Chương 87 : Khan thư (Tiền sự)
… Đọc sách hồi, ngang tầm hơn 11 giờ mà chỉ còn hắn là tỉnh táo, ngồi vừa đọc vừa ghi. Đối phương thì hơi buồn ngủ rồi, vốn định đợi tên này ngủ quên, ai ngờ vốn Ngọc Yến thức khuya viết sách đã lâu, chuyện này là thường.
Không khí ngột ngạt, với nhau một hồi thì Ngọc Cơ mới mở lời mà đuổi hắn đi :
– Nhà ngươi đọc sách lâu rứa? Mãi không về phủ mà ngủ đi? Ta biết chừ ngươi ham mê mà viết sách dạy dân, chép sử… mà…
Nói mà mệt người nên không tiếp được nữa. Hắn thấy sự ấy mới gấp sách lại, dẫu sao mấy tiếng ghi chép soạn thêm mà mai đi in là được rồi. Nhìn qua thấy cô đang đọc “Vạn Hoa lục 萬花錄” tức sách về vạn hoa, đây là bản sách mới của Edmund và hắn đi khắp nơi chép lại đặc điểm, trồng gieo của đủ loại cây.
Ban đầu làm vậy là để truyền bá cách trồng lương thực mới tới người Thanh Hà, nhiều người mới làm nông không có kiến thức nên mùa vụ thất bát, làm sách với chữ dễ đọc là để đưa kiến thức cơ bản tới họ.
Ngọc Cơ đây muốn coi thử như nào, nào biết tên này vẽ luôn cả hoa hoè vào thực. Sách thời này chỉ có nói mà không có hình ảnh, thường có thì là sách cúng rồi. Người ta cho là chữ Hán biểu rõ hết ý nên nhác vẽ vời, cứ nghĩ vẽ biểu cho kẻ ít học.
– Hầy… rứa cáo tứ công nữ, tránh làm phiền hà. Bổn thần hạ vốn quen thức đêm ghi sách, chẳng chi mô người lo.
Nói cái cúi đầu xin về, mở cửa mà đi ra. Ngước lên trên trời đầy mưa rơi, ngắm nhìn từng hạt mưa thì chợt lại chảy nước mắt. Tim đập loạn hồi, ấy là do căn bệnh tim lại bùng lên.
Người bị tim bẩm sinh thường có những lúc nhạy cảm, cảm xúc bộc phát, sợ hãi trước những điều nhỏ nhất. Hắn chỉ là sợ đâu vài việc mình lại như những vì sao, nhỏ nhoi lé sáng rồi tan biến dần.
Do sợ hãi, mà nhớ lại những thứ của Đồ Cơ với các vị thần nói chuyện với hắn. Không biết hắn cứ le lói thế rồi cũng chịu thua trước sự hiệp nhất của thế giới này với thế giới của hắn không…? Mệt mỏi… hắn chợt thấy mắt mũi mờ đi rồi lịm dần.
…
Chữ Hán đọc dễ hơn chữ Nôm, nhưng văn phong rườm rà không thuận mồm. Ngọc Cơ vốn đã không ưa việc ấy, phiên âm tự giải quyết vấn đề đó, nhưng nhiều chỗ không rõ được ý tứ ra như chữ Hán, bất quá thì vì Quốc Âm cũng ít từ đồng âm suy thì tạm cho qua. Sách vở mấy tháng trở lại với cái chữ di này chủ yếu làm ra để dạy trẻ con, người dân thường chỉ để truyền bá những điều mà tên Thanh Hà quận công muốn dân học.
Đủ thứ, trước là Thanh Hà công đây hay ngao du đi tuần, rèn rồi luyện thân. Nay từ dạo truy bắt thì ngồi ở nhà là chủ yếu, từ viết sách vui vui như Tân Thực Phổ Bách Thiên sang viết học bá hơn.
Sách viết thì rất nhiều, gần nửa năm viết hơn chục sách, tham khảo nhiều nguồn. Âu cũng vì sách bào cũng chưa tới trăm trang, nhiều sách là mượn chép lại theo lối mới của chính hắn. Ít ra thì ngữ ngôn ngắn chỉnh, tranh ảnh thay phần.
Buồn ngủ rồi thì cũng không nên đọc gì nặng đô quá, bốc tạm cuốn “Lương Nông lục 糧農錄” mà đọc tạm, để coi người nông dân ngày đêm bán lưng cho trời làm cái gì?
