Chương 75: Khoa cử thay đổi (1)
“Thùng thùng thùng “
3 hồi trống lệnh liên tiếp vang lên, theo một tiếng kẽo kẹt cánh cổng trường thi được mở ra, các thí sinh ăn mặc chỉnh tề đã chờ sẵn ở bên ngoài xếp hàng tiến vào trong sân, nơi số lớn lều thi đã được dựng lên từ sớm, mỗi lều thi là một không gian riêng biệt được ngăn cách với nhau để phòng ngừa các thi sinh chép bài lẫn nhau, hai bên dãy lều thì dựng 2 chiếc ghế rất cao giúp 2 quan giám thị ngồi bên trên có thể quan sát động tĩnh toàn cảnh trường thi, bên dưới thì lại có 3 giám thị khác đi lại tuần tra qua từng lều thi giám sát từng thí sinh, đảm bảo phòng ngừa không bỏ sót bất kỳ hành vi gian lận nào dù là nhỏ nhất.
Các thí sinh đi qua bàn kiểm tra ở đây từng người xuất trình giấy đăng ký dự thi đã được quan phủ cấp phát cùng lệnh bài thân phận, thư lại trên bàn đối chiếu sổ sách, tra xét họ tên, quê quán, ngày tháng năm sinh và số hiệu các thí sinh người trùng khớp thì được cho qua, người sai lệch thì bị giữ lại. Trải qua khâu đối chiếu thông tin đầu tiên các thi sinh lại đến khâu đối chiếu thứ hai, ở đây thí sinh phải để lại hết đồ dùng cá nhân không được mang theo thứ gì ngoài bút và mực, trên người cũng sẽ bị khám xét để đảm bảo không có giấu giếm bất kỳ tài liệu nào mới được đi vào khu lều thi. Chế độ kiểm tra nghiêm mật chưa từng có trước đây này làm các thi sinh cảm nhận được thái độ của tân đế mới đăng cơ với kỳ thi này là vô cùng coi trọng, tâm thần bất giác có chút thấp thỏm.
Trải qua 2 khâu kiểm tra, các thí sinh tiến vào trong lều thi an vị chờ đợi. Thùng ! Hồi trống thứ nhất vang lên, giám thị tuần tra trên tay cầm danh sách thí sinh đi qua từng lều điểm danh lại, ánh mắt họ săm soi lướt qua kiểm tra trạng thái trong từng lều thi, xác định các thí sinh đã đến đông đủ liền xoay người tiến đến báo cáo với quan chủ khảo đang ngồi trên đài cao đối diện khu lều thi. Quan chủ khảo nhận được báo cáo thì gật đầu, lập tức ra lệnh gõ trống báo hiệu.
Thùng ! Tiếng trống thứ hai đánh lên các quan giám thị từ chỗ quan chủ khảo lấy nhận tập giấy thi, mang đến từng lều thi phát cho các thí sinh, trên mỗi tờ giấy thi đều được quan chủ khảo đóng dấu đảm bảo thí sinh không thể dùng bài thi làm sẵn hoặc bài thi của thí sinh khác để giả mạo. Giấy thi được cấu tạo từ hai phần gồm phần ghi danh với các mục họ tên, quê quán, số hiệu, và phần làm bài thi, khi bài thi được thu lại sẽ được chuyển giao cho một quan viên chuyên biệt có trách nhiệm cắt rời phần ghi danh và niêm phong lại, đồng thời đánh 1 số hiệu lâm thời lên phần ghi danh và phần làm bài thi. Bài thi không có thông tin thí sinh sẽ được đưa đến tay các thư lại tiến hành chép lại bài thi của thi sinh cùng số hiệu rồi chuyển phòng chấm bài nơi các giám khảo dưới sự giám sát canh chừng của nha dịch Đô sát viện tiến hành chấm thi. Những giám khảo này bị kiểm soát nghiêm ngặt, không thể rời khỏi phòng chấm thi nếu không chấm hết các bài thi, mọi hoạt động ăn uống nghỉ ngơi đều phải tiến hành tại chỗ. Đến khi bài thi được chấm xong, mới tập hợp lại chuyển đến tay quan viên giữu phần ghi danh tiến hành giải niêm phong phần ghi danh tiến hành đối chiếu số hiệu cùng nhập điểm. Một bộ lưu trình này là Trần Nhật Thanh tham khảo chế độ của triều Tống thêm thắt một số bước mà thành. Đúng vậy, mặc dù triều Tống thường được nhắc đến với danh tiếng không mấy tốt đẹp nhưng dưới triều đại này nền khoa cử đã được thiết kế tương đối chính quy với lưu trình rất nghiêm ngặt đảm bảo công bằng, Trần Nhật Thanh cơ bản chỉ là thêm công đoạn chuẩn hóa thống nhất cung cấp giấy thi và đem việc dán che phần ghi danh của bài thi thành cắt rời ra mà thôi. Chế độ thi cử của triều Tống nếu nhìn theo khái cạnh nào đó còn chặt chẽ hơn thi cử hiện đại khi có bước chép lại bài thi đảm bảo giám khảo không thể nhận ra danh tính thí sinh qua nét chữ, dĩ nhiên điều này cũng chỉ có thể làm trong đặc thù quy mô thi cử thời Tống, dân số biết chữ đi thi không nhiều, đến thời hiện đại khi giáo dục đã phổ cập rộng rãi, số lượng bài thi vô cùng lớn, việc chép lại tất cả bài thi là một gánh nặng khổng lồ đì kèm là dễ dẫn đến sai sót trong quá trình chép lại nội dung nên chế độ mới không còn được tiếp tục tiến hành.
