Chương 86: Thuật cản thi
Đầu giờ chiều, người Võ gia đến gọi: “Đạo trưởng, đồ đạc đã chuẩn bị xong. Ngài xem còn thiều thứ gì.”
“Được!” Chư Vấn đứng dậy kiểm tra một phen rồi gật đầu. Ngay sau đó lập đàn làm phép, cho kịp đi ngay tối nay.
Bàn phép bày giữ sân, đối diện căn phòng quan tài, cửa phòng mở toang, người Võ gia đứng xung quanh chầu chực. Chư Vấn nhìn trời, bấm ngón tay, thời gian còn một chút nữa, nhân lúc rảnh rỗi dạy đệ tử.
“Thuật cản thi có nguồn gốc từ người Miêu, lịch sử rất xa xưa. Theo đó, Xi Vưu đã dẫn quân đánh với Hoàng Đế bên bờ sông Hoàng Hà, rất nhiều binh lính phải bỏ mạng. Xi Vưu không nhẫn tâm chứng kiến cảnh đồng bào phơi thây ngoài đồng hoang.
Tuy nhiên, nhân lực không đủ, không thể mang thi thể về, nên ông đã cầu viện sự giúp đỡ của một thầy cúng. Vị thầy cúng này đã làm phép yểm lên xác chết, cầm phù tiết đi trước dẫn đường, các thi thể đứng dậy đi theo phía sau.”
Người làm thầy cản thi không chỉ là người dẫn đường cho thi thể về quê hương, mà còn giúp linh hồn người đã khuất được an nghỉ.
Để trở thành thầy cản thi, không phải ai cũng đủ tư cách, phải có thân thể khỏe mạnh, cơ bắp rắn chắc, sức bền tốt để chịu được những hành trình dài qua núi rừng, đèo dốc. Quan trọng hơn, họ cần có dương khí dồi dào để áp chế âm khí từ thi thể. Âm khí của người chết, đặc biệt là những thi thể chết oan, thường rất mạnh, dễ khiến người yếu bóng vía rơi vào trạng thái hoảng loạn hoặc bị ám.
Ngoài ra tướng mạo càng xấu xí, càng đáng sợ thì càng tốt vì bộ dạng hung tợn khiến yêu ma quỷ quái e dè, không dám đến gần, còn giúp xua đuổi những kẻ hiếu kỳ trên đường. Đám đông tò mò vây quanh có thể làm gián đoạn nghi thức, khiến thi thể bị ảnh hưởng bởi dương khí của người sống, dẫn đến khó kiểm soát.
Chư Vấn nhìn Vũ Hùng khẽ lắc đầu, mặc dù là con nhà thợ săn, cơ thể đen đủi rắn chắc, nhưng nét mặt vẫn rất sáng. Trừ một điểm.
Lão nói cậu đứng giữa sân xoay mấy vòng, sau đó dừng lại, chỉ đúng các hướng Đông Tây Nam Bắc. Vũ Hùng hoàn thành tốt. Cộng một điểm.
Đây là bài kiểm tra về phương hướng. Bởi lẽ cản thi thường diễn ra vào ban đêm, trên những con đường mòn, đường núi, đường rừng chằng chịt, bụi cây rậm rạp, không trăng không sao, dễ bị ma dẫn đường khiến đoàn cản thi lạc lối, đi vòng quanh, không tìm được lối ra. Vậy nên cần có trực giác phương hướng nhạy bén.
Thầy cản thi luôn đi đầu, tay cầm chuông đồng hoặc chuông nhỏ, vừa đi vừa gõ để dẫn đường cho thi thể. Âm thanh từ chuông vừa giúp định hướng vừa xua đuổi tà khí, giữ cho linh hồn không bị quấy nhiễu.
Nếu đoàn có nhiều thi thể, phải buộc với nhau bằng dây rơm, cách nhau đều đặn hai thước, tạo thành một hàng dài. Người học trò đi cuối, tay cầm bát nước đã được gia trì bùa chú, đảm bảo nước trong bát luôn bằng phẳng. Tục ngữ có câu: “Nước không nghiêng đổ, xác cũng không đổ”.
Ngoài ra bát nước còn biểu thị cân bằng âm dương, nếu như bát nước đột nhiên sóng sánh, chứng tỏ âm nơi đó dương mất cân bằng, cần nhanh chóng vượt qua.
