Chương 2 (Tây Sơn phụ ký) : Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ
Cũng đã gần 10 năm kể từ khi hắn trở về thời quá khứ ở đây. Thơm sống trong làng xóm Tây Sơn, chơi đùa với người Thượng, người Việt, học tập tính tốt, văn hóa độc đáo và hay nghĩa của cả hai – chính vì thế mà Thơm biết gỗ nào tốt để làm gì? Sinh tồn trong rừng có gì có thể ăn? Khai thác được gì từ rừng núi Đại Việt? Thêm nữa Thơm cũng là dân tự nhiên nên đã rành lý thuyết nay có nguồn thực hành dồi dào thì quá đã cho hắn.
Nhưng càng ngày hắn càng thấy thực sự chán nản với chúa Nguyễn – trước đây hắn là dân miền Bắc, lại vì thời cuộc nên không học được gì nhiều về lịch sử, nhưng hắn cho rằng chế độ chúa Nguyễn đang bóc lột tận cùng sức dân với hàng loạt thứ thuế bất công, không quan tâm tới sức dân gì cả, nạn trộm cướp thì hoành hành một cách ngang ngược ở dưới vùng đồng bằng.
Bản thân Thơm nhận định rõ : những người tự nhận là xã hội chủ nghĩa chia làm ba loại, loại 1 là ủng xã hội phong kiến, loại 2 là ủng hộ xã hội tưbản chủ nghĩa, loại thứ ba gồm có những người xã hội chủ nghĩa dân chủ tức đi theo cùng con đường với những người cộng sản. Trong đó loại 3 còn chia làm hai dạng là vô sản và tư bản nhỏ – sẽ xung đột với những người cộng sản trong quá trình đi lên, nhưng những người cộng sản phải luôn phấn đấu chung cho quyền lợi của giai cấp vô sản.
Thơm mất cha thì cũng lâu rồi, chắc chừng 5 tuổi? Kể từ đó anh cả Nhạc phải chăm lo việc kiếm tiền của cả nhà, hắn thương anh hắn – người luôn bị áp lực con trưởng đè nặng, kiếp trước hắn cũng là con trưởng nhưng cách mạng nên nhiều thứ mai một về mặt văn hóa, hắn chẳng phải chịu áp lực như vậy. Mà hắn nhận định Nguyễn Nhạc cũng có ý muốn đỡ cực khổ cho bách tánh, ghi hận với chúa Nguyễn – vì ông cố cố của hắn là bị bắt vào đây trong cuộc chiến Trịnh – Nguyễn lần thứ nhất khi quân Nguyễn vượt Linh Giang (sông Gianh) và chiếm được một phần Nghệ An trước khi đánh bật lùi.
Nhưng Nhạc tính tình ham quyền lực, buôn bán trầu rồi có mua chức quan thu thuế nhỏ ở đâu dưới thành Quy Nhơn – Thơm không biết thành thị Quy Nhơn hiện tại thực ra lại nằm trên đất của thị xã An Nhơn hiện nay, mà quả sao hắn biết được? Đất nước chia cắt và hắn chỉ biết Quy Nhơn của Việt Nam cộng hòa một cách mơ hồ mà thôi. Riêng việc mua quan bán tước hắn cho là không hay, liệt Nhạc vào loại người xã hội chủ nghĩa loại 1, vì Nhạc có tư tưởng an dân bình quốc qua xã hội phong kiến.
Còn người anh khác của hắn? Hồ Lữ – người đi theo Minh Giáo với mong muốn cứu giúp chúng sinh qua niềm tin tôn giáo, hay đi bốc thuốc hay cỏ trong rừng với người Thượng trong rừng, về thực tế thì Lữ ít về thăm nhà hơn nhưng lần nào về cũng làm mấy cái trò ảo thuật cho Thơm coi, Thơm coi cũng chẳng bỏ mắt lắm. Nhưng mà qua Lữ mà Thơm nhớ tới lời Karl Marx : “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”. Và hắn tự cho rằng người anh này dễ dạ cả tin ba chuyện mê tín – do thời kỳ kiếp trước hắn sống lên nhiều người đã lên án mạnh mẽ những trò mê tín, tôn giáo này rất nhiều.
