Chương 493: Ngư ông đắc lợi
Mùng một tháng Sáu.
Lý Tông cả đêm không ngủ, khoác lên mình bộ miện phục mới toanh.
Miện bản (冕板) được chế tác từ vàng ròng, trước sau mỗi bên rủ xuống mười hai dải ngọc. Trên áo cũng thêu thập nhị chương văn, mặt trời, mặt trăng phân bố trên hai cánh tay, tinh tú thêu sau lưng, rồng được dệt ở cổ tay áo và viền cổ… Y phục vô cùng uy nghiêm, duy chỉ có khuôn mặt đầy vết sẹo kia là trông dị thường khó coi.
(*Thập Nhị Chương Văn (十二章纹): là 12 biểu tượng tượng trưng cho các đức tính cần có của một vị vua.
Trên áo: nhật, nguyệt, sơn, long, hoa trùng (chim trĩ)
Trên váy: chén tế, rong biển, ngọn lửa, hạt gạo, lưỡi rìu, hoa văn chữ Á (亞))
“Trân châu trên dải ngọc, đổi cho ta loại to hơn.” Lý Tông nói, rồi lặp lại một lần nữa, “Đổi cho Trẫm loại to hơn.”
“Điện… Bệ hạ. Chỉ e sẽ quá nặng…”
“Trẫm muốn trân châu to hơn!”
Lý Tông căm ghét nhất là mỗi khi mình hạ lệnh lại có kẻ dám hó hé phản bác, hắn muốn nhất ngôn nhi quyết, thuyết nhất bất nhị.
Đột nhiên nổi giận khiến đám cung nhân hoảng sợ không thôi, vội vàng đi tìm trân châu. Nhưng việc đăng cơ vốn được quyết định đột ngột, đại điển chuẩn bị vốn đã gấp rút, lúc này đã sát giờ hành lễ, trong lúc vội vã muốn thay đổi dải ngọc đâu có dễ dàng.
May thay, thê tử của Lý Tông là Đậu thị và nhi tử Lý Cừu nghe tin, vội vàng mang trân châu của mình ra, cũng chỉ kịp thay mười hai dây lưu phía trước miện bản. Quả nhiên nặng hơn một chút, nhưng cũng che chắn khuôn mặt của Lý Tông tốt hơn, khiến hắn trông có vẻ thần bí và uy nghiêm.
Trước khi tức vị, Lý Tông cần đến Thiên Đàn ở nam ngoại ô Trường An để tế trời. Hắn xuất phát vào giờ Dần, phát hiện Chu Tước đại nhai đã chật kín bá tánh.
Chu Tước đại nhai rộng đến trăm bước, chính giữa là ngự đạo, chuyên dành cho hoàng đế đi lại khi tế trời ở phía nam thành. Bá tánh đứng hai bên đường quan sát, cách ngự đạo gần năm mươi bước, cho dù có thích khách cũng chẳng thể nào dùng cung tên bắn trúng nghi giá của thiên tử.
“Bệ hạ vạn tuế!”
Theo tiếng hô đầu tiên, nghi giá Lý Tông đi đến đâu, bá tánh hai bên đều quỳ rạp xuống đất, sơn hô vạn tuế.
(*Tiếng triều dâng gọi vạn tuế, rung chuyển cả sơn hà.)
Cảm giác sung sướng mãnh liệt do được vạn chúng ủng hộ mang lại khiến hắn trong khoảnh khắc có chút choáng váng, dù đã cố gắng kiềm chế, nhưng vẫn cảm động đến mức suýt rơi lệ.
Hắn cảm động vì sự kiên thủ của mình ở thành Trường An. Không ai có thể thấu hiểu được áp lực to lớn mà hắn phải gánh chịu với tư cách là thống soái tối cao trên danh nghĩa trong những ngày đêm bị vây hãm ấy. Không chỉ phải đối mặt với phản quân, mà còn sự ức hiếp của cường thần, cùng sự thù địch từ phụ thân và huynh đệ. Đã mấy lần, hắn thực sự sụp đổ tinh thần, trốn trong cung điện không người mà gào khóc thảm thiết.
Nhưng trời cao không phụ lòng người, để hắn giữ được giang sơn xã tắc của tổ tông. Vì vậy, hôm nay hắn tế trời là xuất phát từ lòng kính sợ trời đất chân thành.
Thiên Đàn ở nam ngoại ô Trường An được xây dựng từ thời Tùy, Viên Khâu (圜丘) cao hai mươi bốn thước, mười hai mặt đều có bậc thang.
