Chương 52 : Thực Nguyệt
Thanh đao Thực Nguyệt thực chất không phải hàng của Hoa Lang, mà là của chính tay ông lão làm ra, hoá thành người rèn mà bán rẻ cho Trần Văn Độ. Coi như phần thưởng ngẫu hứng tặng cho hắn vậy.
Chỉ là trước giờ không ai nói cho, hắn tưởng là đao bình thường nên không dùng nhiều. Thanh đao hoàn toàn dựa vào niềm tin của người khác vào người dùng nó mà phát thêm lực nhưng giảm độ nặng trong từng nhát đao, nghe qua thì phèn do đâu ai tin tưởng hoàn toàn vào một người đâu? Cũng có mức độ mà thôi, tính thì Thái A kiếm có ngọn lửa ý chí không dập tắt được, xếp hạng Thượng Phẩm, thì Thực Nguyệt đao chỉ tính ngang… Hạ Hạ Phẩm.
Nghe hai vị giải thích, thì hệ thống thánh khí mỗi cấp chi làm hạ, trung, và chính. Từ cấp Hạ Phẩm tới Trung Phẩm, Cao Phẩm thì cứ như thế mà định, riêng Thượng Phẩm và cao nhất là Thánh Phẩm – hạng cao nhất mà cơ thể con người có thể chịu được mà không tẩu hỏa nhập ma, thì không có theo hệ thống chia nhỏ ấy.
Nếu như thế thì Thực Nguyệt đao chỉ coi là hạng vứt đi thôi, nhưng cũng đủ. Hỏi rõ ra thì ban đầu nó cũng là hạng Thánh Phẩm, đặc biệt là do sức dân Văn Lang rèn thành hình, thể hiện sự tôn thờ mặt trăng của người dân, dựa vào trăng mà làm ra lịch, từ ấy mà làm việc nông làm ruộng, tạo công ăn việc làm, ấm no hạnh phúc…
Từ khi bị dân Hán đô hộ, nhiều văn hóa bị mai một, bị cướp đoạt đi. Lịch âm vốn tính thâm canh lúa nước, lại bị người phương Bắc nhận là lịch của chính mình, xóa đâu cả việc sứ đoàn Việt Thường xa xôi tới tiến nộp, tặng vua nhà Chu một cái mái rùa khắc chữ tính ngày tháng năm ra khỏi lịch sử. Phương Bắc là trồng lúa mì, Hán – Việt là Mễ nhưng phát âm tiếng Trung nghe tựa Mỹ, không hề có cái lúa nước vốn có của dân Nam.
Dần dà họ quên cả lịch âm là của ai? Lại cho là du nhập từ Trung Hoa… Việc ấy Hưng từng được nghe và tìm hiểu qua, tuy không chắc chắn nhưng cũng chứng tỏ rằng văn hóa của một dân tộc sau ngàn năm đang cố gắng tìm kiếm lại cội nguồn của chính mình, khẳng định sự độc lập của mình trước cựu thù.
Sống còn với giặc phương Bắc, con người Bách Việt dần sụp đổ và bị đồng hóa. Việc ấy đa phần là nhờ đường vào đất Giao Chỉ xa xôi nhiều thung lũng, núi non. Tinh thần dân tộc cao, nghe thầy hắn cho rằng : những dân tộc cùng mức độ phát triển văn hóa thì khó mà đồng hóa hoàn toàn lẫn nhau được, điều ấy chứng minh trong cộng đồng Bách Việt thì chỉ có vài dân tộc như Choang và Việt Nam là hoàn toàn có khả năng chống lại ách đồng hóa của kẻ thù.
Từ ấy bảo vệ được bản sắc dân tộc, bảo vệ ngôn ngữ và phong tục, giá trị của dân tộc, lấy đó làm chỗ dựa để tiếp tục đấu tranh mà giành lại độc lập cho dân tộc… Không bị thành loại được khai hóa về mặt ngôn ngữ và văn hóa, tự có ý thức riêng của chính mình.
Trở lại với Thực Nguyệt đao, ban đầu nó được gọi là gì thì ông thần có đọc qua, nhưng hắn căn bản nghe mấy lần chả hiểu, vì tiếng Việt cổ và cận hiện đại khác nhau quá nhiều, không thể nào hiểu hết được. Có vài âm như “S” thì người ta phát âm cận đại là “Bl” “Tr” thành “Tl”… nhưng đọc nhanh thì “Blông” cũng thành “Sông” “Tlăng” thì cũng thành “Trăng” mà thôi. Nhưng với cổ đại ngữ thì khác tầm 95% nên là tạm bỏ qua tên thật của thanh đao.