Mà hắn cũng tự cho là Lữ là phản ánh của thực tế cực khổ của nhân dân quanh vùng, Nhạc là ngọn cờ tạm thời hắn có thể tin tưởng vào – Nhạc có chí khí và tinh thần dựng nghiệp lớn, Thơm muốn sau nếu Nhạc muốn xưng vương nghiệp thì hắn sẽ phò theo, muốn từ phong kiến lên thẳng với đường lối xã hội chủ nghĩa. Cái ấy theo Karl Marx nhà nước cộng sản phải từ một nước phong kiến, lên tư bản chủ nghĩa, rồi mới xây dựng được xã hội chủ nghĩa từ các thành tựu của tư bản chủ nghĩa – điều này được đã Hồ Chí Minh chứng minh thêm là một nước phong kiến lạc hậu như Việt Nam cũng có thể tiến thẳng lên xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Mà lồng gỗ sao giữ được hổ lớn? Thơm mấy lần xin Nhạc thì Nhạc mới mũi lòng mà cho đi tới theo xuống thành Quy Nhơn – trung tâm của cả xứ cùng tên. Tất nhiên thành Quy Nhơn chẳng to lắm, nằm khá bằng phẳng và gồm hai lớp, với lớp trong cùng mớ được quy hoạch theo hình chữ nhật và xây đá, toàn thành còn lại để dân ở thì chỉ xây thành đất – mục đích chính là chống lại thú dữ từ trong rừng chứ chẳng phải công sự thủ chiến. Nhưng dân cư đông đúc, buôn bán khá ổn nhưng quan lại hay hống hách và tham nhũng – này Thơm chẳng thích.
Quy Nhơn là chốn trung chuyển hàng hóa lớn nhất của cả Nam Hà – hàng hóa chuyển từ Lục Trấn Gia Định (Nam Bộ) đều đi dọc bờ biển tới vịnh Quy Nhơn để dừng chân, tiếp tế lương thực cho một Thuận Hóa đông dân nhưng kém lương thực, Thơm nghĩ rằng sau này muốn phá bỏ tập đoàn chúa Nguyễn thì vẫn nên ở lại Quy Nhơn thì hơn – hắn muốn làm một điều gì đó tương tự Xô Viết Nghệ Tĩnh hắn từng học trên trường nên muốn tiến hành khởi nghĩa để giành chiến quyền. Điểm khác là Nghệ Tĩnh chính quyền Pháp còn mạnh còn ở đây? Chính quyền chúa Nguyễn đang suy yếu dần, lại đóng ở Thuận Hóa, có Quy Nhơn thì Thuận Hóa ắt mất!
Mấy chuyện này từ lúc sinh ra thì tinh thần cách mạng lúc còn là Lập cứ thôi thúc hắn đánh đổ phong kiến, thống nhất quốc gia như vậy… Hắn cứ đứng giữa đường mà nghĩ suy trong khi Nhạc đang đi vào phủ gặp tuần phủ là Nguyễn Khắc Tuyên để làm việc.
– Ê thằng cu kia! Mi đi đứng không nhìn hả? Làm đổ đồ của tao rồi nì (này)! – một tên lính giả vờ đi qua đụng Thơm rồi làm đổ tô bún bò của hắn –
– Chú nói chi rứa?! Chú mới là loài không có mắt đó! (Thơm)
– Không cần biết chi hết, một là mi đền tiền tô với bún hai là tao đánh què giò mi chừ!?
Thực thì loại ăn vạ của lính phủ chúa ở đây không hiếm, gần như nơi nào ở Nam Hà cũng có trừ Thuận Hóa và Quảng Nam. Tên lính day dưa với Thơm một hồi thì vả một phát Thơm lăn đùng ra đất, cũng may kiếp trước hắn chăm lo học võ với từ lúc sống lại tới giờ thì hắn cũng sống trong rừng quen chứ có khi một bạt tên kia chảy hết cả máu mũi. Đột nhiên có một người dáng béo béo, râu ria khá xồm xoàm, cao chắc tầm 1m65 bay tới cho tên kia một đá vào đầu, tên lính gục xuống người đó còn đá thêm một cú chọc vào ngay đầu.