Trời còn chưa sáng, mọi công tác chuẩn bị tế trời đã hoàn tất. Phía đông nam Viên Khâu đang nướng bê con, khói hương lảng bảng; phía tây nam treo thiên đăng, ánh lửa chập chờn. Biên khánh, biên chung, bác chung, hơn sáu mươi loại nhạc cụ được sắp xếp ngay ngắn.
Quan văn võ xếp thành hàng dưới đàn tế, bên ngoài là binh lính hộ vệ. Ánh lửa hắt lên bóng dáng họ, không ai mở miệng nói chuyện, không khí thần bí và trang nghiêm túc mục.
Trước khi mặt trời mọc, theo một tiếng chuông vang lên, lễ nhạc trỗi dậy. Lý Tông dưới sự tháp tùng của các hoàng tử, trọng thần, chậm rãi bước lên bậc đá lên Viên Khâu, bắt đầu tế tự.
“Dưới bầu trời năm Thiên Bảo thứ mười ba, khi vòng quay Giáp Ngọ vừa chạm ngõ, khói trầm nghi ngút dâng lên tế cáo đất trời. Giữa cơn bão loạn của lũ nghịch quân phương Bắc, bậc quân vương già đã mỏi gối trước đỉnh cao quyền lực, muốn gửi gắm giang sơn cho kẻ hậu thế là ta. Ta vốn lo sợ bản thân không gánh vác nổi thiên mệnh, nhưng lời quần thần như thôi thúc bên tai: ‘Chữ hiếu cao nhất là tiếp nối đức sáng, công trạng lớn nhất là chấn hưng cơ nghiệp’. Vì bảo vệ Trường An, vì quét sạch bóng tối của kẻ thù, ta nay chính thức khoác lên mình tấm hoàng bào, bước lên ngôi vị Hoàng đế, tôn Thánh hoàng làm Thượng hoàng Thiên đế, kính cáo khắp cõi thiên không…”
Mới bắt đầu đọc văn tế, Lý Tông còn cảm nhận được cảm giác như gai đâm sau lưng do Tiết Bạch đứng phía sau tạo ra. Nhưng dần dần, dường như trời cao thực sự ban cho hắn một luồng sức mạnh to lớn, hắn cảm nhận được uy nghiêm của bậc đế vương.
Giữa trời đất chỉ có giọng nói của một mình hắn, ánh mắt của tất cả mọi người đều chỉ hướng về hắn, hắn là trung tâm của vạn vật. Đợi đến khi hắn nói xong câu cuối cùng, là vô số người bắt đầu đồng thanh hô ứng.
“Cung trần sinh bạch, cẩn dụng tế cáo, thượng hưởng!” (“Giữa làn khói trầm nghi ngút, lễ vật đã sẵn sàng, lời thề nguyện này xin gửi tới cao xanh. Cầu mong thần linh rủ lòng tiếp nhận!”)
“Thượng hưởng!” (Xin các vị hưởng dụng lễ vật, chứng giám lòng thành!)
Đối mặt với cảnh tượng nhất hô vạn ứng như vậy, Lý Tông không khỏi lâng lâng, ngỡ như đang say, sau đó, hắn ban bố “Đăng cơ đại xá chiếu” đổi niên hiệu là “Ứng Thuận” ban thưởng quần thần.
Trước tiên phong Đậu thị làm Hoàng hậu, mấy nhi tử thì lần lượt đổi phong Thân vương. Khi nghe đến câu đổi phong Hoàng tam tử, Bắc Bình vương Lý Thiến làm Ung Vương, sắc mặt Lý Tông cứng đờ, như thể đột nhiên bị tạt một gáo nước lạnh.
Đúng lúc này, có hơn mười quan viên sải bước lên Viên Khâu, lớn giọng nói: “Điện hạ, thần có bản tấu!”
Hoạn quan đang tuyên đọc thánh chỉ không khỏi khựng lại, còn Tiết Bạch đang chuẩn bị tạ ơn cũng dừng động tác, quay đầu nhìn lại.
Viên quan đứng đầu là Hình bộ Viên ngoại lang, Lưu Trật. Là con trai thứ tư của danh thần Lưu Tri Kỷ. Lưu Tri Kỷ từng giữ chức Sùng Văn quán Học sĩ, kiêm tu quốc sử, gia phong Ngân Thanh Quang Lộc đại phu, sau khi mất thụy hiệu là “Văn” là đại nho, sử quan rất nổi tiếng của triều trước.
Lưu Trật gia học bất phàm, văn chương trác tuyệt, viết cuốn “Chính Điển” rất được sĩ tử đương thời kính ngưỡng. Lúc này, y lấy từ trong tay áo ra một phong công văn, dùng giọng nói chậm rãi mà mạnh mẽ, đọc từng chữ một.
