy Bắc Nam vốn chung một nhà, giang sơn Nam Quốc tự thuở Lạc Hồng tới giờ nhỏ đi nhiêu phần thì phải lo mà giữ, không nên tự xé xác nhau ra. […]
[…] Xét sách tập 3 này chỉ có 98 trang, chuyện sử kể không hết, tham khảo từ đủ loại sách mà ghi chép. Muốn bảo tồn, phát huy tinh thần yêu nước, đạo nghĩa hiếu của dân Nam, sách này đọc xong nên bảo quản mà giữ cho đời sau học. Ngày Mậu Tuất (17) tháng Kỷ Tỵ (5) năm Giáp Thân (1764) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 24, tự Nữ Như tại Thanh Hà ký tả.”
Cảnh Hưng là niên hiệu của Lê Duy Diêu 黎維祧 tức Lê Hiển Tông 黎顯宗 khi lên ngôi năm Canh Thân 1740, chúa Nguyễn tuy xưng Vương nhưng vẫn vẫn nhận họ Lê Duy làm Hoàng đế, văn bản đều phải chép theo niên hiệu nhà Lê là cớ ấy.
Thực mấy chuyện kể suy xét này vui thật… Đương lúc ấy Ngọc Yến mơ mơ màng màng tỉnh dậy từ đống hàng châu báu trong kho, hắn dậy thấy người ướt như chuột lột rồi đứng dạy đau đầu, thở dốc vài phân. Như tức bỏ gì đó, hắn mở cửa thấy không được liền một cước bay cả cửa ra, dính trúng tên lính đang kéo quạt mà quạt rơi xuống dưới đất.
Đặt sách xuống, không bực tức mà… Nhẹ nhàng khinh không một phát tới rồi bóp chặt cổ Ngọc Yến, nhưng nhanh qua một chặt bay tay của cô ra. Xoàng cả người mà ngã ngay vào người đối phương, bất chợt may mà đỡ kịp không thì khó xử. Thấy cần về nhà nghỉ ngơi thêm, hắn chống cự mà nói đi mấy lời :
– Bổn thần hạ lỗ mãng, đương cảnh mệt mỏi xin về trước ạ.
Cũng chẳng nói gì tiếp mà mặc mưa đi về, đối phương cũng không cản…
…
Hắn đi bộ về phủ thẳng tiến, sai lính bảo bọn kia tự học mà nằm trong giường đắp chăn. Đệm bằng là loại đệm đan bằng lá cây của làng Phò Trạch mà nằm lên, chăn không phải bông mà là cỏ đan của làng Bao La mà đắp. Người nóng ran, đầu óc quay cuồng như này chỉ có sốt mà thôi.
Việc nay mai bỏ đi không làm, mấy tên vào làm việc cũng xin bệnh mà thỉnh việc về. Công vụ việc xét duyệt cũng chẳng làm, sợ quá nên lại phải lò mò dậy mà viết xét duyệt qua… Chẳng may rồi hắn lại sợ đột quỵ, nên tạm nằm tiếp.
Phía bên kia, đọc sách hồi thì lại quay sang bên kêu lính coi đồng hồ với ngày tháng.
Vì sao gọi là “Đồng Hồ”? Đồng hồ 銅壺 tức là cái hồ bằng đồng, ngươi ta làm một cái chậu cao rồi bỏ nước vào, dưới đục lỗ nhỏ thoát nước, trong có cột nấc chỉ giờ. Thường có một cơ chế đòn bẩy, khi thau đựng dưới đầy thì tự động hất lên lại mà tính lại từ đầu.
Tuy nhiên chỉ quý tộc mới dùng ba cái đồ này, ngay cả việc làm bằng đồng ở chốn Nam Hà thì chứng tỏ cũng rất sang rồi.
Chặp rồi cũng sắp qua mùa Tết, thường chúa Nguyễn tự ý làm lễ Nam Giao từ thời Vũ Vương. Duy trì mà cứ gần Tết là lại làm mà cúng tế trời đất ở phủ Dương Xuân.
Đây là nóng lòng cho mau hết cảnh mưa gió bão bùng, ở vài nơi nước lũ tràn xuống rồi, người dân nhiều người mất trâu bò hàng hoá thì không nói. Ở Thanh Hà hưởng lợi vì chợ nổi thành cái hay lúc này, nhưng không thể người khổ người may được, ấy cũng đau lòng.
…Trở về Ngọc Yến, mơ màng trong chính cơn mơ, hắn lại thấy những kẻ mà hắn từng giết qua, thương tổn qua. Đầu tiên là Ngọc Cơ bóp cổ hắn mà không nói lời nào, sau lại bị đâm cào bởi Diệu Quân, trong cơn mơ còn nghe tiếng Diệu Quân chửi hắn ngu dốt vì dễ tha cho một kẻ như cô…
Đâu còn bà cụ sát thủ mà hắn đã quên tên, bà ta chê trách hắn sao lại đánh đàn bà phụ nữ? Cười chê hắn, nhưng ấy hắn vẫn cho là mình đúng vì không chết Diệu Quân vì cô là nhân thường, chết bà ta là do tính khí độc ác!
Đâu ra lại con hổ gầm gừ, lại Quý Trạch trách móc mà chửi rủa hắn bạc tình như nào? Dẫu biết là mơ nhưng cảm giác giằng xé hơn cả lúc bị Lạc Long Quân khảo nghiệm.
Để rồi, hắn cúi gằm mặt mà nghe tiếng chửi bới trong lòng, chửi bới của xung quanh… Chợt rồi những thứ ngôn ngữ thiếu ý tứ ấy dần nhỏ đi, ngước đầu lên, hắn thấy ngay chính bản thân mình đang đứng phía trước. Tên kia lấy tay lôi hắn dậy, phủi phủi đi mà lên tiếng :
– Thanh Hưng! Nhà ngươi phải nhớ rõ mình là ai chứ? Nhớ cho kỹ lại những điều đáng đi! Đừng có cố chấp giữa những dòng thời gian nữa!
Chợt rồi tan đi, hắn lại ôm trán mà nghĩ suy lại những vấn đề mà trước mình từng nghĩ qua. Phải chăng lần này mê sảng quá hay sao rồi? Lại thấy ngay trước mắt… Thực Nguyệt đao?
Tới gần cầm lên, bỗng đầu hắn biết thêm vài điều : sắt là kim loại nhanh chóng bị rỉ sét và hóa đi, đồ sắt có thể tồn tại trước đồ đồng hoặc thậm chí là cùng thời… Ban đầu dân ta làm nông thì chủ yếu ở vùng trung du, đất cứng thì phải cấy cày vào lúc khô, muốn thế thì phải có công cụ bằng sắt!
Cớ ấy mà Cao Hậu khi đánh chiếm và phá hoại Nam Việt, bà ta đã có chính sách cấm vận sắt để phá hoại nền kinh tế người Bách Việt, làm nguồn sắt khan hiếm nên khó duy trì nông cụ… Như được ngộ thêm vài điều, hắn thực ngu ngốc khi nghĩ rằng thời kỳ đồ đồng rồi mới tới đồ sắt theo sách hay dạy.