Chương 24.5 : Vài việc sau ra tù
Sáng sớm Yến được thả về nhà của Trạch, hắn vẫn mang đồ rách nát của tù nhân, băng bó khắp bụng và ngực. Về tới nhà Trạch, hắn được Trạch đứng ngay trước cổng đợi – hai cánh tay của hắn cứ thả lỏng thòng lòng chứ không có lực gì nữa.
– Mi còn mặt mũi mô mà về cái nhà ni nữa? – giọng Trạch không còn dáng vẻ hống hách thường nhật –
– Em vô lấy đồ ra thôi, eng (anh) đó! Răng giúp loạn thần còn gặp thân thích không nhận, đánh gần chết em đây? Tiểu nhơn mà sao phải nhận làm quân tử!? (Yến)
– Mi răng? Từ khi có nhà mi vô cha tau (tao) mất, việc làm ăn thì phá bĩnh, giờ tới tay tao? Hừm! Mà thôi không trách… Mỗi người mỗi mệnh, mi khắc tau (tao) một phần mà phần khác tau (tao) lừa mi… Vô lấy đồ mà đi ra khỏi nhà tau (tao) đi! (Trạch)
Khổ thực, hắn giờ phải vô lấy đồ nghề và tư trang đi, tước quận công chắc tầm mai mới được nhận nên giờ hắn cơ bản chưa có nhà để ở. Vào tạm biệt anh em lò rèn xong, hắn đi cửa sau để né nhà Trạch nhìn thấy hắn : hắn thực không ngờ Trạch câu kết với Loan tới mức đập chết cả thân thích như vậy… Yến tiện ghé qua cửa hàng bán khoai tây chiên để thu tiền, thêm trả công cho bọn làm và Kiên, với tạm trú một đêm trước khi về quê.
Bọn Tây Dương với dân Thanh Hà rất thích khoai tây chiên, mà Yến gặp Kiên thì nhớ vụ hến hiếc mà hỏi rồi trả tiền. Hắn tiến hành làm cơm hến, cơm hến quả thực làm rất dễ : hắn ngâm hến vào nước gạo để lọc bớt cát bẩn, đem luộc rồi lấy ra bỏ vào cơm nguội, thêm tí rau thơm và môn bạc hà. Thêm tí muối, tiêu, nước mắm, ăn kèm là tóp mỡ, đậu phụng, ớt… Sở dĩ Yến nghĩ tới cơm hến là vì hến dễ kiếm ở khắp Việt Nam, miễn có sông là được, hến còn là loài lưỡng tính – mà một lần đẻ có khi cả trăm ngàn con!
Khế hay xoài, tóp mỡ làm cũng dễ, rau cỏ ăn theo dễ trồng. Hắn sẵn thừa nhiều tiền cũng thuê thêm mấy người nuôi hến dọc sông Hương đoạn từ Thanh Hà đến Cồn Lái (Cồn Hến sau này). Hắn làm khá nhanh và nhuần nhuyễn vì kiếp trước cũng hay tự nấu món này, ngang buổi chiều mới ra tù hắn đã đem đi bán ngay trước gian thuê bán khoai tây chiên. Cũng trò cũ, ai mua cũng hỏi ngon không? Hạp (hợp) không? Cốt yếu bán là phụ dò hỏi là chính.
Khoảng gần tối, có cả đám lính thuỷ quân đi ngang mà vào ăn bữa cuối trước khi về quê – tất nhiên là có Hữu Ba đi theo bao bọn chúng. Yến có xem qua thì thấy thuyền chiến – đầy những mái chèo, tầm 10 chiếc mái chèo – mỗi chiếc to độ hai người nằm thẳng ra, phải 2 người mới kéo được một mái. Hắn chăm chú coi thuyền một lúc rồi mới làm cho bọn kia ăn – hắn cũng thử làm với bún hến, mì hến thì hắn chưa trồng được vụ khoai tây nào nên chưa làm, nhưng nói chung là ăn được và khá giống thời hiện đại vì thiếu một tí dầu gì đó mà hắn không biết rõ. Tạm chế thì chế nước mắm ăn cùng vậy.
Chợt có cánh tay chập lấy vai của hắn – là Hữu Ba, cùng với Hữu Đông và Hữu Công đi theo.
