Chương 45: Nam Kinh Lục Triều
Tại sao lại rải kim trên đường? Đối với câu hỏi này, Chư Vấn cười nhạt, tay búng đồng xu, đồng xu xoay tròn trên không rồi rơi xuống đúng vị trí bước chân của lão vừa đi qua.
“Ngươi có nghe qua Nam Kinh Lục Triều?”
Kính Hà: “Có nghe qua. Có phải Nam Kinh làm kinh đô của sáu triều Đông Ngô của Tôn Quyền, Đông Tấn, Tống Triều, Tề Triều, Nhà Lương, Trần Quốc.”
La Hầu không hiểu chuyện hiện đại nên chỉ im lặng lắng nghe, đây cũng là cách hắn thu thập thông tin.
Chư Vấn gật đầu cảm thán: “Trải qua sáu triều nhưng dài nhất chỉ có Đông Tấn một trăm lẻ hai năm. Nam Kinh hình thế phong thủy cực đẹp có núi Chung (rồng xanh) ở phía đông, núi Thanh Lương (hổ trắng) ở phía tây, Chu Tước Minh Đường (phía nam) và hồ Huyền Vũ (phía bắc). Tiểu tử Gia Cát Lượng đã từng cảm thán:
Chung Sơn long bàn, thạch đầu hổ cứ, chân nại đế vương chi trạch dã (nghĩa là: Núi Chung thế rồng cuộn, đá hình hổ phục, thật là chốn đế vương vậy.)”
Nam Kinh vương khí ngập tràn như thế nhưng các vương triều định đô ở đây đều không tồn tại lâu. Vì sao?”
“Vì sao?” Kính Hà hỏi lại.
Chư Vấn bật cười: “Tất nhiên là có kẻ làm chứ sao?”
Vào thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc, Sở vương đánh đuổi Việt vương, đóng quân ở bờ sông Sư Tử Sơn. Có lần, Sở vương muốn dò xét lãnh thổ của mình, liền leo lên Sư Tử Sơn. Nhìn bao quát bốn phía, thấy nơi đây phong cảnh hùng vĩ, tráng lệ, Sở vương hết sức vui vẻ. Nhưng sau đó sắc mặt ông lại nhanh chóng trầm xuống.
Các đại thần vội hỏi nguyên nhân, Sở vương lúc đấy mới phiền não mà nói: “Nơi này phong cảnh tuy tốt nhưng vương khí quá thịnh!”
Các đại thần liền hiểu, không thể để cho nơi đây sản sinh ra một bậc đế vương khác. Có vị pháp sư đã nghĩ ra một cách: chôn trên Sư Tử Sơn một ít tiền vàng để trấn yểm.
Một khi vương khí bị ém, đảm bảo không xuất hiện thêm một vị đế vương tranh giành thiên hạ. Sở vương nghe xong liền đồng ý, các vị đại thần nhanh chóng điều quân lên núi Sư Tử đào hầm trấn yểm.
Theo tập quán bấy giờ, công trình kiến trúc xây dựng trên mặt đất gọi là “cung” công trình ngầm dưới đất thì gọi là “lăng”. Như vậy, hầm có chôn theo vàng được gọi là “Kim Lăng”. Tên gọi đầu tiên của Nam Kinh là Kim Lăng ấp.
Lại vào thời Tần, Tần Thủy Hoàng đi tuần Kim Lăng. Trong lúc Tần Thủy Hoàng bị cái thế “long bàn hổ cứ” của vùng đất này thu hút, hai vị đạo sĩ đi cùng sắc mặt lại vô cùng nặng nề.
Thủy Hoàng liền hỏi: “Kim Lăng địa thế thuận lợi, cảnh sắc tráng lệ, hai ngươi vì sao lại trầm mặc như vậy?”
Hai vị đạo sĩ khi ấy mới lo lắng trả lời: “Kim Lăng địa thế hiểm yếu, khí thế tràn đầy, lại nằm trên long mạch, vương khí vô cùng vượng, nếu không có đối sách, năm trăm năm sau sẽ xuất hiện bậc thiên tử.”
Tần Thủy Hoàng nghe vậy thì sầm mặt. Ông tự xưng là Thủy Hoàng tức là Hoàng đế đầu tiên, lại muốn con cháu mình phải đời đời trị vì thiên hạ, sao có thể dễ dàng bỏ qua cho Kim Lăng sản sinh ra một đế vương khác?
Ngay sau đó, Tần Thủy Hoàng hỏi hai vị đạo sĩ về đối sách trấn yểm vùng đất này. Hai vị chỉ vào ngọn núi gần đó mà nói:
“Phương Sơn nằm ở phía đông nam Kim Lăng, đỉnh núi bằng phẳng như quan ấn, được gọi là Thiên Ấn Sơn. Đó chính là ngọc ấn trời ban, quyết định sự thịnh suy và số phận của Kim Lăng. Chặt đứt long mạch ngọn núi này, chính là cắt đứt vương khí nơi đây.
