Chương 2 : Những bước đi đầu tiên
Người xưa sinh con xong thường thì đợi đến đầy tháng mới đặt tên, Hưng không biết thời hiện đại thì thế nào vì có nhà theo nhà không theo, nói chung là loạn hết cả lên. Trong nhà soạn sẵn một vài mâm cổ – gọi là mâm cổ chứ cũng chẳng có gì mấy : cau trầu, vài dĩa thịt, xôi, cơm, rượu…
Nghe đâu nhà hắn phải đi vay mượn tiền của họ để làm cho đủ 8 mâm. Hắn biết 8 mâm là cực kỳ ít so với thời hiện đại, nhưng cũng chẳng trách được nhà hắn không khá giả.
Mâm nào mâm nấy đặt trên đất cả, nhưng có phân cấp rõ ràng, mấy người cao tuổi ăn mặc có lẽ là vải lụa thì được ngồi trên một cái sập (loại bàn thấp) lớn, còn mấy thằng nhóc thì ngồi ngài hiên nhà – thật ra là được lót đá chứ cũng chẳng phải là đất nên cũng không sợ lấm lem gì cả.
Cái tên sẽ đi theo con người mãi mãi, trước khi khai cỗ thì hắn được một người bưng lên trước bàn thờ gia tiên, lại có ông đồ đọc gia phả mà tra từng tên để tránh trùng húy – cái thứ mà người xưa luôn sợ nhất khi nhắc tới tổ tiên. Hắn nghe đâu đó đoạn đầu ổng đọc :
-Thuận Hóa xứ, Triệu Phong phủ, Quảng Điền huyện, Hoa Lang xã […]
“Ồ?” Hắn nghĩ, thực không phải xứ Quảng Trị. Hắn nhớ từng đọc đâu đó, có lẽ Đại Nam Thực Lục hoặc Đại Nam Nhất Thống Chí, thì sau vua Gia Long thống nhất quốc gia hay lúc ngài chiếm lại Thuận Hóa từ Tây Sơn thì chia Thuận Hóa ra làm 3 tỉnh Bình Trị Thiên như nay.
Hắn nhớ rõ nội dung là lấy 3 huyện là Quảng Điền, Hương Trà và Tư Vinh gộp lại bao quanh Phú Xuân mà lập dinh Quảng Đức, sau vua Minh Mạng mới đổi lại là phủ Thừa Thiên. Cộng thêm việc nhìn xung quanh mà hắn mục sở thị thấy đàn bà mang quần, vậy chứng tỏ là sau năm 1744 khi mà Nguyễn Phúc Khoát xưng vương. Vậy là xác định tương đối được như vậy là được lắm rồi, lại thêm ở làng Hoa Lang – ngôi làng hắn khá thân thuộc.
Hắn được đặt tên là Yến 鷃, bên chữ Yến 晏 nghĩa là rực rỡ, bên là chữ Điểu 鳥 ý chỉ loài chim. Thật thì chữ này chẳng mấy ai dùng cả, thầy đồ trong làng dùng thì hắn mới biết vì tầm học chữ của hắn ngang đâu tam thiên tự thì ngang tầm đủ viết chứ cao siêu hắn chịu, muốn hơn thì phải ngũ thiên tự (năm ngàn chữ) may ra, nhưng nhiều chữ Hán có thì có thật nhưng nhiều chữ mất nghĩa mất âm, không phổ biến thì ngũ thiên tự hay lục thiên cũng chịu thua.
-Yến ni nghĩa là chi rứa thầy? – bà Tuyết hỏi –
-Là con chim cun cút, o mi nhớ lấy, eng (anh – đại từ nhân xưng địa phương) nói rứa thôi.
Thật thời xưa tên người có hai dạng là tên húy và tên tục, tên tục là tên gọi thường ngay, hay có thể nói như thằng anh hắn – thằng Trâu là tên tục gọi thường ngày, còn có khi húy trong gia phả là Ngọ? Hay Gà là Kê?
Tất nhiên là điều này thường không mang tính bắt buộc, hắn nhớ rằng kiếp trước trong nhà ba anh em của ba hắn thì chỉ riêng ba hắn không có tục danh, chỉ là Hoàng Ngọc Thức thôi chứ không có gọi gì nữa hết. Hắn biết điều này là do lễ họ hắn hay ra rảnh ngồi coi gia phả trong nhà.