Cản thi thường diễn ra vào ban đêm để tránh ánh sáng, tránh làng mạc, thị trấn, tránh người bởi vì dương khí sẽ ảnh hưởng thi thể.
Trên hành trình dài, đoàn cản thi vẫn phải ăn ngủ nhưng lại không thể tiếp cận con người, vậy là liền sinh ra các quán trọ đặc biệt, bọn họ treo lồng đèn trắng thắp sáng vào ban ngày, đoàn cản thi sẽ nhận ra ngay đây là nơi dành cho họ.
Quán trọ sẽ chuẩn bị một căn phòng riêng, nơi hai người sống ngủ trên giường, còn thi thể được dựng đứng cạnh cửa. Tục ngữ có câu: “Ba người trọ, hai người ăn cơm” chính là ám chỉ việc này.
Đêm trước khi thi thể được đưa về quê, người chết được cho là sẽ báo mộng cho gia đình, yêu cầu chuẩn bị quan tài, quần áo chôn cất và dọn dẹp nhà cửa. Khi đoàn đến nơi, thầy cản thi sẽ dựng thi thể ngay cạnh quan tài.
Sau đó, thầy rắc bát nước bùa chú xuống đất, thi thể lập tức ngã xuống, sẵn sàng cho việc tẩm liệm. Nếu không tẩm liệm ngay, thi thể có thể biến đổi hoặc phân hủy nhanh chóng, nguy hiểm nhất là thi biến trở thành cương thi.
Thầy cản thi tiếp tục hướng dẫn gia chủ chôn cất, nếu chôn không đúng cách sẽ khiến gia đạo suy sút, tệ hơn là thi biến hại cả làng cả trấn. Đến đây công việc mới xem là kết thúc.
Không phải thi thể nào cũng có thể dẫn bằng thuật cản thi. Có những quy tắc bất di bất dịch, được gọi là “3 cản, 3 không cản”:
Ba loại thi thể được cản:
Chết do bị chém đầu: Những người này thường chết oan uổng, hồn phách còn lưu luyến cõi trần, đặc biệt nhớ nhung người thân.
Chết do treo cổ: Tương tự, họ bị ép buộc phải chết, mang theo oán khí mạnh mẽ, cần được dẫn dắt để an nghỉ.
Chết vì hình phạt lồng đứng: Đây là những người chịu hình phạt tàn khốc, linh hồn chưa được siêu thoát.
Với những trường hợp này, thầy cản thi có thể dùng bùa chú để câu hồn phách, trấn giữ trong thi thể, và dẫn họ về quê hương.
Ba loại thi thể không được cản:
Chết do sấm sét: Người bị sét đánh thường mang nghiệp chướng nặng nề, hồn phách bị thiên lôi tiêu diệt, không thể gọi về.
Chết do nhảy sông: Hồn phách của họ thường bị kéo đi làm vật thay thế cho ma kéo chân, việc kéo lại hồn có thể gây rối loạn nhân quả.
Chết do bệnh tật: Hồn phách của người bệnh đã bị Diêm Vương triệu hồi, không thể câu lại từ Quỷ Môn Quan.
Ngoài ra, những thi thể bị lửa thiêu, da thịt không còn nguyên vẹn, cũng không thể áp dụng thuật cản thi, vì cơ thể không đủ điều kiện để giữ hồn phách.
Vũ Hùng gật đầu ghi nhớ.
Xét theo lẽ này thì không thể cản thi người Võ gia, bởi vậy các thầy dẫn mới từ chối cho đến khi gặp được Chư Vấn. Lão không theo lẽ thường mà làm.
Thời giờ đã đến, Chư Vấn mặc đạo bào màu đỏ, trước ngực sau lưng in hình hậu thiên bát quái. Lão làm lễ cúng gọi hồn người chết đang vất vưởng nhập lại thân thể.
Tiếp theo lão lấy thần sa (loại chu sa tốt nhất) bôi lên bảy chỗ: giữa trán, giữa lưng, giữa ngực, hai lòng bàn tay bàn chân, mỗi chỗ còn được dán một lá bùa, sau đó dùng vải năm màu quấn chặt lại. Vừa làm vừa dạy đệ tử, cũng là nói với người Võ gia.