Sau đó đổi dòng chảy của sông Hoài đi qua Kim Lăng, thông với Trường Giang, khiến cho sông Tần Hoài lấn át vương khí, bệ hạ có thể an tâm sở hữu ngôi báu đời đời.”
Ngay sau khi Tần Thủy Hoàng ra lệnh, quân đội được huy động để chặt gãy núi Phương Sơn, đổi dòng sông Hoài cho sông chảy qua địa phận Kim Lăng.
Tần Thủy Hoàng khi ấy thấy phía bắc có Sư Tử Sơn, Mã An Sơn, khí thế hùng vĩ nên đã ra lệnh chặt gãy cả hai tòa núi này.
Sau đó, ông đổi tên Kim Lăng thành Mạt Lăng. Chữ “mạt” có hàm ý coi nơi đây chỉ là nơi nuôi ngựa (thành ngữ Trung Quốc có câu “Mạt mã lệ binh” nghĩa là trước khi chiến tranh, cho ngựa ăn no, mài sắc binh khí).
Kính Hà gật gù đã hiểu, sau đó lại thắc mắc: “Vì sao dùng kim ngân lại trấn áp được vương khí?”
Chư Vấn dùng chân phủi nhẹ lớp đất, vùi đồng xu xuống dưới, ánh mắt lão thoáng hiện tia sáng. “Kim ngân, tiểu tử, không chỉ là tiền vàng hay bạc đơn thuần. Trong phong thủy, chúng mang ý nghĩa sâu xa hơn nhiều.”
Kính Hà tò mò, nhíu mày hỏi: “Ý nghĩa sâu xa? Chẳng lẽ không phải vì giá trị vật chất?”
Chư Vấn bật cười, giọng trầm trầm:
“Nam Kinh có núi Chung hành Mộc, có núi Thanh Lương hành Thổ, có Chu Tước Minh Đường hành Hỏa, có hồ Huyền Vũ hành Thủy. Chỉ còn thiếu hành Kim sẽ tạo thành chu thiên tự vận chuyển. Nếu ở đây xây dựng Đế Lăng hành Kim chính là đất đế vương đời đời. Nhưng không phải hành Kim nào cũng được.
Trong phong thủy ngũ hành, mệnh Kim có 6 nạp âm là Kiếm Phong Kim, Hải Trung Kim, Bạch Lạp Kim, Sa Trung Kim, Thoa Xuyến Kim, Kim Bạch Kim. Các biểu tượng đại diện và ý nghĩa của từng nạp âm hành Kim được thể hiện cụ thể như sau:
Kiếm Phong Kim (Vàng đầu kiếm): Vàng trên đầu mũi kiếm hoặc trong thân kiếm sắc bén. Ứng với người nhạy bén, thông minh, nhìn xa trông rộng, nghị lực, kiên cường, ấm áp, dễ lập nên cơ đồ. Nhược điểm là khó tính, thậm chí khắt khe với bản thân, nóng tính, bảo thủ. Đây là mệnh Kim mạnh nhất vì thuộc chính vị hành Kim, có Kim khí thịnh nhất, hội tụ vị trí Lâm Quan và Đế Vượng, đi ngược quy luật tương khắc của mệnh Kim. Mũi kiếm sắc bén của nạp âm này trải qua trăm đao ngàn trảm, tập trung tinh hoa cao độ, khắc chế mọi vật thô cứng.
Hải Trung Kim (Vàng trong biển): Vàng chìm sâu dưới đại dương. Ứng với người điềm tĩnh, tâm tư sâu xa, hiền hòa, công bằng, thẳng thắn. Nhược điểm là không chủ động, thiếu xông xáo, ít bộc lộ nên có thể bỏ lỡ nhiều cơ hội trong cuộc sống. Đây là mệnh đại thần nguyên lão.
Bạch Lạp Kim (Vàng chân đèn): Vàng bị nung chảy thành sáp trong nến hoặc chân đèn. Ứng với người nhiệt tình, nhanh nhẹn, tự lập cao, chính trực. Khuyết điểm là hơi thiếu chính kiến, hay nóng nảy, vội vàng nên dễ nản và khiến mọi việc không đi đến đâu. Đây là mệnh của tân sĩ.
Sa Trung Kim (Vàng trong cát): Vàng lẫn với cát, có sự cứng cáp nhưng dễ bị gió thổi bay. Ứng với người thân thiện, hòa đồng, sống theo khuôn phép, sống kín đáo, hiền lành, nhân hậu, khiêm tốn. Nhược điểm là thường làm việc đầu voi đuôi chuột nên cần trải qua rèn luyện, bỏ nhiều công sức mới thành công. Đây là mệnh của nho sĩ.