“Sắc viết: Đế vương thụ mệnh, tất ứng đồ lục… Lý Hanh anh dũng hùng nghị, tổng nhung chuyên chinh, đại Trẫm ưu cần, tư vi khắc hạ, nghi tức Hoàng đế vị.”
(“Sắc chỉ ban rằng: Bậc vua chúa khi nhận mệnh trời, ắt phải có điềm lành và sấm ký ứng nghiệm… Lý Hanh là người anh dũng, kiên cường, đã nắm toàn quyền chỉ huy chinh chiến và thay ta lo toan gánh vác việc quân nhọc nhằn. Người như thế quả thực có thể đảm đương trọng trách, xứng đáng lên ngôi Hoàng đế.”)
Đó rõ ràng là chiếu thư Lý Long Cơ nhường ngôi cho Lý Hanh. Tuy rằng Lý Hanh trước đó đã sớm xưng đế, nhưng làm như vậy lại danh chính ngôn thuận hơn Lý Tông nhiều. Lưu Trật coi như nể mặt Lý Tông, những lời thảo phạt Lý Tông là “nghịch tặc” phía sau chiếu thư cũng không đọc ra, chỉ nói là có chuyện như thế.
“Thần xác nhận phong thánh chỉ này là thật, hẳn là giữa Thánh nhân và Điện hạ có hiểu lầm.” Lưu Trật đầy vẻ chính khí, nói: “Thần to gan, xin Điện hạ hãy đón loan giá về trước, giải tỏa hiểu lầm với Thánh nhân, rồi hãy tức đế vị.”
Lý Tông vừa kinh ngạc vừa giận dữ, vô thức đứng dậy, nhưng lại không tiện đích thân mở miệng tranh biện với Lưu Trật, chỉ có thể tức giận đến run rẩy trong lòng.
“Thần tội đáng muôn chết.” Lưu Trật quỳ xuống, nói: “Nhưng tấm lòng son sắt của thần, thực sự là vì suy nghĩ cho Điện hạ. Điện hạ vì tiêu diệt khấu nghịch, vỗ về muôn dân mà tức vị, đó là công tâm. Nhưng nay Quan Trung đã định, Điện hạ lại tranh thủ xưng đế trước khi Thánh nhân trở về, chỉ sợ thế nhân sẽ hiểu lầm hành động này của Điện hạ là xuất phát từ tư tâm a!”
Lý Tông căn bản không tin những lời này. Lưu Trật nếu thực sự muốn tốt cho hắn, lẽ ra nên tiến ngôn lúc riêng tư, hà cớ gì lại chọn đúng ngày thụ mệnh để chà đạp thiên uy của hắn ngay giữa triều đình? Hắn nhìn ra được Lưu Trật đang toan tính điều gì, nói cho cùng Lưu Trật chính là không coi trọng hắn, sợ đại quân Lý Hanh vừa đến sẽ trở thành kẻ theo nghịch tặc, nên mới cố tình diễn trò chính trực để mưu cầu một con đường lui.
Khổ nỗi Lý Tông thật sự không dám giết Lưu Trật, một là kiêng kỵ danh vọng của y, hai là động thủ ngược lại tỏ ra chột dạ, để người khác biết thánh chỉ Lưu Trật cầm là thật. Cách tốt nhất là tư hạ trấn an, hứa cho Lưu Trật cao quan, đợi hoàn thành thuận lợi đại điển hôm nay rồi hẵng bàn.
Lý Tông trầm ngâm giây lát, đang định gọi hoạn quan đưa Lưu Trật xuống trấn an, đúng lúc này, Tiết Bạch mở miệng. Hắn vừa mở miệng, Lý Tông vội vàng im bặt, nuốt những lời định nói vào bụng.
“Lưu Trật, ngươi thật to gan, dám giả truyền thánh chỉ của Thái Thượng Hoàng!”
“Bắc Bình vương.” Lưu Trật trước tiên thi lễ một cái, tỏ ra rất thản nhiên, chậm rãi nói: “Ta kính trọng công trạng của Điện hạ, nên gọi ngươi một tiếng Bắc Bình vương. Tuy nhiên thân phận thật giả của ngươi còn đợi kiểm chứng. Ít nhất trong phong thánh chỉ này, ngươi vẫn là phản nghịch.”
Tiết Bạch vẫn đang đi xuống đài, thuận tay vẫy một tướng lĩnh Long Vũ quân dặn dò một câu. Sau đó, quát mắng Lưu Trật: “Còn dám giả mạo chiếu thư?!”
