Chương 22: Lê Duy Cự
Cùng lúc đó, ở một hướng khác, bánh xe ngựa của Nguyễn Đình Chương rít lên ken két khi bị dồn vào một con hẻm núi, phía trước là vách đá dựng đứng. Con đường cụt.
Hơn hai mươi tên sát thủ áo đen, lăm lăm đao kiếm, từ từ siết chặt vòng vây. Mùi máu tanh từ những người hộ vệ đã ngã xuống xộc lên nồng nặc. Tên thủ lĩnh sát thủ ra lệnh:
“Giết tên cầm đầu, những kẻ khác không cần quan tâm!”
Nguyễn Đình Chương, y phục gấm vóc giờ đã rách bươm và lấm lem bùn đất, tay nắm chặt chuôi kiếm, bật ra một tiếng cười điên cuồng. Hắn không còn vẻ công tử ăn chơi, mà là một con thú bị dồn vào chân tường, đôi mắt đỏ ngầu, gầm lên:
“Muốn lấy đầu của bổn công tử sao? Được thôi! Hôm nay, ta sẽ cho chúng bay biết, con cháu nhà Nguyễn không phải là kẻ dễ bị bắt nạt!”
Xong cùng năm người hộ vệ trung thành cuối cùng, lưng tựa vào thành xe ngựa, gầm lên một tiếng rồi lao vào đám sát thủ. Một cuộc chém giết không cân sức bắt đầu. Nguyễn Đình Chương, kẻ thường ngày chỉ quen cầm chén rượu, giờ đây vung kiếm như một kẻ điên. Không phòng thủ, chỉ tấn công, dùng một vết thương của mình để đổi lấy một mạng của địch.
Nhưng lấy ít địch nhiều. Một hộ vệ ngã xuống, lưng cắm đầy tên. Một người khác bị chém đứt cánh tay nhưng vẫn dùng thân mình lao vào cản đường cho chủ. Máu văng tung tóe, nhuộm đỏ cả vạt áo của Nguyễn Đình Chương. Chẳng mấy chốc, chỉ còn lại một mình hắn, toàn thân be bét máu, hơi thở hổn hển, lưng tựa vào vách đá lạnh lẽo.
Vòng vây của đám sát thủ siết lại. Tên thủ lĩnh chậm rãi bước tới, lưỡi đao còn nhỏ máu. Hắn không ra tay ngay, mà muốn tận hưởng sự tuyệt vọng của con mồi.
Nguyễn Đình Chương nhìn lưỡi đao đang tiến lại gần, biết mọi chuyện đã kết thúc, nhắm mắt lại, một giọt nước mắt lăn dài trên khuôn mặt lấm lem. Hắn lẩm bẩm, giọng khản đi:
“Nhị ca… Cao huynh… xin lỗi… đệ đi trước một bước.”
Hắn đưa thanh kiếm lên, định tự kết liễu để bảo toàn danh dự.
Ngay khi mũi kiếm Sắp chạm vào cổ họng…
“Vút! Vút! Vút!”
Từ trong bóng tối của rừng cây hai bên hẻm núi, một loạt tiếng rít gió ghê rợn vang lên. Không phải phi tiêu, mà là những mũi tên nhỏ, đen nhánh, bay ra với một tốc độ kinh hoàng. Chúng không nhắm vào Nguyễn Đình Chương, cũng không nhắm vào tay chân, mà găm chính xác vào yết hầu của ba tên sát thủ đang đứng gần hắn nhất. Ba cái xác ngã xuống không một tiếng động.
Đám sát thủ kinh hoàng, vội vàng lập thế trận phòng thủ, nhìn trừng trừng vào bóng đêm. Sự sợ hãi đối với một kẻ địch vô hình, chết chóc bắt đầu lan tỏa.
Một giọng nói lạnh lùng, không rõ từ đâu, vang vọng khắp hẻm núi, như tiếng của một con chim cú ban đêm:
“Lui.”
Chỉ một từ duy nhất, nhưng mang theo một uy quyền không thể kháng cự. Tên thủ lĩnh sát thủ, dù tàn độc, nhưng cũng là kẻ biết thời thế. Hắn biết mình đã đụng phải một thế lực không thể đối đầu, một con quái vật ẩn mình trong bóng tối. Hắn nghiến răng, nhìn Nguyễn Đình Chương đầy cay cú, rồi ra hiệu.
“Rút!”
Đám sát thủ, kẻ thì ôm tay, người thì cà nhắc, vội vã dìu nhau biến mất vào bóng tối, nhanh như khi chúng xuất hiện.