– Răng mà mai lên chức quận công mà hôm ni đi bán món chi lạ làm cả xóm náo nức đi xem rứa? Nhà ngươi rõ kỳ à nhen, ha ha ha…! Mới ra tù cái đã bày thêm trò! (Ba)
– Chưởng thủy! Sư phụ, sư huynh! Quý hóa quá, mới ngồi tù vài ngày nhưng lo sợ việc nước nên nghĩ ra món ăn mới để cầm thực ấy mà. (Yến)
– Thôi – Đông và hai tên kia cũng ngồi xuống – lần này mi không xét tội chi, diệt trừ loạn thần, cứu vớt Thế tử khỏi hiểm nguy – thực là rạng danh Sáng tổ nhà ta rồi! Nhưng mà ta dạy ngươi : sớm chi cũng không nên bộc trực, liều mạng, mất tinh thần võ nhơn! Coi ngươi đi! Người đầy thương tích mà còn lao động như giờ toàn do liều mạng hết!
– Sư phụ, lâu không gặp nhưng con luôn thấy thầy thay đổi nhiều rồi nơi, bỏ diệu (rượu) rồi hay răng rứa? (Yến)
– Chuyện mi hay răng? Lo làm mà bán đi! – mới nghe Yến nói thì Đông liền đổi lối hành khẩu –
Ăn một lúc, Hữu Ba đúng sức khỏe kinh người ăn 5 -6 bát chưa no, còn Hữu Đông cũng thi thố ăn theo. Yến hỏi ngon không thì đều tấm tắc khen ngon, biết sư phụ với sư huynh bỏ dạy võ ở làng vô đây, chưa có việc làm nên Yến định ý muốn chỉ dạy nghề, nhưng nghĩ lại dân lỗ mãng thì khó mà làm nghề này nên thôi.
– Nhà ngươi… – vừa ăn vừa nói – làm đồ ngon đỏ, chánh sách trị quốc thì cũng cao siêu, tầm nhìn xa… – ăn tiếp – bổn quan chỉ khuyên người nên kiếm ai mô mà truyền nghề đi! Thực đàn ông nấu ăn không nên mô! Truyền cho vợ ta nhé? (Ba)
– Anh mặt mũi mô rồi mà xin kiểu nớ? Còn mô danh dự họ Nguyễn Hữu!? (Đông)
– Khà khà… bổn quan không sợ nhục, sống là được! (Ba)
– Đại nhơn nói quá! Ha ha… công thức ta có ghi sẵn đây, ngài mô đọc cho vợ mà coi, ta đây chỉ mong bách tánh có cơm có ngon mà ăn, chẳng phiền giữ làm của riêng, mai nay bán đây nhờ mấy tên đệ thuê ở đây…
Tối đó hắn ngủ lại ngay tại quán, nhớ lại cảnh mấy con thuyền toàn mái chèo là mái chèo không, lại nhớ tới việc thủy quân Bắc Hà và Tây Sơn căn bản khá yếu – Bắc Hà thì có lần phải nhờ quân Hà Lan mở đường trước nhưng bị thảm bại không ngờ, Tây Sơn đánh Rạch Gầm – Xoài Mút thì cũng không trọng thuyền, thua thủy chiến Thị Nại, để cướp biển Trung Hoa vào hàng thủy quân… Hắn đột nhiên có ý làm động cơ hơi nước để giúp tăng khả năng chiến đấu của thủy quân – loại quân đang mạnh nhất của phe Thế tử.
Nghĩ cái hắn dậy liền, trước hắn có học qua khá rõ về động cơ hơi nước – vì loại động cơ này hoạt động với nguyên lý khá đơn giản. Nhưng mà thuyền chiến Việt Nam cổ có nhiều loại : loại thuyền to và có nhiều tầng lầu phía trên gọi là Lâu thuyền – nhưng nó đã thất truyền từ thời Minh, Du đĩnh thuyền – thuyền cũng có lầu cao và chủ yếu là để quan sát và xạ chiến, Hải cốt thuyền – to và chứa nhiều binh lính sẵn sàng giao chiến khi giáp chiến với thuyền kẻ địch… loại nhiều nhất là Đấu thuyền – to, cắm nhiều cờ, luôn đi xung phong và dẫn đầu. Mỗi loại cần một loại công suất mạnh riêng… suy đến thế thì hắn thấy mệt người nên lại nằm ngủ lăn ra.
…
Sáng sau, chiêng cồng réo nguyên cả phố cảng Thanh Hà để rước ấn với đồ quan cho Yến. Hắn chỉ xin nhận ấn còn áo quần thì xin miễn, tiền chúa thưởng quá 100 quan từ 100 lên 200 thì hắn đem đi từ thiện cho dân nghèo, hạng lính được cấp cho hắn 50 người để quản phủ đệ riêng – cái mà hắn chưa nhận, còn đâu lính trên khắp Thanh Hà đều phải thuộc quyền chỉ huy của hắn. Yến nhanh chóng hoàn tất lễ tiết, bắt bọn lính quản phủ về quê còn mình thì tự mình đi ra quê bằng ngựa… Tầm ngang trưa là hắn đã về tới Hoa Lang để kịp 1 ngày nữa tất niên, lần này thì đặc biệt ở chỗ là hắn lập công lớn, được thưởng chức to, nên về làng họ còn phải vác kiệu ra để đón hắn vào cổng làng.