“Thiết nghĩ : trời đất sanh ra con người thì phải cho con người cái để sống, cho giang sơn để con người bám lấy mà làm theo ý mình. Ở phương Bắc xa xưa có sách Tề Dân yếu thuật dạy người ta cách làm nông, nghĩ lại nước Nam thổ nhưỡng, giang sơn, nhơn tài khác đất Bắc, không có cớ chi mà mãi không có sách chép lại việc làm nông, truyền dạy cho con cháu sau này? […]
Vốn nhiều nơi là rừng và đầm lầy, sình bên các dòng sông. Muốn khai khẩn dân ta thường đốt rẫy để kiếm đất làm nông, song việc ấy nên cấm tiệt ở vùng cao và vùng thượng nguồn các con sông, nông nghiệp nước ta vốn nhỏ nên dân thường chẳng màng chuyện ấy, lũ lụt từ thượng nguồn xuống không có cây chắn thì lụt xuống đồng bình (bằng) lấy trâu bò với hàng hóa trôi vãi làm vui.
Ấy nhưng hậu quả sau này dẫn việc ruộng lúa phì nhiều, lớn to thì cây trên ấy cháy đã hết thì mất trắng cả đi toàn bộ ruộng lúa phì nhiêu. Sau khi có đất, thì phải đào mương dẫn nước, đắp bờ giữ nước để lúa nước duy trì được.
Nói qua như này : Vì nước Nam ta lúa nước làm trọng từ xa xưa, người dân vì cớ ấy mà phải đào mương đắp bờ, dẫn nước thì phải qua nhiều mảnh ruộng của nhau, muốn giữ làm nhanh thì phải đoàn kết. Ấy sanh ra việc sống quần cư, nhiều họ nhiều nhà, chứ không như nước Ngô (chỉ Trung Quốc) thường tụ tập thành các họ mà sống chung với nhau, nên rõ việc ấy mà thêm hiểu biết. […]
Trâu bò sau khi đeo cày vào thì kéo đánh mà xới đất lên, bừa ra cho nhuyễn. Nếu đâu gần biển, ngập nước thường xuyên thì phải dùng lực trâu, tay thì phải bới kỹ vào. Vốn thường trồng mà mặc trời đất, có không thì ẻ (chưa muốn bị report) bậy bạ chung xóm mà bón vào, năng suất chưa cao thì phải biết ủ phân người thành các loại khác nhau, mỗi đợt 6 tháng mới tốt mà đem đi bón.
Với lúa, ngâm thóc vài ngày rồi gieo ở ruộng mạ (tức ruộng cỡ nhỏ) sau 20 đến 30 trời (ngày) thì nhổ mạ mà cấy. Cấy thì có truyền thống bằng tay, phải nhỏ và cách đều nhau. Việc này đàn ông thường bị cấm làm, mà để nữ nhơn làm, thành ra nhiều mệ (bà) già thì lưng còm mà than đau khổ, nam nữ bình sanh như nhau, tục nghĩ man di nên bỏ đi, bất tay bẩn chơn (chân) chứ phải yêu thương quý mến nhau không đùn đẩy.
Việc cấy phải theo hàng thẳng lối, làm từ sáng sớm tới canh trưa.
Cây nào chết thì phải dặm (thay đi) diệt sâu bọ có nhiều cách : thứ nhứt (nhất) là bằng tay bằng vợt, thứ hai là thả vịt mà mổ canh, thứ ba là trồng hoa và cây để mời gọi thiên nhiên về, ắt có chim để bắt chấu chấu, sâu bướm thì nhện diệt.
Quan trọng nhứt (nhất) là phải giữ được lượng nước ngập vừa phải, không được thiếu mà không được thừa. Sau cấy thì nước khoảng 0.5 – 0.75 tấc (2 – 3 cm) rồi lên 1.25 tấc lúc đẻ nhánh, 1.75 tấc khi làm đòng – trổ. Lúa chín rồi thì rút hết nước đi.
Dân gian thì nhớ rõ : cấy ngang lưng ngón út, đẻ nhánh rồi thì hơn đốt ngón tay, trổ lúa thì ngang sấp mặt chơn (chân) lúa, ruộng ráo chân thì đất nẻ mặt… […]
Tùy lối trồng, không bón chi thì chừng nửa năm, có khi 3 – 4 đã xong. Phải tùy vùng mà trồng, như ở Thuận Hóa thường 9 tháng mới vào mùa mưa. Gặt lúa rồi tuốt, đập lúa bằng máng hoặc bằng tay không, phơi khô rồi mà chứa […] Việc từ lúa sang gạo thì mỗi nhà có mỗi cối xoay gạo, nhà nào không có thì đi nhờ, xoay ra mất lớp vỏ thì mới có được lớp gạo để mà mần (ăn) cơm.
