Chương 25 : Sấm truyền
Tháng 3 năm 1371 Công Nguyên, Hoàng thành Thăng Long, Quan Triều cung, chính điện
Tri thẩm Hình viện sự Đào Toàn Bân dẫn đầu đứng ra khỏi hàng đầy mặt khẩn thiết nói lớn :
-Tự đời Đại Trị đến này, thiên hạ trải qua 13 năm loạn lạc. Trong có thảo khấu nổi lên cướp phá, ngoài có giặc dữ xâm phạm biên cương, giang sơn nghiêng ngả, xương trắng khắp nơi. Lúc đó chỉ có hầu gia động thân đứng ra. Hầu gia thân là con cháu hoàng tộc, thống hận thời buổi loạn ly, tuổi trẻ tòng quân, dẹp yên giặc dữ, xã tắc có thể tồn tại đến bây giờ, chính là nhờ vào công huân của Hầu gia, bây giờ thiên hạ vẫn còn chưa yên, vạn dân đều đang chờ mong có một minh quân tài đức trị thế cứu đời, người này không ai khác chính là Hầu gia ngài.
Đào Toàn Bân nói xong đến lượt Đặng Bá Tĩnh vội vàng noi theo:
-Phản tặc nổi lên, soán ngôi đoạt vị, thí vua hại chúa, đế nữ dâm loạn, tôn nghiêm hoàng thất bị dẫm đạp khinh nhờn, kỷ cương phép nước bị coi rẻ, làm lòng người thấy mà đau đớn. Hầu gia trước đây lãnh quân dẹp giặc, giữ gìn non sông, nay lại tru diệt phản tặc, tuyên dương chính nghĩa, chính là công đức vẹn toàn, nay dòng chính hoàng gia đã tuyệt hầu gia đăng cơ ngôi cao, nối tiếp đại thống cũng là danh chính ngôn thuận, hợp với lòng người trong thiên hạ.
Các tông thất rất nhiều người nghe lời này khóe miệng hơi giật giật, phải biết bọn họ cũng là người tham gia cuộc phản loạn của Trần Phủ, bị nói đến tự nhiên là có chút không thoải mái. Nhưng rất nhanh họ cũng không để ý, nhao nhao phụ họa Đặng Bá Tĩnh, tình hình hiện nay Trần Nhật Thanh là kẻ thắng trận, không nhân cơ hội này phủi sạch liên can, tẩy trắng bản thân còn chờ khi nào.
Trần Nhật Thanh thở dài, đôi mắt ướt át, đấy mặt lo âu than :
-Ta dây binh chỉ cốt vì dẹp yên loạn đảng, trả thù cho quan gia nay đại sự đã xong, chỉ muốn tận tâm vì triều đình công hiến. Chư vị nay muốn ta lên ngôi, chẳng lẽ muốn đem ta đẩy thành kẻ nói không giữ lời, bất trung bất nghĩa hay sao . Xin chư vị nghị lập người tài đức khác.
Trần Tôn lúc này đứng ra phản bác:
-Hầu gia lời này sai rồi, ngài vì quan gia mà dẹp yên loạn tặc chính là trung, quan gia không may bị hại, dòng dõi cũng không còn lại ai, nhìn khắp hoàng tộc không ai ưu tú hơn ngài, đây chính là lúc đón lấy ngôi lớn, vì giang sơn xã tắc mà chăm lo- đây là nghĩa. Trung nghĩa lưỡng toàn, nào có gì là bất nhân bất nghĩa chứ ? Hầu gia không nối cơ nghiệp tổ tông mà muốn lập người khác tuy là ý tốt nhưng hầu gia ngài không thử nghĩ xem, kẻ đức không xứng vị, uy vọng không đủ mà ngồi vị cao ắt thiên hạ không phục, há chẳng phải muốn làm giang sơn tổ tông cất công đánh hạ rơi vào tay kẻ khác hay sao. Xin thứ cho lão phu không thể gật bừa.
Bên hàng võ tướng các sĩ quan Thanh Hoa lú này cũng đi theo quỳ xuống nói:
-Tướng quân văn võ song toàn, đức xứng đại vị, chúng thuộc hạ xem khắp thiên hạ hiện nay chỉ có tướng quân là hiền đức nhất, chúng thuộc hạ chỉ nguyện phục tướng quân làm đế, nếu là không phải tướng quân mà là người khác làm đế, xin tướng quân thứ lỗi cho chúng thuộc hạ nói thẳng, chúng thuộc hạ không phục.