Từ Thánh Phẩm, Thực Nguyệt đao mất dần sức mạnh khi người dân dần lãng quên nó, sức mạnh vốn dựa trên niềm tin của người dân bị mai một dần đi, bị lãng quên trong quá trình chống chọi giặc phương Bắc.
– Khoan! Cháu thế định đánh với đàn bà con gái thực ư?
Đó là tiếng gọi của người phụ nữ làm vợ của ông thần, bà ta mặc chỉ độc cái yến với cái váy đen. Tóc xõa và đang chửi chồng thì mới quay sang mà nói vậy.
– Này tới đây, ta cho cháu cái ni, mau mau!
– Ê bà đừng có đưa cháu nó cái chi bậy đó! Nó là người thường không có chịu nổi mấy cái…
– Ông im đi! Nhà này ai làm trụ cột? Ông à!?
Chuyện hai vị thần này cãi nhau hắn cũng chẳng bất ngờ, khi mà thời xưa người Việt đã cố bảo tồn văn hóa mẫu hệ của mình tới tận năm 43 trở về sau vẫn vậy. Thờ mẫu vẫn được duy trì trong văn hóa và đời sống nhưng vai trò người phụ nữ thì bị giảm đi, nhìn mấy vị thần đây mang đồ tựa dân Văn Lang nên chắc vẫn theo mẫu hệ, vẫn để phụ nữ đứng đầu gia đình.
Đưa cho hắn một vòng tay, cho hắn nắm chặt. Vòng tay làm bằng vàng, hoa văn hoạt tiết chim lạc uốn lượn quanh nó, có đâu 5 lỗ với 2 lỗ nhỏ hai bên, 3 lỗ phía trước được nối qua một đường hở, trong còn có ba viên bi, lắc lên có tiếng tựa như một cái trống lục lạc vậy, duy chỉ có điều là không có mặt trống để đánh.
Có thể là hàng nhạc cụ xưa hay sao? Ai mà biết được, hắn cũng chẳng dám hỏi thêm.
– Cháu nhớ khi nào cũng không được đánh đàn bà, nghe chưa? Có quá thì mang này vào mà đánh, nhưng chỉ được dùng đánh người xấu thôi, nhớ đấy!
Quay lui, lúc này Gia Long đã ngồi trên một cái ngai vàng nhìn tựa ngai trong điện Thái Hòa ở Huế, nhà vua vốn chẳng quan tâm hắn lắm, nhưng vì được thần ông xin cho mà mới giúp hắn qua đây. Giờ thấy giúp cha, được chúa Tiên phù hộ thì cũng đành mà giúp, dẫu sao đế vương an dân là thượng sách.
Vua kêu hắn lại, cũng đưa cho một cái vòng, hình dáng thì chỉ là bằng bạc thôi, nhưng có lồi lên một đoạn, tựa như cái gờ giảm tốc của xe hiện đại vậy, cũng có rãnh nhưng sâu hơn và thành một đường thẳng.
– Hà… Lần sau có chết thì ta cũng chẳng giúp được nữa mô, lần này cho người cái này, nếu mệnh hệ chi thì mài kiếm vào, sẽ mượn tạm được ngọn lửa Thái A mà dùng, nhưng đừng lạm dụng quá. Trẫm nghe thần đây nói ngươi chết, thì qua giúp như này là may cho ngươi lắm rồi! Thôi, phụng mệnh bổn triều mà nhanh chóng diệt tặc, bình quốc, kinh thế tế dân đi!
Nói xong, quãng không xung quanh sáng lóa cả lên, nghe tiếng chửi của ông lão : “Cái bà Hồng Đăng Ngạn này! Đừng tưởng ưa gì làm đấy như thế là được đâu!”. Hồng Đăng Ngạn? Đó là con gái Thần Long, người cưới Lộc Tục tức Kinh Dương Vương. Thì ra đó là lý do mà ông thần xưng hắn là “cháu” vì mấy trăm đời rồi chẳng biết được.
