Chương 41 : Đường tới Ngự Bình
Công cuộc kéo pháo bắt đầu vào khoảng cuối tháng 5, hắn phải làm vậy là để tránh kéo dài thêm mà kéo tới mùa mưa. Dù cho mùa mưa ở Huế kéo dài chính thức từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, nhưng ở Huế luôn có những con mưa khó chịu bất chợt xuất hiện, rõ điều ấy nên hắn lựa chọn thời điểm gần hè để kéo pháo đỡ lầy lụa và để lại giấu vết hơn.
Hắn chuẩn bị khá là nhiều lương thực, đem theo nhiều tiền, phân cho một tên mang đòn gánh mà mang theo lương thực, món nào món nấy đa số đều là đồ khô cả.
Tối thì chúng mới bưng bê lúc chạy lúc không tùy cảnh sắc xung quanh, mỗi khẩu phải 25 kẻ vác, trước đó phải tập trước 6 ngày để thuần thục dáng đi và lối đi. Mục đích là nhanh chóng trong công việc di chuyển, chứ không thể cứ ép bọn chúng được…
Bắt đầu từ Tân Thanh Hà, chúng tối ấy vác pháo đi từ Tân Thanh Hà qua làng Thanh Tiên. Nơi đây hoa giấy ở khắp mọi nơi, người dân quanh năm mua và bán hoa giấy cho quan lại và người có điều kiện, thường dân… Yến tối ấy có lấy giấy ra ghi chép lại như sau : “Thanh Tiên là chốn hoa giấy, màu hoa hồng, vàng, cam, trắng có đủ. Sáng, trưa, chiều tối đều cảnh sắc như nhau, đẹp vô cùng.”
Tới sáng, chúng phải tranh thủ đào sẵn hố mà cất tạm pháo vào rồi đậy lên bằng lá. Yến trước đây có được phát cho là cờ chúa Nguyễn, hắn cũng tận dụng cắm lên để cho dân chúng biết chúng là người triều đình mà không được làm phiền, ngồi nấu ăn rồi cho chúng nghỉ, thăm quan làng xã một chút trước khi tối lại phải lên đường.
Cũng phải chạy nước rút một tí, mặc dù sáng thì có sẵn mấy chiếc thuyền động cơ hơi nước sơ khai mà Lại với đồng bọn mấy tháng vừa rồi nghiên cứu ra, chạy nhiều phần ồn ào và vẫn cần người chèo nhưng hắn sợ gặp thuyền đi tuần canh thì lại phiền, những nơi chưa có quận công thì đều được triều đình quản lý bán trực tiếp chứ xin không dễ.
Mất thêm 3 đêm, chúng mới kịp tới làng Tiên Nộn – ngôi làng nổi tiếng với nghệ thuật tranh sơn mài. Hắn bỏ ra tí tiền đãi bọn chúng ăn bún bò rồi ai muốn thì hắn bỏ tiền cho mà vẽ một bức chân dung, nhưng có vẻ tối làm việc nặng nên sáng mấy tên cứ gần chỗ chôn pháo tạm mà ngủ – lẽ ấy mà cứ kiếm chỗ chôn tạm thì lại kiếm gốc cây có tán rộng mà chôn để nằm ngủ.
Hắn có bỏ tiền ra thuê một người thợ trong làng vẽ cho bức tranh, kỹ thuật vẽ của làng Tiên Nộn mạnh tới mức mà đâu đâu cũng có tranh sơn mài : từ chùa chiềng, nhà cửa, đình làng… Mà ông thơ thấy hắn ăn mặc khá bình dân nhưng rõ mệnh quan nên ông ta vẽ đâu ra cho hắn cả bộ đối khâm chỉnh chu, làm hắn nhìn vào cũng phải há hốc mồm vì độ chi tiết.
Chà… để mà nói thì vài ngay sau đoàn người vác được tới làng Nam Phổ, nơi đây nhiều món như bánh bèo, bánh lọc, bánh canh, bún bò… Đặc sản của làng phải nói là bánh canh Nam Phổ với sợi bánh đặc trưng và hương vị cũng thế. Mỗi tên đều được hắn bao ăn thử cho biết, nức danh làng nghề ẩm thực bậc nhất cái xứ Thuận Hóa mà chẳng ai so được này.