“Bảy chỗ này là nơi thất khiếu xuất nhập, dùng thần sa bùa chú phong ấn là để giữ lại bảy phách của người chết.”
Vũ Hùng gật đầu ghi nhớ.
Sau đó, lấy một ít chu sa nhét vào tai, mũi, miệng người chết, rồi dùng Thần Châu phù bịt chặt. Vì tai mũi miệng là ba nơi hồn xuất nhập, làm như vậy có thể giữ lại hồn của người chết.
Đây thực chất chỉ là nghi lễ, người chết lâu hồn đã nhập Địa Phủ, có khi đi luân hồi rồi. Không còn hồn phách nên lão dùng chỉ tuyến điều khiển, bởi vậy thay vì luyện thi thì lão đang luyện khôi. Người ngoài nghề không nhận ra được khác biệt, làm vậy để yên tâm người nhà. Nhiều khi các lễ cúng không phải cúng cho người chết, mà là cúng cho người sống.
Cuối cùng còn phải bôi thần sa và dán thần phù đầy lên người chết, dùng vải năm màu buộc chặt, mặc lại quần áo sạch sẽ, đẹp nhất. Chư Vấn rung chuông đọc thần chú, lại cầm kiếm gỗ múa.
Kéo dài liên tục cho đến khi trăng lên, lão ngoắc ngón tay hét to: “Lên!”
Thi thể lập tức ngồi bật dậy khiến cho Vũ Hùng lẫn người nhà họ Võ giật bắn mình. Chư Vấn dán bùa lên trán từng xác chết.
“Chư vị, còn lời gì chưa nói thì nói hết đi.”
Người nhà họ Võ lập tức khóc òa lên, mếu máo nói mấy lời tiếc thương, hứa hẹn này nọ.
“Chư vị, thời gian đã đến, bọn ta phải lên đường. Mọi người không cần tiễn.”
Người nhà họ Võ: Ai muốn tiễn đâu!
Chư Vấn hai ngón tay kẹp lấy lá bùa hơ trước nến, lá bùa bốc cháy dữ dội, lão đồng thời niệm chú ngữ, sau đó nhúng lá bùa vào chén nước, đưa cho Vũ Hùng dặn: “Không được làm đổ, lúc nào nước sóng sánh mạnh thì nói sư phụ.”
“Vâng!” Cậu gật đầu, cẩn thận nhận lấy.
Lão lắc chuông, vừa đi vừa đọc: “Cát về với cát, bụi về với bụi. Người xa xứ trở về quê hương, xin mọi người nhường đường.”
Các xác chết nhảy tưng tưng, thẳng hàng bước theo. Vũ Hùng đi ở cuối hàng, mặc trường sam màu xanh, đeo đai lưng màu tối, đội mũ vải màu xanh, đeo chiêng đồng và túi vải. Chiêng đồng khi nào sư phụ nói thì sẽ đánh, còn trong túi vải là tiền giấy.
Bọn họ theo cửa sau chùa, hướng tây mà đi. Hướng đông đón mặt trời mang tính dương thăng, hướng tây chào mặt trời mang tính dương hạ hay âm thăng, phù hợp với việc dẫn thi.
Bọn họ men theo đường núi hẻo lánh, gặp ánh lửa thì tránh, cứ ba bước lại rung chuông một lần, thông báo nhà nào có chó thì nhốt lại. Không phải lý do tâm linh gì, chỉ tại bọn chó thích gặm xương.
Càng đi càng heo hút, gió lạnh thổi từng cơn khiến Vũ Hùng và lão khất co ro. Chư Vấn quay đầu, bực mình nói:
“Này, lão ăn mày sao còn theo bọn ta.”
“Hừ, đây là đường nhà ngươi chắc.” Lão khất mắng lại, cầm bình sứ đưa lên miệng uống một ngụm lớn, lập tức thấy toàn thân nóng ran, xua tan cái lạnh. Lão đưa cho Vũ Hùng, cậu còn nhỏ không uống rượu nhưng biết cần làm ấm cơ thể nên vẫn uống một ngụm, quả nhiên thấy dễ chịu hẳn.
Chư Vấn hừ một tiếng: “Bị ma bắt, ta không cứu đâu.”
“Ta còn muốn gặp ma hơn gặp ngươi.”