“Sao gọi là giả mạo chiếu thư? Đây là công văn có đóng Truyền Quốc Tỷ!”
Lưu Trật đã chuẩn bị sẵn tinh thần chịu chết, lẫm liệt không sợ hãi, tiếp tục nói: “Ngươi có giết ta, cũng không bịt được miệng lưỡi thiên hạ.”
Lúc này, tướng lĩnh cấm quân Trương Tiểu Kính đã chạy tới, lập tức tiến lên bắt giữ Lưu Trật. Lưu Trật vậy mà quyết tâm muốn làm trung liệt chi thần như Lư Dịch, Lý Trừng, không chịu rời đi cùng cấm quân, ngược lại còn lớn tiếng hô hoán.
“Thần xin Điện hạ vạn lần không được nghe lời gian nhân cổ hoặc mà lầm đường lạc lối, nay Thánh nhân đã chiếu dụ thiên hạ, đại quân tập kết ở phía Tây. Chiến sự như tên đã lên dây, Điện hạ hãy vì sinh linh mà suy tính, tạm hoãn tức vị…”
Đám cấm quân muốn kéo Lưu Trật đi, lại để y len lỏi vào giữa đám quan lại, gây ra cảnh hỗn loạn không chịu nổi.
Tiết Bạch đã bước xuống Viên Khâu, đi thẳng tới rút đao từ hông một tên cấm quân, vung tay một đao, chém Lưu Trật ngã gục xuống đất.
“Phập.”
Máu nhuộm Thiên Đàn nam ngoại ô.
Khi Lưu Trật ngã xuống mắt vẫn trừng lớn, dường như không dám tin Tiết Bạch sẽ giết y ngay tại buổi lễ tế trời.
Trên Viên Khâu, Lý Tông cũng ngẩn người. Ý nghĩ đầu tiên của hắn là Tiết Bạch phá hỏng đại điển đăng cơ của mình, cho rằng sự việc ầm ĩ đến mức này thật khó giải quyết. Sau đó, một cảm giác khó chịu mãnh liệt ập đến, hắn cuối cùng cũng nhận ra sự ủng hộ của vạn chúng hôm nay không phải hướng về hắn, hắn vẫn chưa thoát khỏi thân phận con rối. Nếu không có Tiết Bạch, hắn đến giờ có lẽ vẫn chỉ là một thân vương nhu nhược trong Thập Vương Trạch.
Trong khoảnh khắc, sự quyết đoán và khí phách của Tiết Bạch đã đập tan mộng đẹp của Lý Tông, chỉ để lại cho hắn sự chua xót, bất lực.
Xác Lưu Trật nằm chỏng chơ ở đó, trong tay vẫn còn cầm tờ văn thư kia. Lý Tông nhìn ấn triện trên giấy, không khỏi nghĩ, nếu có một ngày giang sơn tổ tông để lại bị Tiết Bạch soán đoạt trong tay mình, còn mặt mũi nào đi gặp Thánh nhân?
Không, hắn biết mình sớm muộn gì cũng sẽ giành lại quyền lực, vượt qua Lý Long Cơ ngày càng hôn dung, hiện tại chỉ là thời cơ chưa tới mà thôi.
Tiết Bạch đã quát lệnh cấm quân bắt hết những quan viên dám cùng Lưu Trật làm loạn, tuyên cáo với triều thần việc này ắt có kẻ đứng sau chủ mưu, hắn sẽ tự mình điều tra rõ. Cuối cùng hạ lệnh, đại điển đăng cơ tiếp tục.
Trống nhạc lại nổi lên, Lý Tông như một vật trang trí, tiếp tục ban thưởng quần thần.
~~
“Đây là những thư từ văn kiện tìm thấy trong phủ Lưu Trật, ngoài ra còn có những thứ này, là khẩu cung và bằng chứng của các quan viên tòng phạm.”
Một loạt văn kiện được bày ra trước mặt Tiết Bạch, hắn ngẩng đầu nhìn, thấy Đỗ Cấm đích thân đưa văn kiện tới.
“Bên Trung thư tỉnh đã xem qua chưa?”
“Chưa.” Đỗ Cấm nói, “Trực tiếp đưa cho ngươi xem, ta không biết Nhan Chân Khanh sẽ phản ứng thế nào.”
Tiết Bạch cầm lấy những bức thư xem một lúc liền hiểu ra, việc Lưu Trật làm, kẻ chủ mưu phía sau lại là Phòng Quản.
