Chương 12: Đề đốc Vĩnh Tường
Đêm đó, thư phòng sáng đèn. Dưới ánh nến bập bùng, Minh An chậm rãi mài mực. Cao Bá Quát múa bút làm thơ, những vần thơ đanh thép, tuôn chảy trên mặt giấy:
“Quan Đề đốc, oai như cọp,
Bụng một bồ, chỉ khoét dân.
Ngoài thành cướp giật tần mần,
Trong nha lính tráng, mười phần như ma.”
Nguyễn Minh An đọc xong, không khỏi tấm tắc:
“Đại ca, thơ của huynh đúng là gươm đao trong giấy mực. Một câu thơ sắc hơn vạn lời tố cáo. Tuyệt tác.”
Cao Bá Quát chỉ cười nhạt:
“Chỉ là vài câu chửi đổng cho hả giận. Mà Nhị đệ cũng làm bài chứ, đọc đi để huynh chắp bút.”
Minh An không thể nói bản thân là đạo thơ được, cười trừ:
“Haha. Đọc thơ của đại ca xong, đệ không có dũng khí cầm bút. Đại ca đang lên mạch, người viết tiếp đi.”
Cao Bá Quát gật đầu, rất nhanh hai bài thơ khác được ra đời, mỗi bài một phong cách châm biếm sâu cay khác nhau.
“Áo gấm ra vào cửa son cao,
Miệng nói thánh hiền, dạ tựa đao.
Thấy kẻ cơ hàn che mắt lại,
Gặp phường quyền quý vội khom chao.
Tưởng mình Mạnh Thường lo dân đói,
Nào hay túi bạc chất tựa bao.”
“Nước mắt dân nghèo chảy thành sông,
Ruộng cạn, nhà xiêu, có thấu không?
Quan lớn ngồi trên, nhung gấm ấm,
Dân đen nằm dưới, giá rét đồng.
Một bữa tiệc quan, ngàn nhà đói,
Một tiếng quan cười, vạn nhà mong.”
Nhưng Cao Bá Quát thở dài:
“Giờ làm sao nhân bản ra nhiều nhất có thể? Chép tay đến bao giờ mới xong?”
Minh An mỉm cười:
“Việc đó, đệ đã có cách. Không chỉ không cần mệt nhọc sao chép mà còn làm cho những câu thơ này mọc chân, tự chạy khắp ba mươi sáu phố phường.”
Xong dẫn Cao Bá Quát đến một căn phòng nhỏ phía sau phủ, nơi mùi mực lạ và mùi đất nung thoang thoảng trong không khí.
Dưới ánh đèn, Thanh Hà và Nguyễn Tài đang cẩn thận dùng những chiếc kẹp nhỏ, gắp từng con chữ bằng đất nung nhỏ xíu xếp vào một khay gỗ.
Cao Bá Quát sững người, nhìn chằm chằm vào những con chữ rời rạc, là bậc đại nho, đọc sâu hiểu rộng, sao không nhận ra đây là gì, run run chỉ tay vào khay chữ:
“Đây… đây là thuật in ấn con chữ rời? Thứ này ta chỉ từng nghe nói trong cổ thư của người Tống, tưởng đã thất truyền từ lâu.”
Nguyễn Minh An gật đầu:
“Đúng vậy. Đệ cũng may mắn tìm ra nguyên lý của nó khi du ngoạn sang bên nhà Thanh. Mấy hôm nay đã cho người chế thử, đã thành công. L
Thay vì khắc cả một trang gỗ mất hàng ngày trời, chúng ta chỉ cần sắp chữ. Một người sắp chữ, một người phết mực, một người in. Một đêm có thể cho ra hàng ngàn bản.”
Lời vừa dứt, Nguyễn Tài nhanh chóng thao tác mẫu. Đầu tiên, đặt một tờ giấy gió lên bản khắc, dùng một con lăn bằng gỗ ép nhẹ. Khi tờ giấy được nhấc lên, bài thơ đã hiện ra rõ nét, mực đều tăm tắp mực đều tăm tắp, không khác gì bản gốc.
Cao Bá Quát sững sờ, bước tới, cầm lấy tờ giấy in, đôi mắt sáng rực lên. Sự kinh ngạc ban đầu nhanh chóng chuyển thành một niềm phấn khích tột độ. Cao Bá Quát giọng nói lại có phần run rẩy:
“Nhị đệ… đệ có biết mình đã tạo ra thứ gì không? Đây không chỉ là công cụ để rải truyền đơn. Đây là thứ có thể khai dân trí, có thể thay đổi cả một thời đại. Với thứ này trong tay, tư tưởng của chúng ta có thể truyền đi xa ngàn dặm, sức mạnh còn hơn cả vạn đội quân.”
Nói rồi, không cần ai mời, Cao Bá Quát xắn tay áo, cũng bắt tay vào phụ giúp, không coi đây là việc in ấn tầm thường, mà là đang tham gia vào một cuộc chiến thực sự, một cuộc chiến trên mặt trận văn tự.
Đêm đó không ai ngủ. Cả thư phòng nhỏ bừng sáng và nhộn nhịp. Những chồng giấy in đầy thơ vè ngày một cao lên.
*
Trời vừa hửng sáng, cả thành Hà Nội đã bắt đầu một ngày mới như thường lệ. Nguyễn Tài, trong bộ dạng một người buôn giấy gió lam lũ, gánh một gánh hàng nhẹ tênh len lỏi vào các khu chợ.