…
Ghé qua Thôn Vỹ (tức Vỹ Dạ) hắn nghe nói từ mấy người già làng đây thôn Vi Dã tức “cánh đồng lau sậy” nhưng lâu dần đọc chệch thành Vỹ Dạ như giờ. Thực ra Vỹ Dạ nổi tiếng vì sự bình yên, người nơi đây phụ nữ ít ra khỏi nhà, trẻ con và người lớn xưng hô lễ phép như nhau đầy lễ nghĩa. Ở đây có cái đập gọi là Đập Đá để chặn nước mặn từ sông Hương tràn vào sông Như Ý để phục vụ nông nghiệp ở cả Vỹ Dạ và An Cựu.
Hắn có ghé qua cồn Hến, nơi đây người ta trồng gạo và ngô là chủ yếu. Ngô là do một đại thần thời Lê Sơ là Phùng Khắc Khoan, lúc đi sứ bên Tàu thấy có loại cây được người dân trồng ăn có chỗ thay cơm, ai cũng gọi là Ngọc Mễ tức “gạo ngọc” ông ta mới xin Hoàng đế nhà Minh lúc tiếp sứ được ăn mỗi Ngọc Mễ, rồi lén giữ vài hạt mà đem về.
Dẫu bị quân Minh ngăn chặn và lục soát mấy lần, nhưng cuối cùng đoàn sứ của Phùng Khắc Khoan cũng mang được hạt Ngọc Mễ về Đại Việt, người dân nhận lấy, thấy đem từ nước Ngô về nên gọi là hạt ngô, cây mọc ra là cây ngô.
Ngô ở đây là lối nói xưa của người Việt về Trung Quốc, Yến vẫn còn nhớ người dân Giao Chỉ theo Triệu Thị Trinh chống lại quân Ngô, bị quân Ngô đàn áp nặng nề, người ta mới hận mới sợ mà gọi quân phương Bắc là quân Ngô, người dân hay quý tộc từ đó luôn sợ hãi phương Bắc, đề phòng phương Bắc nặng nề hơn trước. Họ coi những kẻ xâm lược từ phương Bắc là quân Ngô, điều ấy mấy năm chẳng thay đổi.
Từ các tác phẩm như Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh tập… Và nhiều văn thơ thời nhà Trần mà hắn từng đọc được, cứ hễ giặc phương Bắc là sẽ mặc định là Ngô, còn sau này Minh Thái Tổ khởi nghĩa chống Nguyên xưng Ngô Vương là do khởi nghiệp tại đất Ngô, và bị trùng hợp mà thôi, nhưng cũng góp phần khắc sâu nỗi sợ về bị đồng hóa sâu vào người dân phương Nam trong quá trình kháng phương Bắc, kháng Ngô…
Cồn Hến nói lại giờ vẫn gọi là cồn Lái vì có nhiều thương lái giữa Phú Xuân và các xứ xung quanh hay tập trung hàng ở đây trước khi chuyển về Thanh Hà. Nhưng giờ nhiều người nhận thấy nơi đây nuôi và bắt hến cực kỳ nhiều và hiệu quả, lại hay có món cơm và bún hến do hắn đẻ ra, nên người dân nhiều nhà ở đây chăm chỉ nuôi bắt hến lấy đem bán.
Hai chiếc thuyền, gia cố như nào thì chở một khẩu pháo thôi chưa kể bệ đỡ cũng đã quá sức. Sở dĩ hắn giờ dùng thuyền là vì đã tới khu vực đô thành Phú Xuân, ở đây việc qua lại của tàu thuyền đông đúc và ồn áo, náo nhiệt vô cùng nên người ta có thể sẽ chẳng quan tâm tới con thuyền nhỏ của hắn.
Những chiếc thuyền này chưa toàn diện hoàn toàn, nhưng đủ dùng, hắn và bọn lính chất một khẩu pháo vào buồng thuyền rồi tiến hành vừa chèo vừa dùng sức máy. Yến cảm thấy đốt lửa bằng than càng nhiều thì tàu chạy càng nhanh, mà trong buồng cũng vì thế nóng cực chẳng đã, hắn có nhìn xuống thì thấy may mấy tên thợ làm 4 cánh vịt khá hoàn hảo, nhưng miếng chuyển làn thì làm có vẻ hơi nhỏ nên cua hơi chậm. Nhưng có người chèo nữa nên tạm khắc phục.
Vì có treo thêm cờ phủ chúa nên mấy chiếc thuyền nhỏ đi tuần trên sông Hương đoạn này chẳng buồn quan tâm, chưa kể xung quanh ồn ào nên chúng chẳng nghe thấy tiếng cọc cạch của động cơ hơi nước sơ khai. Vì có thuyền nên thành ra công việc đỡ đi một chút, mấy ngày sau có thời gian cho binh sĩ nghỉ ngơi.
