Chương 146: Đỗ Tử Bình hiến kế.
Nghệ Tông Trần Phủ là con trai thứ 3 của Minh Hoàng tiên đế. Trần Phủ từng được Minh Tông nhận xét là người hiền lành trung thực, tỉ mỉ chu đáo, tài hoa tuy có nhưng tính cách không khen không chê chính là thiếu quyết đoán, không có trí lớn, nếu không có người hiền giúp sức thì khó gánh trọng trách. Nên dù rất yêu quý Trần Phủ nhưng Minh Tông không chọn Trần Phủ cho ngôi cửu ngũ, kể cả khi đứa con cả Trần Vượng – Trần Hiến Tông chết trẻ thì Minh Tông cũng quyết định chọn con thứ 10 là Trần Hạo – Trần Dụ Tông tài năng so với Nghệ Tông còn kém một bậc để kế thừa đại thống.
Trong loạn Dương Nhật Lễ dường như những điểm yếu trong tính cách của Nghệ Tông từng được Minh Tông nhận xét đã bộc lộ toàn bộ. Dù giữ trong tay chức thái sư lại từng là Phiêu kỵ thượng tướng quân, Trần Phủ có đủ khả năng lẫn quân đội để hỗ trợ các huynh đệ của mình trong binh biến chống lại Nhật Lễ năm Đại Định thứ 2 (năm 1370) nhưng Trần Phủ quyết định chọn nằm im nhìn thời, kết quả khiến binh biến thất bại. Toàn bộ 17 vương hầu tham gia binh biến đều bị xử chém, còn bản thân Trần Phủ có con gái đang làm Hoàng hậu, vì sợ vạ lây nên Trần Phủ quyết định bỏ lên Đà Giang. Về sau, nếu không có Trần Kính lo sắm sửa mọi vũ khí trang bị cho quân đội, cùng với Thiên Ninh công chúa ở bên động viên thì có lẽ Trần Phủ cũng không đủ quyết tâm kéo quân về Thăng Long đánh Nhật Lễ để nối lại đại thống cũng không đủ quyết tâm để kế thừa ngôi cửu ngũ.
Mới đây thôi, khi có loạn Chiêm Thành, chỉ cần nghe tin Hồ Quý Ly bại trận ở đồng bằng sông Hồng, quân giặc đã kéo đến bến Thái Tổ mà Nghệ Tông Trần Phủ đã không do dự mà lên thuyền chạy sang Đông Ngàn. Bỏ mặc Thăng Long bị cướp phá. Tới nay, mới chỉ nghe trấn Lạng Sơn có quân làm phản, Nghệ Tông đã muốn đứng ngồi không yên. Nghe Đỗ Tử Bình nói thế, Nghệ Tông liền hỏi tới:
– Đỗ ái khanh, nếu đã thế theo khanh chúng ta phải đối phó thế nào?
Đỗ Tử Bình rất biết đoán ý bề trên để lựa lời nói theo, Đỗ Tử Bình liền chắp tay thưa:
– Bẩm Hoàng thượng, quân phản nghịch mới chớm nổi lên, ta nên dồn sức mà dập ngay đi chớ để lâu dài mà sinh khó. Vi thần đề xuất, triều đình cử đại tướng dẫn quân từ kinh sư theo đường qua trấn Thái Nguyên hợp quân với quân lộ Thái Nguyên trực chỉ phía bắc đánh thẳng vào phản quân. Cử trấn phủ trấn Lạng Sơn Nguyễn Nạp Hòa dẫn quân bản bộ tấn công từ phía đông phản quân, cử trấn phủ trấn Thiên Hưng Nùng A Sòng dẫn quân bản bộ tấn công từ phía tây. Ba mặt giáp công vây chết phản quân vào giữa, tin rằng sẽ dễ dàng phá được kẻ địch.