[…] Thuở hồng bàng tới nay, sử sách ta nhận Thần Nông làm tổ, Thần Nông tên ấy cũng phản ánh nghiệp Nam bang chúng ta như răng? Ấy trước giờ nhiều nhà không chuộng nghề nông, dân quý thì không rõ nghiệp xưa, ấy nhiều món ăn nhiều mà không biết trồng. Kết sách chỉ nhắc nhở việc nông phải nhớ mà bảo tồn, no tốt mới đánh thêm được trăm trận Xi Vưu.”
Đọc tới cuối sách mà buồn cười, nói chung sách dạy hoa trái lương từ Đông sang Tây thì thấy lạ rồi, lâu lâu lại đoạn dạy dân Sử. Trận Xi Vưu là gì? Nhiều nhà sử học Đại Việt cho rằng lần đầu tiên tộc Bách Việt chạm trán Hoa Hạ là từ trận ấy, khi mà Viêm Đế (cách gọi của người Hoa với Thần Nông) đánh nhau với tộc của Hoàng Đế người Hoa Hạ. Sau trận ấy thua mà người Bách Việt rút lui về phương Nam, đánh mấy trận vẫn không lại phương Bắc.
Ấy coi như là sự kết hợp giữa văn minh nông nghiệp và du mục, người Hoa Hạ từ việc du mục, du canh du cư thì chuyển sang quần cư, rồi sinh ra khái niệm trung tâm lấy Hoa Hạ. Trong khi Bắc thì là Địch, Tây thì là Nhung, Đông thì là Di, tất cả đều là những tính từ có lúc tốt lúc xấu, thì không rõ sao chỉ Nam là Man, tính từ duy nhất chỉ có nghĩa tiêu cực.
Sử gia đương thời chẳng mong đánh thắng một trận Xi Vưu sau nào, chỉ mong mãi trường tồn mà đánh thêm mấy trăm, mấy vạn trận Xi Vưu, để cho giặc Bắc thấy nước Nam, con cháu Thần Nông không bao giờ bỏ cuộc và sẵn sàng đánh nhau nếu cần với tộc Hoa Hạ.
Tính ra thì sách lâu lâu viết lời văn đọc mà cô cũng thấy rạo rực cả lên, lối văn phong thán ca hùng hồn này ở thời này quả hiếm.
Gập sách rồi, thì lại vớ lấy quyển khác, lần này là “Tổ Tiên chi ngôn 祖先之言 lời của tổ tiên”. Mở ra mà bỏ qua cái trang đầu giới thiệu, đọc ngay mục đầu tiên :
“Dân gian có câu “Ai buộc thì người ấy mở” hay “Muốn mở dây thì tìm kẻ buộc dây” hay là do xưa dân ta chưa có chữ viết như này, chuyện gì thì muốn nhớ lại cột một dây. Nào ai cần kể chuyện gì thì nhớ coi cột dây năm nào, vì việc chi mà kể lại. Nên mới có câu ấy để rõ muốn biết việc chi mà buộc dây nhớ thì phải tìm kẻ buộc mà hỏi.[…]
“Nhớp như hời” hay “như lồi” là miệt thị người Chiêm… […] “Muốn coi lên núi mà coi/ Coi bà quản tượng cỡi voi bành vàng” là để ca ngợi Triệu Nữ Vương. Rõ ra hơn là thói trọng nam khinh nữ của Nho gia không thực ở dân ta, học thì thấy gì hay mà học, dở mà bỏ đi, chớ nên học theo thói này mà coi thường nữ nhơn.
“Tiếc thay cây quế giữa rừng/ Ðể cho thằng Mán thằng Mường nó leo” âu là câu của dân ta khi Huyền Trân công chúa vào Nam khai khẩn xứ Thuận Hoá, phân biệt người Chiêm Thành, nên thói xấu học từ phương Bắc ấy mà bỏ đi. Chỉ dùng câu ấy chỉ người không môn đăng hộ đối nhau.”
Đọc hồi buồn ngủ quá mà nhìn ra trời đã hẫng sáng, Ngọc Cơ thường là có người bưng chậu để rửa mặt, nhưng con bé Thị Bích nào ấy dậy sớm giờ này? Tự mở cửa ra đã thấy Ngọc Yến nằm ngay giữa đất, trời thì mưa xuyên đêm tha hồ mà tắm mưa…