Phòng Quản là danh thần đương thời, rất có tiếng tăm, xưa nay qua lại rất thân thiết với Lưu Trật, giao tình với Nhan Chân Khanh cũng không tệ. Trong cơn đại loạn này, Phòng Quản bất chấp an nguy, trèo đèo lội suối đi theo Lý Hanh, lòng trung nghĩa đó hiển nhiên cũng khiến Lý Hanh vô cùng cảm động. Theo Tiết Bạch biết, hiện nay Phòng Quản đã là tể tướng của Lý Hanh.
“Nếu ta là Phòng Quản, sẽ không xúi giục Lưu Trật công khai gây chuyện.” Tiết Bạch trầm ngâm nói, “Mà sẽ để bọn họ ngầm liên kết, đợi đại quân Lý Hanh đến, trong ứng ngoài hợp, đánh hạ Trường An.”
“Nhân gia muốn là lòng người.” Đỗ Cấm nói, “Danh nghĩa là lợi thế lớn nhất của bọn hắn, tự nhiên phải phát huy đến cùng cực. Trước tiên giáng chúng ta thành phản nghịch, biết đâu hắn có thể chẳng tốn chút sức lực nào thu phục Trường An thì sao.”
“Sa trường đâu phải nơi thanh đàm, múa mép khua môi kiểu này có ích gì? Hơn nữa chúng ta là kẻ ít sợ dư luận nhất.”
Tiết Bạch cầm tờ báo trong tay, đây mới là lý do hắn dám trực tiếp chém Lưu Trật.
Đỗ Cấm nói: “Nhưng ngươi xem chỗ này, xem ý tứ của Phòng Quản. Lý Hanh bổ nhiệm Phòng Quản làm Trì tiết, Chiêu thảo Tây Kinh kiêm Phòng ngự Bồ Đồng lưỡng quan binh mã Tiết độ đẳng sứ, dường như là chủ soái của lần đông tiến này.”
Tiết Bạch cũng nhìn thấy rồi, Phòng Quản quả thực đã nói với Lưu Trật như vậy trong thư, nói mình chẳng mấy chốc sẽ thống lĩnh đại quân công đánh Trường An, bảo Lưu Trật cứ yên tâm mạnh dạn tuyên dương thánh chỉ.
Hắn không khỏi cau mày, ngón tay gõ nhẹ lên mặt bàn, lẩm bẩm: “Sao có thể chứ?”
“Ngươi không tin?”
“Lý Hanh cớ gì lại bỏ qua những danh tướng như Quách Tử Nghi, Phong Thường Thanh, Bộc Cố Hoài Ân không dùng, lại chọn Phòng Quản làm chủ soái? Ông ta kinh qua các chức quan văn, nào có kinh nghiệm cầm quân đánh trận?”
“Ngươi lo là kế nghi binh?”
“Ân, ngộ nhỡ Lý Hanh ngoài mặt lấy Phòng Quản làm thống soái, ngầm sai một đại tướng đi đường vòng, thì Trường An nguy mất.”
Việc này, chỉ dựa vào một bức thư của Phòng Quản thì không thể phán đoán được, Tiết Bạch chỉ có thể phái thám mã đi dò la.
Mà chỉ trong vài ngày ngắn ngủi, Lý Hanh cùng đại quân đã đến huyện Ung, đồng thời đổi quận Phù Phong thành quận Phượng Tường, gọi là Tây Kinh. Như vậy, trong mắt người đời, Lý Tông phong Tiết Bạch làm “Ung Vương” là có ý để Tiết Bạch bình định Lý Hanh.
Vừa mới kết thúc trận chiến với Thôi Càn Hựu, quan binh đã vô cùng mệt mỏi, còn chưa kịp nghỉ ngơi, mà phản quân đầu hàng còn chưa kịp chỉnh biên. Lương thực dự trữ của thành Trường An cũng hoàn toàn chưa hồi phục.
Thậm chí bao gồm cả Tiết Bạch, kỳ vọng cũng là trước tiên đánh bại An Khánh Tự, bình định chiến loạn, khôi phục việc cung ứng từ Giang Hoài cho Trường An.
Hắn còn định đợi phản loạn ở Phạm Dương được bình định, sẽ phái người đến Dương Châu đón Nhan Yên về.
Kết quả lập tức phải nghênh chiến Lý Hanh, cảm giác mệt mỏi nhất thời tăng lên gấp bội. Có thể tưởng tượng được nhiệt tâm của quân dân Trường An đối với cuộc chiến này cũng không cao.
Tiết Bạch buộc phải thừa nhận, mình đã trở thành một trong hai con hổ trong thế cục “lưỡng hổ tương tranh” còn Lý Hanh tọa sơn quan hổ đấu, chiếm được thiên thời lớn hơn.