Trần Nhật Thanh thần sắc khó xử, suy nghĩ hồi lâu lại thở dài nói:
-Chư vị nói tuy cũng có phần đạo lý nhưng lòng ta day dứt không qua được . Hơn nữa ta cho rằng ta ở cương vị thần tử cũng có thể phụ tá tân đế trị vì thiên hạ, vì vạn dân tạo phúc. Các vị xin thứ lỗi cho ta không thể nghe theo.
Ở góc phòng một văn sĩ tay cầm bút lông cặm cụi ghi chép. Hắn là Hồ Tông Thốc người phủ Diễn Châu, là một danh sĩ có tiếng, từ tuổi trẻ đã đỗ đạt cao, văn tài nổi danh khắp nước. Hồ Tông Thốc xuất thân từ Hồ gia Diễn Châu, nói đến cũng thật trùng hợp cùng Lê gia của Lê Quý Ly có liên hệ, cả hai đều là con cháu của Hồ Hưng Dật người Chiết Giang từ phương Bắc di cư đến Đại Việt, chỉ là sau này tổ tiên gia tộc Lê Quý Ly là Hồ Liêm di cư đến Thanh Hoa, lại làm con nuôi thừa tự của tuyên úy Lê Huấn mới đổi thành họ Lê. Hắn cũng rất trùng hợp mà cùng Lê Quý Ly đầu quân phụ tá dưới trướng Trần Phủ. Trần Phủ thất bại, khác với Lê Quý Ly đi theo Trần Phủ chạy trốn, hắn rất thức thời mà ở lại Thăng Long đầu hàng Trần Nhật Thanh.
Trần Nhật Thanh đời trước có đọc lịch sử, biết rõ sự tịch của tên này, trong lịch sử hắn từng được Trần Phủ phong làm làm An Phủ sứ, khi đương chức thì tham ô nhận hối lộ, sự việc bại lộ Trần Phủ hỏi tới thì hắn chẳng thèm để ý mà nói : “ Một con chịu ơn vua, cả nhà ăn lộc trời “- theo ngôn ngữ hiện đại là “một người làm quan cả họ được nhờ” căn bản không có bất kỳ ý thức hối lỗi nào, xem việc tham ô nhận hối lộ, cướp đoạt tài sản của dân là chuyện thường tình đương nhiên. Mỉa mai là Trần Phủ căn bản không hề làm gì hắn nhẹ nhàng bâng quơ mà cho qua chuyện, thậm chi sau này để hắn liên tiếp thăng chức lớn, cuối cùng sống thọ đến 80 tuổi thì chết già, đúng là người tốt không dài mệnh, tai họa lưu ngàn năm.
Hồ Tông Thốc dù tham ô hối lộ bóc lột nhân dân nhưng vẫn còn tính là tốt, ít ra còn có năng lực so với các thể loại đại thần kỳ ba như như kẻ mù chữ phê công văn cũng không thể tự đảm đương Nguyễn Nhiên lại cho làm tham tri chính sự điều hành hành chính; Thường bại tướng quân Đỗ Tử Bình cho làm tham mưu quân sự chỉ huy quân đội thì không biết hơn bao nhiêu lần. Trần Nhật Thanh đời trước mỗi khi đọc sách sử đối với cách dùng người của Trần Phủ thật là cũng không còn lời nào để nói, hai tên phế vật này sự tình gì cũng không làm được ra hồn, ngược lại hỏng việc thì nhiều vô số kể thế mà không những không bị trách phạt trái lại còn lên chức không ngừng, thật làm người trông mà tức giận không thôi. Cũng không thể trách Lê Quý Ly có thể vươn lên nắm quyền trong một đám phế vật như này, hắn có chiến tích một lần đánh thắng Chế Bồng Nga dưới phụ trợ biến thành một ngôi sao sáng chói. Đây chính là cái gọi là thằng chột làm vua xứ mù, trong núi không có hổ, con khỉ xưng đại vương, ta không cần tài giỏi bao nhiêu chỉ cần hơn đám đồng liêu phế vật xung quanh là đủ thành lương đống quốc gia, trụ cột nước nhà rồi.
