Chương 19 : Chuyện tiền nong (hậu sự) & hồi hương
…
– Nhưng sao tên Bao Vinh hầu đó lại nói cho công nữ biết chuyện như rứa? Hắn với Quý Trạch đang đối địch nhau hay răng?
Sau những toan tính về việc nhập bạch kim, đột nhiên Hạnh bất chợt nhớ lại lời mà Ngọc Cơ nói lại. Quy chung thì Hạnh và Luân, Kỷ vẫn chưa tin Yến lắm, nên thế mới không hiểu sao hắn lại tiết lộ chuyện về chất lượng của sắt được đúc theo lối truyền thống như vậy?
– Hắn ban đầu đòi ta đàn cho xong lại giựt đàn đi mà đàn, bổn công nữ lấy làm lạ, nhưng dường như là hắn thử lòng ta, còn đâu chi mới vô vấn đề xin ta cho hắn vài cân bạch kim để mạ lên kiếm của hắn… – Cơ chỉ kể ngang đó, lược bớt đi đoạn đầu –
Luân nhìn phát là biết cô đang giấu giếm hắn chuyện gì đó. Hắn liền dùng kế khích tướng lên người người em của mình, dù sao thì con gái dễ bị dính kế này nhất trong các kế, nhưng Luân chẳng muốn tỏ ra mình cũng là mưu mô xảo quyệt, chỉ muốn coi Cơ giấu hắn cái gì? Nói chuyện với tư cách công nữ quý tộc mà không thanh minh trong lời nói cũng là một tội về tứ đức : công – dung – NGÔN- hạnh.
– Ngọc Cơ! – nói phát Luân trừng thẳng vào mắt của Cơ, chút nào cúi xuống để tạo sắc tối cho mặt – Điều chi cũng không được giấu hoàng huynh, nói! Hắn làm chi em? Ta biết ta trừng phạt ngay lập tức!
– Chẳng có chi mô! Ta chẳng qua là tìm con bé Thị Bích hầu cận chạy bậy ở Thanh Hà bơ gặp hắn nơi nhà tên Quý Trạch. Hắn đang bán một món chi đó gọi là khoai tây chiên… ta mua thử thì hắn từ chối ném tiền lại bảo là giả, còn dạy ta phân biệt… ta thử hắn thì hắn còn chỉ cách làm tiền để chống mất giá đồng tiền ở Nam Hà mình. Chung quy là vậy, huynh đừng gán tội chi cho hắn hết. (Cơ)
Đợi cả ba nghe Cơ kể lại về cái phương pháp của Yến. Chúng mới biết được vấn nạn lạm phát và nhập nhằng thuế hiện tại của hệ thống tiền tệ, Luân định kế Cách Án Hải Quan – đứng bên bờ xem lửa cháy làm địch rối loạn, mục đích là dùng chính sách sai lầm hiện tại của triều đình để làm giảm uy tín của phủ chúa trong lòng nhân dân, từ đó khi khởi chính biến thì mới thực hiện cải cách để lôi kéo lòng dân. Nhưng Hạnh lại nghĩ hướng khác, với tư cách là nhà Nho – Hạnh luôn đặt an dân lên làm đầu, nhưng sống ở Thuận Hóa thực khó rõ cảnh ở các xứ khác như nào.
– Kế sách ấy là không nên! Con nên dùng kế Thuận Thủ Khiên Ngưu – tranh thủ thời cơ trong tay mà chớp lấy! Tận dụng việc đề xuất và thực hiện cải cách mà lấy lòng chúa thượng, từ đó củng cố vị thế Thế tử, lấy lòng dân. Để lâu dài thì hệ thống ni càng làm cho dân chúng ghét bỏ quý tộc của con! – Hạnh nói ngay sau khi Luân trình bày cái ý nghĩ của mình –
Khắp cái đô thành Phú Xuân này đều biết Trương Văn Hạnh là thầy dạy Thế tử Nguyễn Phúc Luân, nhưng chỉ có thân thuộc mới biết Hạnh luôn xưng khiêm hô tôn học trò của mình, chỉ khi khuyên rặn và dạy bảo mới làm ngược lại – chính việc này giúp Luân biết được nào là lời dạy của thầy hắn nào không.