~~
Mùng chín tháng Sáu, thám mã báo tin về.
Nguyên soái phủ, Tiết Bạch cùng chư tướng thương nghị quân tình, biết được thống soái địch quân có khả năng là Phòng Quản, phản ứng của mọi người không giống nhau.
“Tể tướng đích thân cầm quân, xem ra, trận này bên phía Lý Hanh quyết tâm giành chiến thắng rồi.”
“Ta càng sợ là Quách Tử Nghi, Phong Thường Thanh hơn.”
“Phòng Quản cũng không đơn giản, kẻ này tiếng tăm lừng lẫy, e là rất có mưu lược…”
Tiết Bạch nghe những lời này, đi đến trước sa bàn, lặng lẽ bày binh bố trận. Một lát sau, Lý Quang Bật cũng đi tới.
Cộng thêm đám phản quân chiêu hàng, họ có mười ba vạn người, hơn nữa tinh nhuệ không ít, về binh lực chẳng hề thua kém Lý Hanh. Vấn đề nằm ở chỗ, hậu cần tiếp tế còn thiếu thốn trầm trọng.
“Ta không sợ địch quân dàn quân quyết chiến với chúng ta nơi đồng rộng.” Tiết Bạch chậm rãi nói, “Nếu là Phòng Quản chỉ huy, hẳn là Lý tiết soái dễ dàng đánh bại ông ta.”
“Chưa chắc đã dễ dàng.” Lý Quang Bật nói: “Nhưng có thể đánh bại ông ta trước khi Trường An cạn lương thực, lại không tổn thất quá nhiều binh lực.”
Tiết Bạch cầm lấy cây gậy dài, di chuyển quân cờ, nói: “Nhưng nếu Lý Hanh phái một cánh quân đi đường vòng, uy hiếp Hoa Âm, vây hãm Trường An. Thì không quá một tháng, Trường An thế tất không thể giữ.”
“Đúng vậy.”
Lý Hanh khác với An Khánh Tự, một khi Lý Hanh vây hãm Trường An, rất dễ dàng khiến cho các nơi trong thiên hạ không còn ủng hộ Lý Tông nữa. Vậy thì trận này, Tiết Bạch gần như chắc chắn sẽ thua.
“Ta còn một nỗi lo khác.” Tiết Bạch tiếp tục nói: “An Khánh Tự nay đã trốn qua Hoàng Hà, tính thời gian hẳn đã đến gần Tương Châu. Tiêu diệt hắn chỉ trong một sớm một chiều. Nhưng nếu chúng ta lúc này tập trung binh lực đối phó Lý Hanh, ắt sẽ cho hắn cơ hội thở dốc.”
Lý Quang Bật nói: “Chủ lực giặc Yên tuy tổn thất, nhưng có thể chiêu mộ binh mã bất cứ lúc nào. Lần này tha cho An Khánh Tự, hắn ắt tro tàn lại cháy.”
“Phải, diệt ác phải diệt tận gốc.” Tiết Bạch nói: “Ta quyết tâm thừa thắng xông lên tiêu diệt An Khánh Tự, chấn nhiếp tướng lĩnh các châu, chấn hưng lại uy vọng triều đình.”
Như vậy là tác chiến trên hai mặt trận, hiện tại tiểu triều ở Trường An này đã mất đi sự ủng hộ trên danh nghĩa, chỗ đứng chưa vững đã phải đối mặt với hai mươi vạn biên quân của Lý Hanh, tác chiến hai mặt trận rõ ràng là quá sức.
Lý Quang Bật lại rất hiểu suy nghĩ của Tiết Bạch.
Y chỉ vào sa bàn, nói: “Cần phái một đại tướng đông tiến, trù tính chung chiến cục Hà Nam, Hà Bắc, Giang Hoài, không chỉ là triệt để tiêu diệt An Khánh Tự, mà còn phải khai thông lại lương đạo từ Giang Hoài về Trường An.”
“Không sai.”
Lý Quang Bật suy tư hồi lâu, chậm rãi nói: “Nếu ta giữ Trường An, để lại bảy vạn binh mã là đủ, Ung Vương có thể phái một đại tướng thu phục Hà Bắc.”
Tiết Bạch nói: “Do Lý tiết soái thống lĩnh quân đi chinh phạt An Khánh Tự, có được không?”
Lý Quang Bật hơi ngẩn ra.
Y đương nhiên là nguyện ý thống lĩnh quân đi đánh An Khánh Tự hơn, chứ không muốn tham gia vào cuộc nội đấu giữa hoàng thất. Như vậy, dù cho Lý Hanh thắng, sau này cũng sẽ không truy cứu y, ngược lại còn phải phong thưởng công lao bình định giặc Hồ cho y, nhưng y không ngờ, Tiết Bạch lại giao việc lớn như vậy cho mình.