Nghe kế hoạch của Đỗ Tử Bình, mồm Trần Quốc Toản muốn há ra rớt luôn hàm dưới. Kế hoạch quá hoàn hảo, hoàn hảo tới mức Trần Quốc Toản muốn lao vào bóp chết luôn vị hành khiển họ Đỗ kia. Có ai đời đem 3 lộ quân, quân số gần 10.000 quân tính thêm phu dịch thì phải tới 30.000 người để đi truy quét nhóm phản quân chưa tới 300 người ăn còn chẳng đủ no không? Có lẽ chỉ mấy tên điên thừa tiền mới làm như thế. Ấy thế mà nhìn Nghệ Tông lại có vẻ xuôi xuôi mới chết người.
Nhưng Nghệ Tông chưa kịp cất tiếng thì Đại tướng quân Đỗ Lễ vội bước ra can gián:
– Đỗ Hành khiển, đổi phó với một đám phản tặc cỏn con mà huy động tới quân đội của 3 trấn như thế có quá không? Khác nào giết gà bằng dao mổ trâu. Theo ta, trước cần gửi thư chiêu an, sau chỉ cần một nhóm quân tinh nhuệ đột kích vào bản doanh phản quân là đủ, không nên điều động đại quân vừa quá tốn kém mà vừa khiến chúng kinh sợ mà chạy mất.
Đỗ Lễ vừa dứt lời, chưa kịp để Đỗ Tử Bình phản bác Lê Quát vội bước ra truy vấn:
– Đúng thế, Đỗ hành khiển. 3 lộ đại quân tổng quân số phải tới 10.000 người, chưa kể dân phu phục dịch nữa thì phải tới 30.000 người. Chỉ tính riêng lương thảo đã tới vạn thạch lương, đây là chi phí khổng lồ cho triều đình vào lúc này nhất là khi vụ xuân bị ảnh hưởng không ít, triều đình cần cất giữu lương thảo phòng nạn đói. Chưa biết rõ nguyên nhân và quy mô của phản quân mà huy động đại quân như thế là quá mức hao phí.
Đỗ Tử Bình không chịu kém cạnh, là Hành khiển tham mưu quân sự đồng tri hắn không thể mất mặt ngay lần đầu hiến kế được. Hắn có thừa lý do hợp lý để tự bào chữa cho mình:
– Đỗ đại tướng quân, Lê thượng thư, phản tặc dù có ít nhưng là ở giữa rừng núi bạt ngàn. Không như với chúng ta đấy là nơi rừng thiêng nước độc, còn với chúng thì đấy là nhà, nơi chúng thông thuộc mọi đương đi ngóc ngách. Nếu chúng ta không huy động đại quân để bao vây tiêu diệt toàn bộ bọn chúng, để chúng thoát được vào rừng sâu thì cuộc chiến sẽ bị kéo dài. Chỉ cần chúng ta lui đi chúng sẽ lại tới, chiến tranh sẽ liên miên không dứt. Chẳng lẽ hai vị đại nhân không biết chân lý đau ngắn còn hơn đau dài, thà bốc thuốc nặng để trị dứt mầm bệnh còn hơn để âm ỉ mãi không thôi.
“Đúng thế, đúng thế, Đỗ hành khiển nói rất đúng” Đỗ Tử Bình vừa dứt lời thì xung quanh liền xì xào những tiếng ủng hộ, Lê Quát còn chưa kịp nghĩ cách ứng phó. Cơ bản là theo lý thuyết thì lý do nó quá hợp lý, hợp lý tới không cãi được. Đến Trần Quốc Toản cũng nghĩ thế, nhưng mồm Trần Quốc Toản thì lại khác:
– Ngu xuẩn.
Tiếng Trần Quốc Toản dù rất nhỏ nhưng với thiết kế đặc biệt của điện Thiên An khiến mọi người nghe rõ mồn một. Giữa rừng quan viên đang ngạc nhiên hướng tầm mắt về chủ nhân giọng nói, vốn đã cay Trần Quốc Toản từ trước Đỗ Tử Bình lại càng nghiến răng ken két tức giận:
– Hoài Văn vương, đây là triều đình, dù ngài là vương gia cũng đừng phát ngôn bừa bãi. Xin ngài nói rõ ra, có phải ngài vừa nói ta “Ngu xuẩn”.