Giấy thi được phát xong các thí sinh ghi thông tin cá nhân vào giấy thi rồi yên lặng chờ đợi, khoảng 10 phút sau tiếng trống hiệu thứ ba đánh lên, quan chủ khảo giải niêm phong túi đề thi phân phát chia cho các giám thị. Giám thị đem đề thi phát đến từng lều thi, lật úp đặ trên mặt bàn trước mặt các thí sinh, những thi sinh này đã được dặn dò qua quy chế, biết chưa thể lật ra xem ngay, vẫn tĩnh lặng chờ đợi.
Đế thi đã phát đầy đủ, tiếng trống thứ 4 vang lên, thời gian làm bài bắt đầu. Bên trong lều thi cùa mình Lê Lâm lật bài thi lên, nhìn qua đầu đề một loạt, sắc mặt trở nên vô cùng khó coi. Hắn xuất thân là nhân sĩ phủ Thiên Trường, thân là người đất Tổ địa của triều đình, hắn cũng có chút quan hệ nhân mạch, có ưu thế tin tức nhanh nhạy, từ sớm đã biết rõ khoa thi lần này so với khoa thi các đời tiên đế vô cùng khác nhau. Nếu ở thời các tiên đế việc thi cử chỉ là bắt đầu của con đường quan lộ, người đỗ đạt sẽ trở thành Thái học sinh, có thể vào thái học nhập học đào tạo sâu, sau đó mới được xem xét bổ nhiệm thì hiện nay tân đế mới cải chế, chức quan nhiều ra khá nhiều, nên thi đỗ có thể không cần qua bước học tập ở Thái học mà có thể trực tiếp được làm quan, danh ngạch lấy trung tuyến cũng nhiều hơn trước rất nhiều, chỉ điểm này đã làm học trò trong thiên hạ lòng đầy chờ mong.
Thể lệ khoa thi lần này cũng có thay đổi thay vì tập trung ở kinh thành thì triều đình chia làm 4 kỳ thi phủ, thi tỉnh, thi Kinh cùng thi Đình, 3 kỳ thi đầu phân biệt tổ chức ở phủ, tỉnh cùng trụ sở học bộ, kỳ thì Đình cuối cùng thì tổ chức trong cung, mỗi kỳ thi ứng với chức vị quan sẽ được bổ nhiệm, kỳ thi phủ là tuyển lại viên thi tỉnh là tuyển quan viên huyện, thi Kinh là tuyển quản viên phủ, thi Đình là tuyển quan viên lãnh đạo tỉnh và cấp thấp ở kinh thành, người phải vượt qua kỳ thì trước mới có thể đi vào vòng sau, người đã thi vòng trước nhưng vòng sau không đỗ, có thể tự ứng thí để tiếp tục thi lại vào khoa thi sau miễn là có đánh giá thành tích công việc tốt, lệ mới này đưa ra làm cho giới bình dân không có điều kiện tiếp xúc nhiều với kinh điển thấy được hi vọng, còn làm cho giới Nho sinh có chút khó làm.
Nếu thắc mắc nguyên nhân vì sao Trần Nhật Thanh đưa ra chính sách mới lại gây ra tình trạng bình dân phấn khởi còn Nho sinh cảm thấy khó khăn thì phải nói đến một nét đặc trưng của chế độ hành chính của nền quân chủ Đông Á đó là quan lại phân biệt.