Cổng làng Việt xưa nay vẫn là Tam Quan – ba lối vào, trong đó chính giữa chỉ có vua quan, xe mới được đi qua, còn lại Hữu Nam Tả Nữ đã phân từ bao đời. Hắn nghĩ về thời hiện đại thì có làng xây hai cái lối hai bên nhỏ chẳng qua được, làng thì xây cao to mà mất cân đối, tựu chung người hiện đại chẳng còn quan tâm đi vào hướng nào nữa nên chẳng sao, chứ thời này việc đi sai thôi họ cũng đã nói rất nhiều – tư tưởng nam nữ thụ thụ bất thân ăn sâu rất nặng nề.
Hắn cũng chưa dám ngồi trên kiệu mà đi vào cổng chính, xin hồi rồi xuống dắt ngựa vào lối bên phải của cổng làng. Tiện qua tặng quà hỏi thăm thầy dạy chữ Dương Văn Hiền một phen cho tròn đạo thầy trò – dẫu thường người ta đi thăm thầy cô vào mùng 3 mùng 4 Tết mà thôi hắn cũng kệ, mấy chuyện làm trái lẽ thường của hắn khiến cả làng cứ xì xào xì xồ bảo kỳ lạ, biến thái – hắn cũng chẳng quan tâm lắm, dưới Phú Xuân còn nhiều việc hơn nên hắn rảnh lúc nào thì làm cái nấy thành thói.
Về nhà, bà Tuyết đập hắn mấy lần cái tội liều, tất nhiên đập yêu thì chẳng sao cả, còn Thuần thì cứ cặm cụi chẳng nói cái gì hết – tính tình của người đàn ông nông thôn xưa thường không vũ phu thì có khi vui khi lạnh lùng để tỏ ra cương nhu có đủ. Yến giờ chức to gớm, hắn thay vì nói thì lại ra lệnh thẳng Nhơn :
– Anh! Lo mà qua năm về phủ em làm, không răng mô chi hết, giờ đang cần người gấp, nhớ đem thằng Thiều bên Triều Sơn đi theo.
– Cha chả!? Mới lên chức cái hách dịch thế mậy (mày)? Lương mi lo được tau (tao) mấy mà đòi tau (tao) bỏ vợ hả? (Nhơn)
– 8 quan một tháng, sướng chưa? Chưa sướng thì đem thêm bà Gà vô nuôi, em nuôi tất! – Yến nói nửa đùa nửa thật –
– Mi chắc chưa? Chắc thì Tết ni ăn cho xong bơ tau (tao) đem cả nhà lên luôn! (Nhơn)
– Nói rứa thôi để chỉ (chị) lại lo giúp cha mạ… (Yến)
– Hầy, mi nói chẳng biết giữ lời chi cả! Mà thôi tau (tao) xem qua sau!
…
Hôm sau, trong khi làng với cả nhà đi kêu xem làm lễ cúng trời đất thì Yến vẫn ở nhà. Hắn vẽ sơ sơ ra rồi bắt đầu tạo khuôn, dập khuôn với rèn tôi ra được nồi hơi, van điều khiển, ống dẫn và ống xả – còn thiếu pistol và thanh truyền với cơ cấu khuỷu trục là làm khó qua nên hư liên tục. Thực ra hắn không nghĩ là bất khả thi, : hắn nhớ tới Hoàng Văn Lịch – chắc khoảng 3-4 đời sau thời điểm hiện tại, cũng người Hoa Lang, tự mày mò chế tạo cho vua Minh Mệnh tàu hơi nước đầu tiên của Việt Nam!
Hắn nhớ tới cái hào hùng đó, nên tới tận giao thừa hắn vẫn hùng hục làm, cả nhà ai khuyên cũng không được. May trước hắn hay nhìn ba hắn mổ xẻ động cơ xe máy – mấy bộ phận hắn còn chưa làm được hiện tại hắn cũng đã nhìn, cầm qua rồi. Mãi lúc giao thừa, hắn mới căn bản làm xong mấy vật còn thiếu – dẫu chưa hoàn chỉnh nhưng định bụng mai dùng…