Lại nói về làng Hoa Lang, thực sao hắn lại cảm thấy may mắn đấy chứ? Kiếp trước hắn là ở làng Khánh Mỹ, khá xa làng Hoa Lang. Nhưng hắn từng nghe ba hắn kể, cũng như đi về làng chơi thì biết làng Hoa Lang sau đổi tên làm Hiền Lương do phạm húy mẹ vua Thiệu Trị, nhưng mà người Hiền Lương – làng rèn thì đi khắp nơi thành lập các phường sản xuất nghề rèn.
May mắn làm sao kiếp trước từng đọc qua Hiền Lương Chí Lược của cụ Huỳnh Sỹ Chiến hay Hoàng Sỹ Chiến, ghi chép phong tục cũng như lịch sử làng Hiền Lương, hắn mới biết rõ mấy điều như vậy.
Cũng thể coi là cơ duyên, hắn chuyển sinh về quá khứ mà lại vào trúng cũng nhà một họ Hoàng, nhưng là Hoàng Văn. Nhưng ở làng Hoa Lang này họ Hoàng Văn tính là cũng đông, gồm 3 họ nhận 3 ông thủy tổ lần lượt là Khi, Nhất, Kim Huy, hắn thì không biết mình là nhánh nào cả, nhưng việc đó thì quan tâm làm gì cơ chứ? Mà giờ hắn mới để ý, không biết ba hắn ở đâu, có khi mất rồi chăng? Bỗng đâu nghe ông già nào đó ngồi trên tợ hỏi thăm, có lẽ là trưởng làng :
-Cái thờn (thằng) cu Thuần mãi răng chưa về rứa, o mi nói tau (tao) nghe cái nờ?
-Dạ thưa cụ, eng (anh) Thuần bưa chừ bận ở phường Bao Vinh rèn đồ cho chúa thượng ạ, mãi chưa thấy về, con có kêu thằng cu Trâu đi gửi thư mời eng (anh) nhà về mà mãi chưa thấy ạ.
-Đờn (đàn) ôn (ông) thì lấy sự nghiệp vi quý, nhưng mờ (mà) cũng phải lo cho vợ con trong nhà chơ? Khi mô nói tau (tao) dạy lại lễ nghĩa chơ? Răng không nói?
-Dạ thưa cụ, mỗi nhà mỗi kẻng (cảnh) khôn (không) dám để việc mềnh (mình) làm phiền bà con trong làng, eng (anh) Thuần nào về cũng được, miễ… À dạ mễn (miễn) răng khỏe mệnh (mạnh) mà về là vui rồi ạ.
-Thờn (thằng) Thuần có phúc lớm (lắm) mới cưới được o mi làm vợ, biết tại gia tòng phụ là tốt.
“Ừ thế thì ba mình còn sống.” – hắn nghĩ thầm-“Lại còn nghề rèn nữa chơ, rứa cũng không tính là nghèo”. Cái nghề rèn Hoa Lang vốn nổi tiếng khắp cái xứ Thuận Hóa từ bao đời, người thời xưa muốn làm gì cũng cần phải có thợ rèn rèn cho, thậm chí thợ rèn có thể rèn đồ trả thay tiền – nghe thế thôi là hắn đã biết cái bá đạo của nghề rèn rồi.
Mà tiếc nỗi thời hắn sống trước đây nghề rèn đã mai một, vì nó là ngành thủ công mà, ba hắn tuy cũng là dân rèn nhưng hắn chưa học được gì từ ba hắn về cái nghề rèn này hết, nghĩ tới đây hắn lại có chút buồn, buồn vì hắn nghĩ tới người ba chắc đang đau khổ ở tương lai vì mình, qua thế hắn lại nghĩ về mẹ, dẫu ba mẹ hắn hay cãi nhau nhưng suy cho cùng vẫn là thân sinh… hắn cảm thấy chột dạ vô cùng.
Phần hắn buồn vì tương lai nhiều thứ cha ông vun dựng lại dần mai một và bị lãng quên… Hắn khóc lên, không kiềm lại được, mới mấy tuần trước hắn còn chẳng buồn khóc mà nay lại khóc to quá – là hắn không kiềm lại được. Con người thực là một loài thường có những cảm xúc kỳ lạ.
Cảm xúc bây giờ quả thực khó nói, toàn đâu những nỗi nhớ ba mẹ và nỗi buồn về quốc văn – đúng là tuổi trẻ bồng bột với dân xã hội, hở tí là suy nghĩ sâu xa.
Dẫu sao trước đây ba hắn đập hắn ghê quá, dần hắn sợ, nhiều điều chột dạ hay buồn cũng giữ mãi chẳng dám khóc, nay tha hồ.