Hắn cũng chẳng ngờ Quốc Tổ của cả nước Việt Nam mà lại xàm xí và có phần trẻ con như thế, không nghiêm túc và uy nghiêm gì cả. Nhưng cảm ơn ông ta rảnh rảnh đưa hắn rời xa cuộc sống tệ hại trước mắt, dẫu mất đi cha mẹ và người thân. Có thể là do hắn hay có cầu với suy nghĩ xằng bậy mà gặp Quốc Tổ tình vui vẻ như vậy nên đùa cho thành thật sao?
Đó là sự ngẫu hứng, lại cảm ơn vua Gia Long đi, cái người mà luôn bị xã hội hiện đại phán xét một cách tiêu cực, người ta coi là bán nước cầu vinh, rước voi về giày mả tổ, độc ác… ấy lại thực hiền và trầm tư hơn rất nhiều. Trong cả buổi gặp lần này, chỉ có Quốc Tổ là nói rôm rả nhất, sau là Quốc Mẫu, còn đâu Nguyễn Thế Tổ chỉ im im không nói gì nhiều.
… Mờ mờ tỉnh dậy, hắn thấy Cơ đang bị chọc mấy đòn với ghì đầu xuống dưới đất. Mặt sàn thì rung chuyển từng đợt, ngỡ như đang động đất vậy. Con đau ở tim dần tản ra, hắn dễ thở hơn, liền một ném nguyên thanh đao trúng cả vào đầu của Quân, làm cô bay lui sau vài đoạn nhỏ.
Thể lực chẳng hiểu sao nhanh chóng hồi phục, trượt một phát bắt lấy thanh đao rồi rút hẳn ra, Quân lại một phát bột tiêu thẳng vào mặt hắn nhưng hắn né được. Lúc này cần nhất là sự bình tĩnh, hắn không muốn chết thêm lần nữa, và tự nhắc bản thân coi chừng cái đống móng tay vốn được sơn màu đen của Quân.
– Ngài… ta thấy đã gục, rứa mà… (Quân lấy tay vừa thở vừa lau máu trên trán) ngài răng lại tỉnh lại rứa rồi?
– Chuyện nớ ta chẳng quản được, nhà ngươi ta đã khuyên can như rứa vẫn theo phản tặc…
Đang nói thì Quân đã tung ngay một đòn gối nhằm hạ bộ của hắn mà đánh. May cái lấy vỏ kiếm mà đỡ, làm Quân đau ê cả cánh tay, nhưng tay phải chưa đau thì một rạch ngay cẳng chân của hắn, rồi đợi không để ý mà lại một chỏ chĩa thằng vào ngực mà dồn lực. Bay cả một đoạn rồi, Quân lại nói :
– Ngài là người vị quốc an dân, ta đối ngài thì mong chết mau không đớn đau, mà ngài cứ làm khó ta… Ngài cũng không đánh phụ nữ thì răng mà đánh lại bổn nương?
Hắn thấy Cơ đang nằm ôm cái vai đau rát vì vết thương quá sâu còn bị trát ớt, một bên mặt thì máu đầm đìa từ mắt trái chảy ra. Có lẽ cô chưa bao giờ đánh nhau với dạng tiểu xảo nên không đề phòng, giờ thành ra bị chơi như thế.
Hắn nghĩ nãy sống lại có khi chỉ là mơ mộng ở thời khắc cận tử của bản thân, chứ thực ảo khó có thể suy xét với một thế giới nhiều huyền ảo như này. Và giờ tốt nhất là thoát khỏi căn nhà này đã chứ? Với cứu Cơ đang đầm đìa đau rát ở dưới sàn nữa chứ?
Thực nhìn xung quanh Cơ giết được một đống tên lính thì hắn nể, nhưng lại buồn chán vì họ chỉ là kẻ ăn người ở, chẳng cớ gì phải giết cả. Hắn nãy đánh cũng qua loa mà tha mạng cho chúng, tuy Cơ ghét hắn vì giết hơn 300 người vô tội vì sơ suất của lính tráng mà gây cháy to, nhưng chẳng ngờ cô lại sẵn sàng ra tay với du côn mạnh mẽ như vậy.
Chỉ thấy Quân uống một ngụm rượu cất ở trong góc, đốt ngụm lửa bằng dây mồi đem vào miếng gỗ lót sàn. rồi vừa phun vừa đốt cháy rượu bằng ngọn lửa trên tới tấp vào hắn. Chỉ kịp kéo Cơ rồi đẩy sang một góc mà hất bàn lên làm khiên đỡ phần nào…