– Ăn hiếp trẻ con không biết nhục hay răng?! Làm lính phủ chúa mà quá mất dạy!
Đó là tiếng của Trương Văn Hiến, hắn mới chỉ tới thành Quy Nhơn trong hôm nay, nhưng tính tình hành hiệp trượng nghĩa thì luôn sẵn có, thấy cảnh bất bình xuất thủ tương trợ.
– Cha chả! Mi nữa là ai mà dám đánh quân…
– Hiến lại cho tên kia một đấm trúng ngay huyệt Nhân Trung làm tên kia choáng cả đầu mà bất tỉnh, Hiến nhanh chóng cắp cổ Thơm chạy đi chỗ khác, Nhạc đi ra thấy vậy liền chạy theo mà tri hô. Cả ba chạy mãi gần lên Tây Sơn thì Hiến mới dừng lại đẻ nghỉ hơi – mập quá mà.
– Ông te (kia)! Đánh người phủ chúa rồi bắt cóc nữa! Ưa chết hả!? (Nhạc)
– Ha ha ha! Thực ra là tên này bị tên lính kia ăn vạ, ta cứu giúp mà sợ thằng cu bị đánh nên ra tay cứu thôi! (Hiến)
– Ông là người Thuận Hóa chơ chi? Giọng nhẹ rứa chỉ có bọn Thuận Hóa thôi! Không ngờ hôm ni gặp dân đô thành đi đánh người bắt cóc còn nói xạo! (Nhạc)
Hiến cười một phát, thả Thơm xuống để hắn giải thích vài sự tình. Cái duyên quen biết của cả nhà với thầy Hiến bắt đầu từ đây, người ta có câu “Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ?” tức là bạn tốt từ phương xa tới, không vui được sao? Dù mới gặp lần đầu nhưng Hiến đã tạo thiện cảm cho Thơm, làm bạn với họ Hồ ở Tây Sơn. Thơm từng học qua võ cổ truyền, nhưng chưa từng thấy ai đánh lực như vậy – hắn cũng tờ mờ nhận ra sự tồn tại của Võ Thần…
Hắn thấy cũng hay, vì võ trước hắn theo kiểu múa cho đẹp, lớn lên giờ chỉ mới học được võ Thượng của người Thượng – một loại võ chỉ được truyền trong nội tộc người thiểu số với nhau, tính thực chiến ít được kiểm chứng. Nay tiện nhận Trương Văn Hiến làm thầy làm ân nhân cũng là món hời ở thời thế có phần loạn lạc như này.
Trương Văn Hiến thấy hắn có bản lĩnh, dạy hắn rõ hơn việc loạn thần Phúc Loan cùng với hai người anh của hắn, lại phân tích điểm mạnh yếu từng đứa, dạy chữ từng người, từ ba anh em nhà hắn mà mở rộng thêm nhiều môn sinh hơn. Được cái Hiến hơn Đông ở vài chỗ là ông ta học mỗi thứ võ đều học hết, tập hết lại ông gọi là võ ta, dạy dỗ học trò thì chu đáo hơn nhiều, mỗi đứa mỗi loại võ khác nhau.
Học trò của lão ngoài ba anh em còn có Trần Quang Diệu, Vũ Đình Tú và Đặng Xuân Phong… lão muốn gây dựng Quy Nhơn thành một căn cứ địa để cung cấp người hiền tài cho chúa Nguyễn, với lại theo kế của Hạnh thì lão phải ở lại Quy Nhơn một phần cũng là để trấn giữ cảng thị trung chuyển quan trọng ngay chính giữa lãnh thổ đàng Trong. Nhưng lão đâu có biết? Nhạc và Thơm vốn đã có những tư tưởng riêng, nhưng con đường riêng mà chúng đã chọn… Gặp Hiến cũng là cái may cho Thơm, để hắn tăng thêm thực lực bản thân, khẳng định khả năng và tài năng để chinh chiến khởi nghĩa theo mộng riêng.