Trần Quốc Toản bước ra khỏi hàng vái Nghệ Tông bên trên rồi mới quay lại phía Đỗ Tử Bình gật đầu xác nhận khiến xung quanh trợn tròn mắt kinh ngạc, nhưng không chửi lại được vì dù gật đầu như thế nhưng mồm Trần Quốc Toản thì lại nói khác:
– Đúng là ta có nói “ngu xuẩn” nhưng đó là lời mẹ muốn truyền đạt thay người.
“Phụt” Lê Quát không kìm được mà khẽ phụt ra tý thì cười thành tiếng khiến hắn phải xấu hổ cúi đầu lùi xuống cáo lỗi. Còn Trần Kính đứng bên cạnh vương phi mặt đỏ bừng, môi mím chặt, hắn phải bấu thâm nốt đùi bên cạnh mới nhịn được cười. Mọi ánh mắt đều đang hướng về vương phi, hắn thì đứng ngay cạnh người nên không thể để mất hình tượng được. Trong đầu Trần Kính không ngừng thầm chửi Trần Quốc Toản “thằng ranh lươn lẹo” không ngờ chỉ đứng xem thôi mà hắn cũng khổ thế này.
Trong ánh mắt mong chờ của mọi người xung quanh và cả Nghệ Tông bên trên, vương phi hơi bất ngờ với trò của Trần Quốc Toản nhưng vẫn giữ vẻ uy nghiêm gật đầu cái rụp xác nhận:
– Đúng thế, là ý của ta đấy. Ngươi không ngu xuẩn thì còn ai ngu xuẩn nữa. Cái thứ mưu kế ngu xuẩn. Muốn biết vì sao thì để yên nghe Quốc Toản nói cho mà nghe. Quốc Toản, con nói đi.
Trần Quốc Toản khẽ vái Nghệ Tông xin ý kiến, Nghệ Tông dù đối với lời nói ngông cuồng của Trần Quốc Toản có chút khó chịu, nhưng vương phi đã nhận nên đành bỏ quả. Hơn nữa hắn cũng muốn nghe ý kiến của Trần Quốc Toản thế nào, Nghệ Tông phất ống tay áo rồi nói:
– Được rồi, Hoài Văn vương, ngươi nói thử xem.
Trần Quốc Toản khom người cúi thấp lớn giọng:
– Thân tuân chỉ.
Nói xong, Trần Quốc Toản quay sang nhìn Đỗ Tử Bình bắt đầu diễn thuyết khá hùng hồn:
– Năm xưa, Đại Việt chúng ta từng có một người đơn thương độc mã xông vào hang cọp mà khuất phục Trịnh Giác Mật, thủ lĩnh một mạn Đà Giang. Cái gương Chiêu Văn Đại Vương còn đó chẳng lẽ mọi người quên rồi? Chiêu Văn Đại vương đã từng nói “Con người trên đời bất kể miền xuôi hay miền ngược cuối cùng đều có chung một loại mưu cầu, đó là được sống, được sống tốt hơn. Nếu có cuộc sống tốt liệu mấy ai lại muốn xách lên đồ đao để chém giết? Chỉ khi không sống nổi nữa người ta mới phải vùng lên tìm mọi cách để giành giật lấy sự sống về cho mình và cho người thân. Các trấn miền biên viễn, miền núi cũng thế, cuộc sống của họ quá khó khăn, quá vất vả, nhiều khi thứ họ cần chỉ là chút muối cho bữa ăn, chút sắt để làm vũ khí săn thú rừng, chút vải vóc để giữ ấm. Đấy chỉ là những thứ cơ bản với chúng ta nhưng lại lại niềm mơ ước với họ. Chỉ cần ta đáp ứng được cho họ những nhu cầu cơ bản để cuộc sống được tốt hơn, tôn trọng văn hóa của họ thì họ sẽ là phên dậu vững chắc nhất cho chúng ta……”.