“Ung Vương không sợ ta đông tiến xong sẽ trở giáo sao?”
“Nếu như vậy, ta cũng đành chịu.” Tiết Bạch nói, “Chỉ nhìn vào việc Lý Hanh bổ nhiệm Phòng Quản làm chủ soái, liền có thể thấy hắn tuyệt đối không phải minh chủ. Lý tiết soái không nghĩ ra nguyên do hắn làm như vậy sao?”
Lý Quang Bật đương nhiên nhìn ra được, sự bổ nhiệm này của Lý Hanh nếu không phải để mê hoặc kẻ địch, thì chính là dùng người thân tín, kiêng kỵ đại tướng. So sánh ra, Ung Vương vào lúc dầu sôi lửa bỏng này còn dám để y thống lĩnh quân bình phản, tỏ ra có khí phách hơn nhiều.
~~
Phượng Tường.
Lý Hanh rời khỏi hành cung, đích thân đến Nguyên soái phủ, chỉ thấy bọn Lý Thục, Lý Bí đang xử lý đủ loại quốc sự rườm rà.
Lý Bí tuy không chịu nhận quan chức, vẫn khoác bộ vũ y kia, nhưng những ngày này, sự vận hành của triều đình mới căn bản không thể thiếu y. Bất luận là định ra chiến lược, trù tính tiền lương, thậm chí là giải đáp thắc mắc riêng cho Lý Hanh, việc lớn việc nhỏ, đều do y tham mưu.
Nhưng có một số việc, Lý Hanh lại cũng không nghe theo kiến nghị của Lý Bí.
Ví dụ như, trước đó Lý Bí đề nghị xuất binh chi viện Trường An, Lý Hanh không đồng ý. Lý Bí liền nói để Lý Quang Bật vào thành trước diệt trừ nghịch tặc cho hắn, Lý Hanh mới động lòng. Không ngờ Lý Quang Bật lại chuyển sang đầu phục Lý Tông. Đối với việc này, Lý Hanh ngoài mặt không nói gì, trong lòng lại có chút suy nghĩ khác.
Nay Lý Tông đã chiêu hàng được Điền Thừa Tự, cục diện ngày càng bất lợi, Lý Hanh lo lắng không yên. Lý Bí lại đề nghị, không cần vội vã chiếm lấy Trường An, mà nên phái đại tướng bình định Hà Bắc trước, lấy Phạm Dương. Đợi triệt để giải quyết xong sự phản loạn của cha con họ An, chiếm cứ Hà Nam, thì lương thảo Trường An đoạn tuyệt, không đánh tự vỡ.
Lần này, thái độ của Lý Bí rất kiên quyết, cho rằng Lý Hanh có sự ủng hộ của Thái Thượng Hoàng, là Hoàng đế Đại Đường danh chính ngôn thuận. Vậy chỉ cần bình định xong giặc cướp trước, khiến thiên hạ thái bình, Hà Nam, Giang Hoài không có lý do gì không quy phục. Căn bản chẳng cần thiết phải xua đại quân cường công Trường An.
Lý Hanh lại căn bản không chịu nghe.
Một là, đi đường vòng qua Hà Bắc, bình định phản loạn trước, rồi mới lấy Hà Nam, Giang Hoài, thời gian quá lâu, đêm dài lắm mộng, ai biết được trong khoảng thời gian này sẽ xảy ra chuyện gì, tỉ như thái độ của Lý Long Cơ lại thay đổi; hai là, Lý Tông tuy đã chiêu hàng phản quân, nhưng thành Trường An vừa mới bước ra khỏi khói lửa chiến tranh, không thể cho họ cơ hội thở dốc thêm nữa, nếu không Lý Tông tất nhiên sẽ dựa vào đại công mà thu phục lòng người.
Hắn nóng lòng muốn thu phục Trường An, trừ khử Lý Tông, Tiết Bạch, ngay cả quân Hồi Hột cũng đã mời tới rồi, làm sao có thể vào lúc này lại đi ngược đường?
Vì vậy, hôm nay đến đây, chỉ là để trấn an Lý Bí.
“Trường Nguyên, có phải vẫn đang trách Trẫm không nghe lời ngươi?” Lý Hanh cười nói, “Trẫm có sự cân nhắc của riêng mình.”
Thiên tử đích thân đến giải thích, Lý Bí cũng không tiện nói thêm gì nữa, khẽ thở dài, lại đưa ra một kiến nghị.