Kiếp trước Trần Nhật Thanh khi nghe được vô số lời bàn tán thuần một sắc nói Lê Quý Ly không gặp thời, chỉ muốn chửi bây một câu, người không biết thì không nên mù phát ngôn, ngươi bảo không gặp thời thì thời nào mới hợp, hắn Lê Quý Ly sống ở cái thời đại hôn quân ngu tối, đồng liêu là một đám phế vật, thân phận lại là ngoại thích thăng tiến dễ dàng có mấy điều kiện này đã là thời vận cực lớn bao người ước ao còn không được ngươi còn đòi hỏi gì nữa mà bảo không gặp thời, sinh ra trong thời đại khác gặp một quân chủ sáng suốt thì Lê Quý Ly với năng lực của hắn đừng hòng vươn lên địa vị cao như vậy để cuối cùng có thể soán vị đoạt ngôi.
Hồ Tông Thốc cầm bút lông dùng chữ viết cứng cáp viết lên giấy :
“Tông thất và bách quan nghị bàn muốn lập Hầu làm đế, Hầu muốn giữ vững lời hứa của mình khi khởi binh, chảy nước mắt than rằng không muốn trở thành kẻ bất trung bất nghĩa, nói không giữ lời, tả hữu hết mực khuyên bảo nhưng Hầu vẫn kiên quyết từ chối”
Đây là công việc của Trần Nhật Thanh giao cho hắn, biết rõ kẻ này tham lam thành tính, làm chính sự tuy không ra sao nhưng trong lịch sử tài năng của hắn lại tỏa sáng trong mảng sử học, có bộ Việt sử cương mục được Ngô Sĩ Liên đời Hậu Lê tán dương, Trần Nhật Thanh tự nhiên mà quyết định thu xếp cho hắn làm đúng sở trường của mình – chép sử. Không làm quan trị chính tự nhiên cũng không có cơ hội thỏa thích bóc lột dân như trong lịch sử, phải thành thật mà làm việc.
Trần Nhật Thanh cùng triều đình cứ tiếp tục giằng co qua lại như thế 2 ngày thì tin tức từ Thiên Trường truyền đến đánh vỡ thế bế tắc. Một phiến đá bỗng nhiên xuất hiện trong khuôn viên Thái miếu Thiên Trường ban ngày tỏa ra ánh sáng lấp lánh ai nấy đều tấm tắc bảo lạ. Phiến đá được chuyển đến triều đình Thăng Long chỉ thấy phía trên khắcc một bài thơ Thất ngôn tứ tuyệt như sau:
“Nhật chiếu cung thương ánh tứ phương
Thanh phong hoá vũ nhuận càn khôn.
Vi chánh vô tư tâm thánh đạo
Đế tâm nhân đức, phúc vạn dân.”
Bài thơ nếu chỉ xét nội dung thì cơ bản là nói về đạo trị quốc của đế vương nhưng trong con mắt của người có tâm rất nhanh tìm ra được diễn giải khác. Đại nho Trần Tôn khi xem được bài thơ liền đối với Trần Nhật Thanh nói:
-Hầu gia, những chữ đầu của bài thơ này ghép lại là “Nhật Thanh Vi Đế” đây chính là liệt tổ liệt tông đang chỉ định ngài kế thừa đại thống. Ngài không muốn kế vị, đây là muốn cãi lời liệt tổ liệt tông, làm kẻ bất hiếu sao.
Trần Nhật Thanh quỳ xuống, hướng về phía Thiên Trường dập đầu mà bái:
-Hậu bối Nhật Thanh cẩn tuân chỉ dụ, xin lấy thân này mà hộ vệ giang sơn xã tắc thịnh vượng dài lâu, xin tổ tông trên trời có linh chứng giám.
Chú thích:
1, Đoạn chép về Hồ Tông Thốc trong Đại Việt sứ ký toàn thư:
Tông Thốc (người Sĩ Thành, Diễn Châu) tuổi trẻ đỗ cao, rất có tài danh. Trước đó, Thốc chưa được nổi tiếng lắm, gặp tết Nguyên tiêu, có đạo nhân là Lê Pháp Quan treo đèn đặt tiệc, mời khách văn chương đến dự làm vui. Thốc nhận thiếp xin đề thơ, làm xong trăm bài thơ ngay trên bữa tiệc. Mọi người xúm lại xem, rất thán phục. Từ đấy tiếng dậy kinh sư, vì giỏi văn học nên được người đương thời kính trọng, mà thơ rượu thì không ngày nào không có.