Vài nho sĩ nghe tới mê say, đầu khẽ gật gù ưng theo cái giọng ồm ồm ấm ấm của Trần Quốc Toản đang diễn thuyết, cử chỉ nho nhã cũng rất vừa mắt. Nhưng chớp cái Trần Quốc Toản liền trở lại với vẻ mặt non nớt của mình:
– Đấy, nguyên văn lời của Chiêu Văn Đại Vương đã dạy bảo như thế? Đã có ngài làm gương sao mọi người không học theo, chưa hỏi nguyên nhân, chưa thử chiêu an mà đã muốn dơ đồ đao lên để chém chém giết giết là thế nào?
Nói xong, Trần Quốc Toản liền bước về hàng mặc kệ ánh mắt tiếc hận của đám nho quan, Trần Kính thì biết tỏng nên chưa gì đã ghé tai hỏi nhỏ:
– Sao đệ rành chuyện này, lại còn nhớ lời của Chiêu Văn Đại Vương từng nói? Vương phi kể cho đệ à? Mấy lời này ta thấy sử sách đâu có ghi?
Trần Quốc Toản không thể thừa nhận năm xưa mình gặp, nói chuyện rồi la cà ở phủ Chiêu Văn Đại Vương suốt được nên đành ghé tai thì thầm lại:
– Đệ bịa ra đấy.
– Thằng ranh, làm ta tưởng lời của Đại vương thật. Chuyện này đệ có nắm chắc không? Đệ biết tiếng của mấy dân tộc này à?
Trần Kính thật sự muốn bợp cho Trần Quốc Toản một cái vì cái tính lươn lẹo nhưng cũng có chút lo lắng với quyết định mạo hiểm này. Trần Quốc Toản thì thầm tiếp lời:
– Ngaidai, botong kangvon.
Trần Kính nhăn mặt khó hiểu, tưởng mình nghe không rõ hỏi lại:
– Đệ lảm nhảm gì đó?
Trần Quốc Toản khẽ háy mắt ghé tai giải thích:
– Đơn giản, Huynh cứ yên tâm.
Trần Kính định hỏi tiếp xem tiếng Trần Quốc Toản vừa nói là tiếng gì? Nhưng Đỗ Tử Bình đã bước lên phản bác:
– Bẩm Hoàng Thượng, truyền kỳ về Chiêu Văn Đại Vương đúng là tấm gương sáng cho hậu thế noi theo. Nhưng thời điểm đó, quân Nguyên đã áp sát biên giới, Chiêu Văn Đại vương cũng là tình thế bắt buộc mà phải tự dấn thân mình vào hang hùm, hi vọng có thể sớm dẹp yên nội loạn để tập trung chống giặc. Hơn nữa, có mấy ai được thông tuệ như Đại Vương, mấy ai hiểu được tiếng nói phong tục của những dân tộc miền núi, liệu có ai đủ can đảm dấn thân mình vào hang giặc để chiêu an như ngài.
Cái từ “truyền kỳ” thốt ra từ miệng Đỗ Tử Bình cứ như là đang nói chuyện của Chiêu Minh Đại Vương là do sử quan bịa ra vậy. Trần Quốc Toản rất muốn tiến lên vặn răng hắn ra, nhưng vế sau hắn nói cũng đúng. Các quan lại phía sau trước ánh mắt thăm dò của Nghệ Tông thì đều cúi đầu nhìn xuống đất, Lê Quát, Trương Đỗ không sợ chết nhưng họ không hiểu tiếng chứ đừng nói văn hóa của người thiểu số. Mất một hồi không thấy ai bước ra, Nghệ Tông đã định đổi ý thì Trần Quốc Toản liền bước ra khẳng khái:
– Nếu không ai dám đi thì để ta. Bẩm Hoàng thượng, thần xin tự nguyện đi chiêu an phản quân.
Nghệ Tông nghe thế thì bất ngờ, khẽ nhìn sang vương phi đoán ý, thấy vương phi vẫn nhắm mắt trầm tư không phản đối thì mới quay sang nói với Trần Quốc Toản:
– Quốc Toản, chuyện này trọng đại không thể nói bừa.