“Phòng công vốn là bậc hiền sĩ vẹn toàn đức độ, cốt cách thanh cao hiếm thấy trên đời. Nếu mai này giang sơn thu về một mối, Bệ hạ để ông ấy nhàn nhã sau màn trướng, giữ nhịp nơi miếu đường, ắt sẽ có thêm một vị Tể tướng lưu danh thiên cổ. Thế nhưng, nghiệp đao binh chẳng phải sở trường của kẻ văn nhân, Bệ hạ vì ngưỡng mộ thanh danh bấy lâu mà ký thác kỳ vọng thắng trận, sợ rằng khó thành. Sao không giao ấn chủ soái cho Quảng Bình Vương, còn Quách Tử Nghi làm trợ thủ?
Hiện giờ Tiết Bạch đều đã được phong làm Ung Vương, Lý Thục lại vẫn chỉ là Quảng Bình quận vương.
Kỳ thực Lý Hanh muốn phong mấy vị nhi tử làm thân vương, đồng thời phong Trương Đinh làm Hoàng hậu. Hắn không chỉ một lần thương nghị với Lý Bí việc này, nhưng Lý Bí mấy lần đều khéo léo nhắc nhở hắn không được, nói Bệ hạ tức vị là vì công sự, vội vã phong thưởng thê nhi, chỉ khiến người trong thiên hạ hiểu lầm.
Vì chuyện này, Trương Đinh khá bất mãn, mấy lần oán thán trước mặt Lý Hanh rằng Lý Bí có tư tâm. Lý Hanh thường nghe lời tỉ tê bên gối như vậy, đối với kiến nghị của Lý Bí cũng không còn tin tưởng như trước nữa.
“Yên tâm, Phòng Quản coi thiên hạ là trách nhiệm của bản thân, tri vô bất vi, tham quyết cơ vụ.” Lý Hanh nói: “Ắt có thể một trận thu phục Trường An.”
(*tri vô bất vi, tham quyết cơ vụ: am tường mọi quân cơ đại sự, không gì là không biết, không gì là không làm được.)
Sở dĩ dùng Phòng Quản, Lý Hanh quả thực có sự cân nhắc của riêng mình.
Vì chuyện Lý Quang Bật chuyển sang đầu phục Lý Tông, khiến cho Lý Hanh hữu sở nghi kỵ, đối với bọn đại tướng Phong Thường Thanh, Quách Tử Nghi sinh lòng chẳng thể tin dùng. Ngoài ra, những tướng lĩnh này đã làm quan đến một phương phiên trấn, nếu lập thêm đại công thu phục Trường An, sau này tất nhiên sẽ xuất hiện tình huống công vô khả thưởng.
Dĩ nhiên, hắn cũng thực sự tin tưởng Phòng Quản.
~~
Ngày hai mươi tháng Sáu, Phòng Quản xuất binh.
Trên thực tế, cộng thêm viện quân Hồi Hột, Lý Hanh cũng chỉ trù tính được mười lăm vạn binh lực, xưng là hai mươi vạn đại quân.
Phòng Quản chia binh mã thành ba quân, ông ta lấy Dương Hi Văn thống lĩnh nam quân, tiến quân từ hướng huyện Chu Chí; Lưu Triết thống lĩnh trung quân, tiến quân từ huyện Võ Công; Lý Quang Tiến thống lĩnh bắc quân, tiến quân từ huyện Càn.
Hiện tại viện quân Kiếm Nam trấn thủ phía tây Trường An này đã dưới sự thống lĩnh của Nghiêm Vũ rút về đất Thục. Thế là, hai mươi vạn đại quân này tiến triển thuận lợi, mùng một tháng Bảy đã đến cầu Hàm Dương bên bờ sông Vị.
Rất nhanh, thám mã báo về, mấy ngày trước, Lý Quang Bật đã thống lĩnh mấy vạn binh mã đi về phía đông, thế mà lại ra khỏi Đồng Quan.
Đối với việc này Phòng Quản bán tín bán nghi, nhìn bản đồ cau mày suy tư hồi lâu, sợ phản quân Khánh vương đi đường vòng đánh lén mình. Mang theo nỗi lo âu như vậy, ông ta kiên nhẫn đợi hai ngày, xác định không có mai phục, mới hạ lệnh vượt qua cầu Hàm Dương.
Rất nhanh, phía trước xuất hiện trận liệt của phản quân Khánh vương, tiên phong là Vương Nan Đắc.
Tiếng tù và vang lên, hai bên bày trận thế, đều cẩn thận thăm dò đối phương, rục rịch chuẩn bị ác chiến một trận.