Trước kia Tông Thốc làm An phủ, có lấy của dân, việc bị phát giác, Nghệ Tông thấy làm lạ hỏi ông chuyện đó. Tông Thốc lạy tạ thưa rằng: “Một con chịu ơn vua, cả nhà ăn lộc trời” vua tha tội cho.
Sau ông được thăng nhiều lần, đến Hàn lâm học sĩ phụng chỉ kiêm Thẩm hình viện sứ, thọ hơn 80 tuổi, mất tại nhà.
Ngô Sĩ Liên bàn về sách Việt sử cương mục của Hồ Tông Thốc: Riêng có bộ “Việt sử cương mục” của Hồ Tông Thốc làm là ghi chép thận trọng mà có phương pháp, bình luận sự việc thiết đáng mà không rườm rà, cũng gần hy vọng được. Nhưng sau cơn binh lửa, sách ấy không truyền.
2, Ghi chép về Nguyễn Nhiên trong ĐVSKTT:
Khi vua chưa ra đi, chi hậu nội nhân phó chưởng là Nguyễn Nhân khuyên ngài: “Người ta muốn hại ông, sao ông không xem thời cơ mà hành động trước?”. Đến khi vua lên ngôi lấy Nhiên làm hành khiển, thăng làm tả tham ty chính sự. Nhiên chữ nghĩa ít, khai phê giấy tờ, vua thường bảo vẽ các nét chữ đưa cho Nguyễn Nhiên xem.
Lời bàn của Ngô Sĩ Liên: Báo cho vua tai nạn là ơn riêng, ban tước cho người tai nạn giữa triều là việc công .Vua nhớ ơn của Nguyễn Nhiên, đền đáp bằng vàng, lụa thì được, cho làm hành khiển là chức quan trọng thì không được. Chức hành khiển đời bấy giờ cũng như “lục khanh” đời Chu, là các quan chức điều hành chính sự của đất nước, mà lại để cho người không biết chữ làm, thì không phải là lựa chọn vì việc công vậy
3, Giải ý thơ :
Câu 1: Nhật chiếu cung thương ánh tứ phương
Nhật chiếu” – mặt trời soi chiếu – tượng trưng cho đấng quân vương. “Cung thương” là hai âm trong hệ ngũ âm truyền thống, đại diện cho trật tự âm nhạc – biểu tượng của lễ nghi – chính trị hòa hợp. Ánh sáng của chính đạo, hài hòa như cung thương, lan tỏa tới “tứ phương” – khắp cõi. Qua đó, ẩn dụ rằng: chính sự phải như lễ nhạc – hài hòa, uyển chuyển, làm cho cả thiên hạ thuận theo.
Câu 2: Thanh phong hóa vũ nhuận càn khôn
“Thanh phong” – gió mát, “hóa vũ” – mưa lành tất cả đều là hiện tượng nhẹ nhàng mà thấm sâu. Trong Kinh Dịch quẻ Càn tượng trưng cho Dương- Trời quẻ Khôn tượng trưng cho Âm – Đất nên “Nhuận càn khôn” có thể dịch là thấm nhuần trời đất – nói đến sức mạnh giáo hóa của đạo đức và lời hay lẽ phải, không cần cưỡng ép mà vẫn đi sâu vào lòng người. Đây là lý tưởng “vô vi nhi trị” trong Đạo gia, và cũng là tinh thần lễ trị – đức trị trong Nho giáo: trị quốc bằng đạo lý, không cần dùng hình phạt tàn bạo.
Câu 3 : Vi chánh vô tư tâm thánh đạo
Người làm chính sự phải “vô tư tâm” – không vì quyền lợi cá nhân, không mưu cầu riêng tư, mà một lòng hành xử theo “thánh đạo” – tức là con đường của bậc thánh nhân, lấy đạo làm thước đo. Đây là nguyên lý căn cốt của đạo Nho: “Chính giả, chính dã” – làm chính trị, trước hết là phải chính mình, lấy công tâm mà hành xử.
Câu 4: Đế tâm nhân đức, phúc vạn dân
Tâm trí của vua –Đế tâm nếu đầy nhân đức, sẽ trở thành nguồn mạch đem phúc lành cho vạn dân. Đây chính là lý tưởng chính trị Nho giáo : thiên tử phải là người đại diện cho trời (Thiên) hành xử như cha của muôn dân (phụ mẫu chi dân). Một nhà nước chỉ thực sự thịnh trị khi người đứng đầu biết đặt nhân đức làm gốc.