Từ quan lại mà người ta thường gọi là kết hợp của quan viên và lại viên hai tầng lớp khác nhau trong bộ máy hành chính, có thể một số người hiện đại đem họ gọi chung là quan nhưng thực ra hai bên có tách biệt cực kỳ rõ ràng. Trong dòng lịch sử của lịch đại vương triều Trung Hoa và Đại Việt có phân biệt quan viên là chủ quản một nha môn quan phủ phụ trách lãnh đạo còn lại viên là phụ tá của quan viên, phụ trách sử lý sự vụ chi tiết như tính toán sổ sách, xử lý hồ sơ, ghi chép biên bản. Quan viên có chế độ khoa cử tuyển chọn bằng cách thi thơ phú, giải nghĩa kinh điển, luận đạo lý trị quốc thì lại viên cũng có kỳ thi tuyển chọn bằng thi viết chữ và thi toán. Đúng vậy thi toán vốn dĩ không phải thứ gì mới mẻ cả, nó từ rất sớm đã được đưa vào thể chế tuyển dụng để tuyển ra lại viên, người hiện đại cho rằng thời đại cũ chỉ học văn vốn dĩ là nhầm lẫn. Tuy cũng có thi tuyển nhưng hình thức thi của lại viên cũng không được quy chuẩn hóa, lúc thi lúc không, đại đa số thười gian là do quan viên tự mình chỉ định người thân tín hoặc hào tộc địa phương làm lại viên phụ tá cho mình, hoặc chức lại viên được thừa kề cha truyền con nối, thầy truyền trò nối không qua khảo thí, có thể nói cho dù có nền khoa cử tương đối sớm nhưng chế độ quân chủ Đông Á vẫn khác với hệ thống công chức sau này, việc thi cử chỉ được phổ biến trong tầng lớp quan chủ quản còn tầng lớp lại thì vô cùng hạn chế, vẫn theo mô hình truyền thống, hình thành 1 hình thái phân cực mang đến có nhiều điểm thiếu sót vô cùng to lớn gây ra hệ lụy sâu xa.
Thiếu sót đầu tiên là lại viên không nằm trong hệ thống phẩm cấp chính thức của triều đình, họ không có con đường để thăng tiến một cách chính quy, vì thế đại đa số lại viên là hạng “bất nhật lưu” lại viên được xem là việc chạy chân cấp thấp không được coi trọng, trong khi họ là những nhân viên chuyên môn thật sự xử lý chi tiết chính vụ, thế nhưng họ gần như không có cơ hội nào để thăng tiến, ngoại trừ được sự ưu ái đặc biệt của quan chủ quản được phá cách đề bạt tiến cử ra vị trí của họ gần như là cố định, thời trẻ làm lại viên đến già cũng vẫn là lại viên, cha làm lại viên con lại làm lại viên, một chu trình bế tắc, muốn phá vỡ được chu trình này bắt buộc họ phải sửa đổi học vấn của họ từ toán thành văn khoa kinh nghĩa đạo lý chứ nếu giữ chuyên môn tính toán thì không bao giờ nhìn thấy cơ hội tiến lên. Hệ quả là dẫn đến tệ nạn rất lớn trong hệ thống chính trị Đông Á đó là trọng đạo khinh thuật, người có chuyên môn lại không có cơ hội thăng tiến làm chủ quản, còn người chủ quản thì vì không tiếp xúc chi tiết chính vụ, chỉ học qua kinh nghĩa luận lý nên càng ngày càng xa rời thực tế, biến thành lý luận suông. Người quân tử chỉ cần tu thân dưỡng tính, học “đạo lý lớn” không cần biết việc chi tiết là có thể quyền lãnh đạo với người có chuyên môn biết việc. Tính thần này trái ngược hẳn với mô hình quan lại kỹ trị hiện đại nơi nhân viên chuyên môn có thể trực tiếp nắm giữ quyền lực cai quản nếu có năng lực, ở trong chế độ quân chủ Á Đông, chuyên môn thực tiễn không quan trọng bằng đường lối chính xác, một khi thực tiễn mâu thuẫn với đường lối thì chuyên môn phải nhường đường cho đường lối, không phải ngược lại.
Thiếu sót thứ hai là lại viên vì không có trong hệ thống phẩm cấp nên bản thân họ là không có lương bổng ổn định như quan lại, chỉ được trợ cấp vô cùng ít ỏi, mang tính tượng trưng nhiều hơn là thực tế, thu nhập của họ đại đa số đến từ thu lệ phí của dân trong các thủ tục hành chính, một nguồn thu nhập mà triều đình rất khó kiểm soát, vì trợ cấp quá thấp, thu nhập dựa vào lệ phí hành chính nên giới lại viên tự nhiên cũng phát triển ra kỹ năng “ hành là chính” tình trạng sách nhiễu làm khó dễ, hối lộ tham nhũng trong giới lại viên là thường xuyên xảy ra. Hơn nữa đừng nhìn họ không có phẩm cấp, địa vị thấp hèn mà coi khinh, thân là người thực sự xử lý chi tiết sự vụ, trên đầu là một quan viên chỉ biết chỉ tay năm ngón không rành thực tế mà giao phó hoàn toàn, họ có trăm ngàn biện pháp cáo mượn oai hùm, ở sau lưng quan viên tác oai tác quái, dối trên đạp dưới, trong con mắt người dân cơ sở thì nhiều khi lại quyền lớn hơn quan vì quan thì xa mà lại thì gần, quan trú trong phủ thành ít xuống địa phương, ít xử lý việc nhỏ, còn lại thì gặp mặt thường xuyên, là người xử lý trực tiếp. Quan thì có thể thay đổi, điều nhiệm đi nơi khác còn lại thì cố định tại chỗ, đắc tội với lại viên thì thường trực đối mặt với nguy cơ bị trả thù. Đây chính là cái đạo lý đắc tội quân tử thì đơn giản, đắc tội tiểu nhân thì phiền toái vô cùng. Vua cùng đại quan nơi kinh đô xa xôi thủ đoạn tàn khốc ra sao có thể dân không biết chứ lại viên ở ngay gần khó chơi đến mức nào dân chúng là thiết thân cảm nhận được.