– Hà… tên Ngọc Yến đó… cũng là bà con với tên Trạch? – Luân hỏi sau khi húp xong chén canh rau muống
– Hắn theo mật báo cũng dân Hoa Lang. (Kỷ)
– Loại như hắn, quả thực dù chung nhà với Quý Trạch, nhưng… mười phần hết chín phần vị quốc vị dân, kỹ thuật nghề cao, tầm nhìn rộng… Con nên nghĩ lối mà chiêu mộ. – Hạnh khuyên tạm như vậy –
– Ừ… thôi nay tiệc tàn, mọi người tạm về bữa mô gặp lại. (Luân)
Luân phải chắc chắn được Yến là kẻ thế nào, chứ mới 9 trên 10 phần thì hắn vẫn chưa an tâm… Nhưng tính nghe theo kế sách mà trình lên chúa mấy ngày sau thượng triều.
…
Yến đi thêm một đoạn, bỗng gặp một coing trình khá lạ : là Văn miếu Phú Xuân! Hắn chẳng biết công trình này có từ bao giờ, thời sau Gia Long dời xuống nơi phường Hương Long chứ trước không biết ở đâu, thì ra là ở Triều Sơn.
Đây được coi là trung tâm khuyến học của toàn đàng Trong – nhưng văn miếu đầu tiên được sử sách ghi nhận lại ở Trấn Biên tức Đồng Nai, còn văn miếu Huế chưa thấy ghi rõ xây năm nào.
Văn miếu thực nước nào cũng có nếu thuộc vùng văn hoá Á Đông. Nhưng đặc điểm chung luôn có cái cổng đi vào gọi là Linh Tinh môn – Linh Tinh 欞星門, Linh Tinh ở đây nghĩa có thể giải thích là cổng của những song cửa tựa ngôi sao. Vào trong, có 2 lớp, lớp ngoài để mấy gian nhà thờ các vị đại thần, trong khi lớp trong phải đi qua Đại Thành môn 大成門 và Đại Thành điện 大成殿 – nơi thờ Khổng Tử.
Ở đâu thì cũng đều có 2 loại môn và Đại Thành điện. Yến trước đây là không có tiền đi Hà Nội để xem thử Văn miếu Thăng Long như nào, nhưng mà suy đoán của hắn thì Văn miếu Huế giờ còn sơ khai và đơn giản – dẫu các chúa mỗi đời có tổ chức thi cử nhưng không thống nhất, toàn bộ là ngẫu hứng, nên chưa có việc khắc tên lên bia khi đỗ đạt.
Yến vào trong, thấy bảng “Vạn Thế Sư Hiển 萬世師表” tức người thầy vạn đời. Có sẵn hương nhan, hắn lấy lửa ngón đuốc gần đó – nay hắn quên mang đá lửa, kỹ thuật thời xưa lấy đá lửa và thanh sắt xoẹt phát ra tia lửa để đánh, mà thực ra 2 viên đá lửa cũng được.
Khổng Tử 孔子 người nước Lỗ. Tạo đây xin không giới thiệu nhiều, hẳn ai cũng rõ rồi. Nhưng tại thế giới này : Khổng Tử có thể như là Đại Văn Thánh của nó – đặt ra những điều răn lời dạy để chuyển hướng đi của cả một vùng văn hoá, sống một cuộc sống an nhàn trước Thiên Mệnh. Yến thắp hương xong đi ra mà nhìn cảnh vật xung quanh.
Mấy năm đầu chúa Vũ trị vì Văn miếu rất được coi trọng, nhưng giờ cây cỏ mọc um tùm, lính tráng không ai canh… Hắn thấy trong góc còn có mấy thằng cu chăn trâu với mấy cha bợm nhậu ăn uống với nhau thành hội thành đúm.
Yến nhìn qua các bia – chúng chỉ khắc đúng một tên một bia, dưới đế mỗi bia đều có chạm khắc một con Linh Quy. Cái sạch sẽ duy nhất trong đám bia ấy là tấm bia khắc tên Đào Duy Từ – Khổng Minh của họ Nguyễn Phúc. Khác cái Khổng Minh thực sự cố gắng chống lại Thiên Mệnh nhưng không thành, còn Duy Từ là con của dân hát rong, bị phân biệt không cho thi làm quan, bỏ trốn vào Nam để được tận dụng – đời Từ theo Yến nghĩ cũng chưa đạt tầm Văn Thánh như Bỉnh Khiêm.
Nhưng Yến vẫn thắp cho Từ 3 nén hương tỏ lòng kính, rồi lại lên ngựa đi tiếp… Cái tôi của kẻ học đạo Nho khiến hắn phải tôn kính trước bậc cao học, mà tôn kính Từ cũng là nhờ Từ mà có luỹ Trấn Ninh và luỹ Trường Dực tựa như Vạn Lý Trường Thành ngăn quân Bắc Hà xâm lấn Nam Hà.