Hẻm núi trở lại với sự im lặng chết chóc. Nguyễn Đình Chương, toàn thân rã rời, lúc này mới ngã phịch xuống đất, lưng áo ướt đẫm mồ hôi lạnh. Hắn nhìn vào bóng đêm, chắp tay nói lớn:
“Đa tạ cao nhân đã ra tay cứu giúp. Không biết có thể cho tại hạ biết quý danh?”
Không có lời đáp. Chỉ có tiếng gió thổi qua kẽ lá. Một lúc sau, một cành cây nhỏ có buộc một mảnh vải vàng rơi xuống chân hắn. Trên mảnh vải, không có chữ, chỉ có hình thêu một con chim sẻ màu vàng – biểu tượng của đám “Hoàng Tước”.
Nguyễn Đình Chương nhặt mảnh vải lên, bàn tay khẽ run. Hắn lập tức hiểu ra. Đây không phải là sự cứu giúp, đây là một lời cảnh cáo. Bác hắn, Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai, đang theo dõi từng bước đi của hắn. Ông ta đã ra tay, nhưng không phải để cứu hắn, mà là để cho hắn thấy, mạng sống của hắn vẫn nằm gọn trong lòng bàn tay của ông ta.
“Đi mau!” Hắn vội vã ra lệnh cho những người hộ vệ còn lại, giọng nói khản đi. Cuộc chạy trốn này, hóa ra còn phức tạp và đáng sợ hơn hắn tưởng rất nhiều.
*
Cao Bá Quát, không giỏi cưỡi ngựa, nhanh chóng bị một toán sát thủ tinh nhuệ nhất bám riết. Con ngựa trúng một mũi tên, lồng lên rồi hất ông ngã xuống đất. Cao Bá Quát lảo đảo đứng dậy, lưng tựa vào một gốc cây, dù tay chân có phần run rẩy nhưng ánh mắt lại không hề sợ hãi, mà đầy vẻ ngạo nghễ.
Tên cầm đầu, mặt đeo mặt nạ sắt, rút đao, chậm rãi tiến lại. Hắn cười gằn:
“‘Thánh Quát’ nghe danh đã lâu. Hôm nay được tiễn ngài một đoạn.”
Cao Bá Quát, thay vì van xin, lại chỉnh lại chiếc áo dài đã nhàu nát, rồi cất giọng sang sảng:
“Khoan đã! Chết thì cũng không vội. Trước khi chết, lão phu muốn tặng các ngươi một bài thơ tuyệt mệnh. Nghe xong rồi hãy ra tay, cũng là làm một việc nghĩa cho đời.”
Tên cầm đầu khựng lại, có chút tò mò. Hắn phất tay cho đàn em dừng lại:
“Được. Ta cho ngươi dở chút tài mọn ra giãy giụa trước khi chết. Đọc đi!”
Cao Bá Quát hắng giọng, ngâm nga, giọng điệu bi tráng nhưng đầy vẻ châm biếm:
“Trời đất sinh ta một kiếp người,
Văn chương chữ nghĩa để mua cười.
Hôm nay gác bút về nơi vắng,
Chỉ tiếc… thơ hay, lũ chó lười…
Chẳng biết nghe qua!”
“Mẹ kiếp! Lão già này dám chửi chúng ta!” một tên sát thủ tức giận.
Tên cầm đầu gầm lên:
“Giết hắn!”
Ngay khi lưỡi đao của hắn sắp vung xuống, một tiếng hét lớn vang lên từ phía sườn đồi:
“Dừng tay!”
Từ trong bụi rậm, một chàng trai trẻ tuổi, y phục tuy giản dị nhưng ánh mắt lại sáng ngời, cùng vài người gia tướng lao ra. Chàng trai này không ai khác chính là Lê Duy Cự, người vốn tu tập ở núi Chí Linh, nghe thuộc hạ nói về lời Sấm truyền, nên đã rời núi để do thám địa hình, không ngờ lại gặp đúng cảnh này. Lê Duy Cự quát lên:
“Các ngươi là ai mà dám hành thích danh sĩ Bắc Hà?”
Tên cầm đầu không nói nhiều, vung đao chém tới:
“Thằng nhãi ranh, muốn chết à?”
Gia tướng của Lê Duy Cự lập tức xông lên đỡ đòn. Một cuộc chiến không cân sức nổ ra. Thấy tình hình nguy cấp, Lê Duy Cự cắn răng, rút ra một ống pháo hiệu, giật dây. Một vệt sáng đỏ rực bay vút lên trời.
Tên cầm đầu giật mình, hắn biết đây là pháo hiệu gọi viện binh. Hắn do dự. Giết được Cao Bá Quát là đại công, nhưng nếu bị kẹt lại đây thì cả bọn sẽ phải bỏ mạng. Hắn nghiến răng, liếc nhìn Cao Bá Quát đầy cay cú:
“Lão già, coi như ngươi gặp may!” rồi ra lệnh: “Rút!”