Khi đến một quầy hàng, Nguyễn Tài cao giọng:
“Bà chủ cho một suất xôi xéo.”
Rất nhanh một bát xôi được bưng lên. Vừa ăn, Nguyễn Tài vừa khéo léo lấy ra một xấp giấy in còn thơm mùi mực, giọng hiền lành:
“Thưa bà, giấy này con cắt lỡ khổ, bán không ai mua. Thấy bà gói xôi bằng lá chuối vất vả, con biếu bà ít giấy này dùng tạm lấy thảo.”
Bà lão thấy Nguyễn Tài trẻ mồ hôi nhễ nhại mà tốt bụng, liền cười móm mém:
“Trời đất, con nhà ai mà khéo ăn nói thế. Thôi được, bà nhận cho con vui lòng.”
Xong cầm lấy xấp giấy, tiện tay lật xem. Vốn chỉ định bụng xem chất giấy, nhưng những dòng chữ đen nhánh, ngay ngắn đập vào mắt. Bà không biết chữ, nhưng người con trai đang phụ việc bên cạnh thì có. Cậu ta ghé mắt vào đọc, rồi bỗng “À” lên một tiếng đầy kinh ngạc, vội vã kéo mẹ ra một góc thì thầm. Vẻ mặt bà lão từ vui vẻ chuyển sang sững sờ, rồi lại có chút hả hê. Cảnh tượng tương tự diễn ra ở hàng bánh rán, gánh tào phớ
Chưa kể, ở một góc chợ khác, một người phu xe trong mạng lưới của Nguyễn Đình Chương đang uống bát nước chè, vờ vịt “bỏ quên” một xấp giấy trên bàn. Chủ quán tò mò nhặt lên, đọc rồi lại chuyền tay cho những người khách khác.
. Những vần thơ sắc lẹm, được bọc trong vẻ ngoài của lòng tốt, cứ thế theo những nắm xôi nóng, những chiếc bánh rán giòn tan mà len lỏi vào từng gia đình.
*
Bên Hồ Tây, đúng vào mùa lộng gió, nhiều người đi thả diều, Thanh Hà mang theo Tiểu Yến hoà cùng dòng người, ngoài cánh diều bằng giấy dó cứng chắc thì đuôi diều dài ngoằng, khiến không ít lần bị chao đảo. Xung quanh tiếng cười khe khẽ vang, cũng có vài thanh niên tỏ vẻ thanh cao đi tới:
“Cô nương, có cần ta sửa điêu giúp không?”
Thanh Hà khiêm nhường đáp:
“Tạ ơn công tử, chúng tôi chơi được?”
Nhưng đám này vẫn không buông tha, vẫn líu ríu bám theo đuôi, Thanh Hà đành phải mang theo Tiểu Yến rời đi, hoá trang hơi xấu, tìm một nơi tiếp tục. Quả nhiên không bị làm phiền. Thanh Hà khéo léo điều chỉnh con diều bay lượn ngay trên khu vực dinh thự của các quan lại, rồi khẽ kéo.
“Phập.”
Sợi dây nhỏ được cắt đứt, kéo theo cánh đuôi rơi ra, cả một “cơn mưa” truyền đơn bay lả tả như bươm bướm, đáp xuống những khoảng sân rộng lát gạch Bát Tràng, lọt vào các cửa sổ chạm trổ còn đang hé mở.
*
Trong khuôn viên của phủ Đề đốc, Vĩnh Tường đang đi dạo sau một đêm mất ngủ, thì nghe tiếng sáo diều, nhíu mày:
“Một đám vô công rồi nghề. Mai để cho người dẹp hết đi.”
Tên thuộc hạ vâng lệnh, nhưng đúng lúc này, một tờ giấy mỏng nhẹ nhàng rơi xuống ngay dưới chân hắn. Tưởng là giấy vụn, Vĩnh Tường định đá nó đi, nhưng rồi sự tò mò trỗi dậy, cúi xuống, nhặt lên.
Khi nội dung bài thơ đập vào mắt, sắc mặt Vĩnh Tường lập tức tái mét, hơi thở gấp gáp, trầm giọng:
“Chết tiệt, đúng là tháng ngày không yên. Tìm những thứ này đốt hết đi.”
Đám lính vâng lệnh, nhưng càng ngăn cản càng khiến đám người tò mò. Một người hầu gái giấu vội một tờ vào trong tay áo, sau đó khi đi chợ, cô ta đã đưa nó cho người bán rau. Người bán rau không biết chữ, lại nhờ một thầy đồ đi ngang qua đọc giúp.
Cứ như thế, từ một tờ giấy trong phủ Đề đốc, câu chuyện bắt đầu lan ra. Nó chui ra khỏi những bức tường cao, hòa vào những lời thì thầm ở khu chợ, rồi được những người phu xe mang đi khắp các nẻo đường.
Đến trưa, cả kinh thành đã thực sự xôn xao. Người ta không còn bàn về giá gạo, mà chuyền tay nhau những câu vè. Người biết chữ thì đắc ý đọc to cho người không biết chữ nghe, người nghe xong lại thêm thắt rồi kể lại cho người khác. Cái tên Đề đốc Vĩnh Tường bỗng chốc trở thành danh nhân cùng với lời sấm tiên tri.