Qua chợ An Lỗ – ngôi chợ lớn nhất huyện Hương Trà sau Đông Gia, phải đi qua bằng ghe bằng thuyền nên hắn phải trả hai lần tiền để mang cả hắn và con ngựa qua. Hắn cũng tiện mua vài đồ trước khi thực sự về làng : vài bộ đồ cho chị Gà, một cây gậy chống cho Trâu, bộ ấm chén dĩa mới cho Thuần, còn mẹ hắn thì hắn mua cho bộ đồ và vài chỉ vàng.
Sở dĩ mua vàng không phải vì hắn muốn coi độ giàu có – mà là tiện coi độ bất ổn của nền kinh tế. Giá trị của vàng khác tiền ở chỗ nó có giá trị thực chất hơn là tính quy ước của tiền, nếu gia vàng tăng cao thì chứng tỏ nền kinh tế – chính trị đang có nhiều biến động lớn. Hắn hỏi bà chủ thì biết đâu năm trước giá 10 quan giờ đã 16 quan – chứng tỏ nền kinh tế đang gặp biến động lớn.
Điều này luôn được hắn dùng để nhận định những biến động lớn của thế giới hiện đại, và giờ là quá khứ. Mua 3 chỉ xong đi tiếp, sở dĩ lần này hắn về quê không phải ngẫu hứng mà là gần tết nhất tới nơi rồi, nên hắn về với tâm trạng đón tết như bao người con xa hương khác – mà vậy thì đi xa phải mang về tí quà cho đúng lễ đạo.
Dọc đường tết nhất gần tới, không khí tết có thật, nhưng gần đây nhiều kẻ tán gia bại sản do ăn chơi nên ăn xin cũng rất đông, dọc đường lại tầm 5 – 6 tên ăn xin tiến lại gần hắn. Nơi chùa Giác Lương hắn trông đâu cả đám người đang nằm ngay dưới tán cây sung – há miệng chờ sung đúng nghĩa!
Trong cái đám đó còn có tên Đỗ Thanh Nhơn cũng đang nằm sõng soài ra với bọn thanh niên đó, kỳ lạ là Nhơn sao lại ở đây? Yến định bụng vào chùa hỏi tên này cho toả thú tò mò :
– Hữu đội trưởng răng lại nằm đây chờ sung? Bộ lương không đủ ăn hả? (Yến)
– A! Mắt lão! Ngươi tới đây hay lắm, có tiền khôn (không? Cho ta vài đồng nờ! – Nhơn nói cái rồi ngồi thẳng dậy –
– Tiền lương ngươi đi mô rồi? Nói. (Yến)
– Cho vợ rồi! Rứa giờ cho tiền khôn (không) để ta nằm tiếp? (Nhơn)
– Tiền không cho, ăn thì ta bao, ý ngươi răng? – Yến mời vậy cũng có ý lôi kéo Nhơn theo hắn về Thanh Hà chuẩn bị kế sự –
– Ây?! Được! Được, tới nhà mạ ta ăn luôn hây? Mạ ta nấu ngon lắm! – Nhơn nói cái liền cầm tay Yến mà dắt đi –
Quán xá Hoa Lang có bước phát triển hơn trước, đỡ hơn một số làng hắn đi qua. Quán ăn của mẹ Nhơn – một quán ăn nho nhỏ nhưng khá hiện đại với quy chuẩn thời ấy, bàn ghế gỗ nhưng có đánh bóng sơn đen nhìn sang hẳn vệ đường, có cả mái để che sân khá cao – chứng tỏ nhà này giàu có chứ chẳng nghèo khổ gì, thế mà Thanh Nhơn lại đi há miệng chờ sung, chắc chỉ tổ sợ vợ nên mới đưa hết cho vợ thật.
– Lương ngươi tháng mấy mà nộp hết cho vợ ghê rứa? – Yến chợt hỏi –
– Hà hà, đại nhơn khôn (không) biết chơ… bữa ni tri huyện cắt xén bớt chút đỉnh, còn mô 1 quan 1 tháng, chả đủ để sống! Toàn nhờ nhà vợ nuôi hộ, ha ha ha…! (Nhơn)
Ừ thì tên Nhơn này bị mồ côi mà, không có nhà có cha có mẹ nhưng được cái có tài. Yến nghe việc tri huyện tham nhũng thì để giải quyết sau, giờ hắn không màng tết nhất đi bắt tham quan – dẫu sao tước hầu của hắn không to như tước tri huyện.
Hai người kêu vài món như gà bóp, cơm – đựng trong các niêu nhỏ, với rượu – nhưng thực chất Yến từ trước tới nay không uống, dù cho độ cồn rượu xưa thua xa rượu hiện đại…