Biết tệ đoan của chế độ hành chính, Trần Nhật Thanh tự nhiên là sẽ sửa đổi, hắn trực tiếp học theo thi công chức đời sau đem tuyển lại viên cùng tuyển quan viên sát nhập làm một, không còn tổ chức hai kỳ thi riêng biệt nữa từ cấp huyện trở lên cũng không còn sử dụng chế độ bổ nhiệm hoặc tiến cử lại viên mà trực tiếp thi tuyển. Theo đó người qua được vòng đầu thi phủ sẽ có tư cách phân phối bổ nhiệm làm lại viên, có phẩm hàm tòng cửu phẩm chính thức cùng quy định lương bổng rõ rệt. Đề thi phủ dưới tinh thần tuyển chọn lại viên hắn cũng được chia thành hai phần thi toán học và thi tự luận trả lời ngắn, toán học chiếm 30 % số điểm, tự luận chiếm 70% số điểm hơn nữa đem nó thành khoa tất khảo đầu tiên mà toàn bộ thí sinh dự thi phải trải qua đảm bảo cả quan cũng phải biết kiến thức chuyên môn cơ bản. Thân là chủ quản ngươi có thể không hiểu sâu chuyên môn nhưng tuyệt không thể cái gì cũng không biết, cái gì cũng không biết thì còn lãnh đạo cái rắm, mù quáng chỉ huy luôn là đại kỵ. Đồng thời với phép tự ứng cử hắn cũng để lại cho lại viên cơ hội thăng tiến lên cao hơn trở thành quan viên, không còn bị bó hẹp tại chỗ nữa, dĩ nhiên trên cơ sở hắn phải chịu học kinh điển đạo đức, dù sao làm lãnh đạo không phải chỉ cần chuyên môn thôi là đủ, mà còn phải thêm những thứ khác nữa, ngay đến chủ nghĩa kỹ trị cũng chỉ hứa hẹn nhân viên chuyên môn có thể làm quản lý chứ không hứa hẹn chắc chắn sẽ được làm quản lý, đây là hai câu chuyện hoàn toàn khác nhau.
Lệ này vừa tung ra làm các học trò nho sinh cuống cuồng không kịp trở tay, nhiều kẻ học vẹt gạo bài vội vàng phải cuống cuồng đi ôn luyện lại toán học. Không có biện pháp, Nho học đất Việt thời đại này còn rất yếu, căn cơ trong dân gian rất nông, phải dựa vào quyền lực trung ương để tồn tại và phát triển, các thư sinh học trò bọn họ cũng không có thực lực thoát ly độc lập đứng ra chống đối, chỉ có thể lầm bầm tha phiền toái vài câu rồi tiến hành ôn tập. Đối với tình hình này Trần Nhật Thanh cảm thấy mình là may mắn sinh ra đúng thời điểm, nếu hắn ở cuối thời Lê Trung Hưng đầu thời Nguyễn khi Nho giáo đã chiếm cứ địa vị thống trị, mình dám thay đổi bóp nặn khoa cử như vậy thì lực cản phản đối không nhỏ tuyệt đối. Tương tự với hắn lão Chu ăn mày có thể vừa mới lập quốc thẳng tay ra tay với Nho giáo ngoài bản lĩnh thao lược của lão ra còn có công lao từ sự tàn phá và đè nén Nho giáo của người Mông Cổ dưới triều Nguyên khiến thế lực Nho giáo từng vô cùng hưng thịnh thời Tống suy sụp, nếu hành động của lão Chu đặt ở thời Tống hay muộn hơn là trung hậu kỳ nhà Minh khi khoa cử đã phát đạt, Nho sinh trải rộng thiên ha thì đám người đọc sách tuyệt sẽ không vô lực chống đối như vậy kết quả hoàn toàn có thể diễn biến khác đi rất nhiều.