Thoa Xuyến Kim (Vàng trang sức): Vàng làm trang sức quý giá và sang trọng. Ứng với người hòa nhã, điềm đạm, quý phái, lịch sự, thanh tao, sống khá nội tâm và kín đáo. Nhược điểm là dễ tự mãn và kiêu ngạo nên vô tình vướng vào rắc rối về công việc, cuộc sống. Họ rất phù hợp với con đường nghệ thuật nhưng nam mệnh này nên song hành với vợ để dễ thành công hơn. Đây là mệnh nghệ sĩ hoặc quý phụ phu nhân.
Kim Bạch Kim (Vàng tinh khiết): Vàng pha bạc hay vàng mạ bạc, tượng trưng cho sự tinh khiết nhưng đã qua pha trộn. Ứng với người lạnh lùng, cứng rắn, quyết đoán, cô độc, có chí tiến thủ và đáng tin cậy. Nhưng có cái tôi lớn nên dễ dẫn đến bảo thủ, cần được mài dũa qua thử thách mới đạt thành tựu. Đây là mệnh của tướng sĩ.”
“Kim ngân vốn từ quặng trong đất, sau lại chôn trong cát nên thuộc về Sa Trung Kim, sắc bén cứng cỏi nhưng dễ bị thổi bay. Sa Trung Kim hoàn thiện ngũ hành chu thiên nhưng khiến vương khí hạ xuống một bậc. Sinh ra vương nhưng không thể sinh ra đế. Đó là lý do sáu triều đều ngắn ngủi, không thể thống nhất đại lục.”
La Hầu dù không hiểu hết những thuật ngữ phong thủy, vẫn chăm chú lắng nghe. Hắn khẽ gật đầu, ghi nhớ từng chi tiết.
Kính Hà lại hỏi tiếp: “Tại sao không trực tiếp phá hủy mà còn để Nam Kinh sản sinh ra nhiều triều đại như vậy?”
Chư Vấn nhếch môi, nụ cười mang theo chút bí ẩn: “Tiểu tử, phong thủy không phải vạn năng. Dù có trấn yểm, con người vẫn có thể thay đổi số mệnh. Kim Lăng được trấn bằng vàng, nhưng lòng người và thời thế mới là thứ quyết định. Cứng rắn thay đổi sẽ gặp phản phệ nên việc trấn yểm chỉ làm suy yếu vương khí, không thể xóa sạch hoàn toàn. Những triều đại như Đông Tấn, dù tồn tại không lâu, vẫn có thể trỗi dậy nhờ nhân tài và vận mệnh. Nhưng ngươi nghĩ xem, nếu không có những lần trấn yểm của Sở vương hay Tần Thủy Hoàng, liệu Nam Kinh có sản sinh ra một đế quốc hùng mạnh hơn?”
Kính Hà trầm ngâm, ánh mắt lướt qua con đường đất ẩm, nơi Chư Vấn vừa rải kim. “Vậy việc rải kim trên đường này… cũng là để trấn yểm? Dùng cách tương tự phá Trường An.”
Chư Vấn gật đầu nói: “Đúng vậy. Con đường này dẫn đến một nơi đặc biệt… Long Nhãn. Chọc mù mắt rồng sẽ khiến triều đại u mê dễ tin lầm gian thần, sủng ái loạn phi. Hắc hắc hắc…”
Đi được hồi lâu, đến gần đỉnh núi, Chư Vấn bấm ngón tay, ánh mắt tỏa sáng: Ha ha ha… đã tìm được Long Nhãn. Chỉ còn cách ba mươi hai bước.
Lão tăng tốc, chỉ còn một đoạn ngắn, khi lão vén đám cỏ rậm rạp ra thì thoáng chút sững sờ, không ngờ có người đến trước mình.
Ghi chú: cho ai tò mò mình thuộc mệnh Kim gì.
Kiếm Phong Kim: Nhâm Thân (1932, 1992) Quý Dậu (1933, 1993)
Hải Trung Kim: Giáp Tý (1984, 1924) Ất Sửu (1985, 1925)
Bạch Lạp Kim: Canh Thìn (1940, 2000) Tân Tỵ (1941, 2001)
Sa Trung Kim: Giáp Ngọ (1954, 2014) Ất Mùi (1955, 2015)
Thoa Xuyến Kim: Canh Tuất (1970, 2030) Tân Hợi (1971, 2031)
Kim Bạch Kim: Nhâm Dần (1962, 2022) Quý Mão (1963, 2023)