Hắn cùng đồng bọn cập bến làng An Cựu, nơi trồng gạo dâng chúa, rồi cứ đêm qua đêm tới chân núi Ngự Bình. Ngự Bình ở đây là 御屏 tức là “bình phong của người ngự trị” chúng lấy dây cột vào nòng pháo mà khoảng chục tên kéo, còn lại chục tên dưới đẩy lên. Núi Ngự đường lên cũng có đường, bên trên đỉnh thì bằng phẳng chứ không có tí gì gập ghềnh nên rất phù hợp cho việc bày pháo bắn xuống Phú Xuân.
Người thời này gọi đây là núi Bằng tức Bằng Sơn 平山, trong đó chữ Bằng 平 thực chất là đọc chệch của chữ Bình, chỉ sự bằng phẳng.
…
Sáng hôm ấy, là khoảng gần 1 tháng mà chúng vác pháo bí mật lên trên núi Bằng này. Hắn nhìn xuống thấy cả đô thành Phú Xuân hiện ra trước mắt, vô cùng đẹp giữa khoảng trời xanh bát ngát, bọn lính được dịp nghỉ ngơi nên được nằm nghỉ trên núi, trên đỉnh cũng chỉ toàn cây nên bóng mát rất nhiều.
Với những tính toán từ trước, Yến bước đầu đặt và canh pháo để cầu mong sao cho tính đúng thì nhằm hết vào phủ của Thuần – kẻ mà hắn chưa từng gặp hay hiểu điều gì cả, Phúc Thuần giờ còn trẻ, nhưng vì đại cục tương lai, vì bị chơi nhiều vố quá nên Yến mới phải đẩy nhanh tiến độ mà diệt kế của Loan, nơi mà Phúc Thuần đóng vai trò quan trọng nhất.
Hắn cũng tính là sẽ vứt lại mấy khẩu pháo chứ khó mà mang về được, nên trước đó mới khắc bốn chữ Vị Quốc Việt Nam lên để làm màu mè. Lại chọn tiết hè nóng nực nhưng khô ráo để dấu chân để lại không được mấy đặc biệt là với chân trần.
Yến kiếm một hòn đá gần đó, khắc vào thêm một dòng thơ : “Đi đâu cũng nhớ quê mình, / Nhớ sông Hương gió mát, nhớ non Bình trăng treo.”. Gốc mấy câu thơ này hắn không rõ có từ lâu chưa? Nhưng giờ… trộm luôn.
Hắn lôi trong đống hành lý ra : bộ áo đối khâm bữa mua, thanh đao? Không, còn cái choàng hổ thì vẫn có.
Thực phẩm chế sẵn trước khi lên núi, việc kéo pháo lên mất 6 ngày mới xong, hắn bắt lính đào đất thành nhiều hố để thử mô phỏng bếp Hoàng Cầm, mong muốn tránh được làn khói chút nào.
Mấy tên lính thì đang ăn uống no nê, trong khi hắn thì mặc sẵn bộ đồ, bận guốc, đeo choàng… Ra lệnh cho chúng nào bắn thì sẽ thấy ngọn cờ chúa Nguyễn bay phấp phơi trên trời thì bắn.
Sao thế được? Hắn chỉ đơn giản lấy tre, làm bộ khung chữ thập, cột lại. Lại làm khung xung quanh, buộc lá cờ vào, thêm một sợi ruy băng ở dưới đáy nữa. Này là làm diều để ra hiệu cho nhau.
Nhớ rằng Mặc Tử và Lỗ Ban chế tạo ra diều cũng là để ra hiệu cho quân đội, truyền tin với nhau cả. Hắn đây kiếm cái dây nhẹ nhẹ bằng sợi lụa mà buộc vào, học kế của họ mà làm theo…
Trước khi xuống núi, hắn còn dặn dò binh sĩ :
– Chuyến này là ta hại các ngươi để phần giải tư sự, phần là quốc sự. Ta đã canh sẵn pháo, bẽ sẵn gậy canh… các ngươi nhớ nhanh chóng lắp ráp, theo kế mà thành đại sự.
Hắn nay mới gần 15, nhưng những tên lính tin hắn phần tài năng, phần là tầm nhìn và cảm giác trường thành hơn tuổi của người tài của hắn. Chúng thấy nể hắn đấy chứ…? Chuyến đường dài như vậy, hắn vẫn coi bọn chúng là người là bằng hữu là may lắm rồi.