Đám sát thủ nhanh chóng biến mất vào bóng tối.
Lê Duy Cự thở phào, vội chạy tới đỡ Cao Bá Quát dậy. Lúc này, “Thánh Quát” mới từ từ tỉnh lại. Cơn choáng váng qua đi, lập tức lấy lại vẻ ngạo nghễ thường ngày, không vội cảm ơn, mà nhìn chàng trai trẻ xa lạ từ đầu đến chân bằng một ánh mắt xét nét. Cao Bá Quát hỏi, giọng vẫn còn chút khàn:
“Ngươi là ai? Sao lại cứu lão phu?”
Lê Duy Cự chắp tay, thái độ khiêm nhường nhưng không hề khúm núm:
“Tại hạ là Lê Duy Cự, đang tu tập ở núi Chí Linh. Nghe tin ‘sấm truyền’ ở Văn Miếu và chuyện quan lại Hà thành náo động, tại hạ xuống núi xem xét thời thế. Vừa rồi đi ngang qua đây, thấy bọn gian tặc hành thích một bậc danh sĩ, không thể khoanh tay đứng nhìn.”
“Họ Lê? Lại từ Chí Linh xuống?” Cao Bá Quát nheo mắt, trong đầu lóe lên một tia suy nghĩ. “Nghe danh Chu Thần Cao Bá Quát mà vẫn dám ra tay tương trợ, ngươi cũng có chút đảm lược đấy.”
Lê Duy Cự không đáp, chỉ im lặng.
Cao Bá Quát tiếp tục “thử”:
“Chỉ vì chuyện sấm truyền vu vơ mà ngươi dám xuống núi, dấn thân vào chốn thị phi này sao? Hay là ngươi cũng ôm mộng ‘phục quốc’ muốn dựng lại cơ đồ của tổ tiên?”
Lê Duy Cự lúc này mới ngẩng đầu, ánh mắt sáng rực, không còn vẻ khiêm nhường ban đầu. Chàng nhìn thẳng vào mắt Cao Bá Quát:
“Tiên sinh nói không sai. Nước non rối ren, vua quan thối nát, dân chúng lầm than. Là con cháu họ Lê, mang trong mình dòng máu của Thái Tổ Cao Hoàng Đế, sao có thể ngồi yên nhìn xã tắc chìm đắm? Duy Cự này xuống núi, không phải vì mộng đế vương, mà là muốn tìm con đường cứu dân, cứu nước!”
Khí phách toát ra từ lời nói của chàng trai trẻ khiến Cao Bá Quát sững người, không ngờ, một hậu duệ nhà Lê tưởng đã mai một lại có được chí lớn và tầm nhìn như vậy. Cao Bá Quát bật cười lớn, một nụ cười sảng khoái.
“Hay! Hay cho một câu ‘cứu dân, cứu nước’! Lão phu cả đời ngông cuồng, chỉ cúi đầu trước những bậc có khí phách. Được!”
Xong vỗ vai Lê Duy Cự, một hành động thể hiện sự công nhận:
“Ngươi đã cứu mạng ta, lại có chí lớn như vậy, lão phu không thể không báo đáp.”
Rồi nhìn về phía vệt pháo hiệu vẫn còn vương trên trời:
“Pháo hiệu kia, chắc là của bằng hữu ngươi gọi tới? Xem ra ngươi không hề đơn độc.”
Lê Duy Cự thành thật đáp:
“Đó là của một vị kỳ nhân mà tại hạ mới quen. Tiên sinh ấy hẹn gặp ở gần đây. Có lẽ viện binh của ngài ấy sắp tới.”
Cao Bá Quát gật gù:
“Kỳ nhân có thể kết giao với ngươi, chắc chắn cũng không phải người tầm thường. Được! Lão phu sẽ đi cùng ngươi một đoạn, để xem thử ‘kỳ nhân’ của ngươi là thần thánh phương nào, và xem ngọn cờ ‘Phò Lê’ của ngươi, có thực sự xứng đáng để lão phu này phò tá hay không!”
Lê Duy Cự, vốn chỉ định ra tay nghĩa hiệp, không ngờ lại có được cơ hội thu phục bậc kỳ tài mà mình ngưỡng mộ từ lâu. Chàng biết, đây chính là “duyên trời” mà Cao Bá Quát vừa nói. Chàng trịnh trọng cúi đầu:
“Có được Chu Thần tiên sinh đồng hành, là phúc lớn của Duy Cự này. Mời tiên sinh, chúng ta đi mau!”