Mà thôi, tới đây hắn lại nhớ lại trẻ con mới sinh mà không khóc người xưa thường cho là sức khỏe yếu, dễ chết yểu, thấy hắn khóc mà cả nhà vui mừng khôn xiết, thế thì…cứ khóc thôi cho đủ lệ mà giải tỏa tâm tự, vì cũng đã lâu lắm rồi hắn không còn khóc nữa, cái khuôn mẫu xã hội đã gò ép hắn không được khóc quá lâu rồi.
Mùa mưa ở Thuận Hóa – hay chuẩn hơn là ở Thừa Thiên – Huế tương lai thường là từ tháng 10 đến tháng 3. Hắn đột nhiên nhớ vậy chẳng qua vì bỗng có bà o hay bác gì đó nói với bà Tuyết :
-O mi coi mà kêu thờn (thằng) Trâu đi lợp lại mái mơi (mới) kẻo mấy tuần nữa mưa ghê lắm, tui mơi (mới) nghe bên ôn (ông) thầy Địa Lý ở làng An Lỗ ơ, coi chừng đêi (đi) nghen.
Vậy là gần tháng 10 dương lịch rồi, hắn biết vậy vì hắn mù…âm lịch, hắn biết khá rõ cơ chế hoạt động của âm lịch nhưng mù tịt về cách gọi tên và tính tháng. Rồi cũng mấy tuần sau, trời mưa khá to, cơn mưa Huế đối với hắn cả đời coi đã chán, mớm sữa mẹ rồi ngắm nhìn cơn mưa ngoài hiên.
Người thời xưa ngắm mưa để giải tỏa cơn buồn cũng tính là hay, hắn chỉ không biết điệu mưa buồn này chỉ có ở Huế hay có còn ở đâu khác không, nhưng quả thực mưa Huế rất buồn, buồn da diết… mưa thì chẳng biết làm gì, Trâu và Gà đem hắn ra ngồi chơi mấy trò trước hiên.
Trâu là người khá cao, đâu đó 1 thước 8 tấc tức là 1m80. Người thời xưa cao thì không hẳn là cao nhưng mà cao như Trâu thì đúng là cao nếu cả ở thời hiện đại, nhìn là thấy sừng sững, hắn từng đọc tiêu chí tuyển cấm vệ binh trong Hoàng thành thời nhà Nguyễn chỉ tuyển chọn người cao 1m80 trở lên thì hắn cũng biết là dân Việt thời đó không hẳn là cọt về chiều cao.
Chỉ là thời Pháp thuộc đói ăn quá nên dần gầy và lùn đi như mấy cái ảnh được chụp lại. Mấy người hắn ngó xung quanh thì cao cũng ngang 1m60 tới 1m70 trở lên chứ không tính là quá lùn, dưới mức trung bình hiện đại một tí. Vì thời hắn sống thấy ăn uống đầy đủ thì cũng đã cao 1m74-1m75 rồi chứ người ở đây cao nhất ngoài trâu thì cũng khoảng 1m71-1m72, nên hắn mới nói cao thì cũng không hẳn là cao theo tiêu chuẩn hiện đại.
Trâu mình mẩy đen kịt, hắn là anh trưởng trong nhà, nhìn tuổi chạc hơn 20 một tí, giọng nói trầm ấm lạ thường nếu so với người hiện đại. Hắn trời mưa đem tí thịt và cơm ra cùng rượu, ngồi nhâm nhi ở trước hiên nhà.
Con Gà, cao tầm 1 thước 6 tấc 3 phân – đâu đó 1m63, thua con gái hiện đại một chút, Gà là chị của hắn, chắc cũng tầm 12-13, đang cặm cúi chơi với hắn bằng cách tập tành làm trốn lùng tùng với con ve ve (một món đồ chơi quay quay ra tiếng ve). Bôi trát bột một hồi mãi mới làm xong rồi quay quay cho hắn chơi.
Mẹ hắn – bà Tuyết thì đang nấu ăn trong nhà, trời mưa mà nhà hắn có lẽ là làm nông nên không có thu nhập, nhưng hàng hóa thì cũng đã trữ sẵn phơi khô từ trước mà đem đi nấu rồi, lâu lâu có thể sẽ đi chợ để mua thêm thịt cá, còn không cứ ở trong nhà cho tới khi hết mùa mưa mới thôi.
Cứ như thế, hắn chẳng biết bất chợt đâu hiện ra một bóng người đi trong mưa lớn, một bóng người đang dần một rõ nét hướng về phía hắn hơn, đầu đội nón, lưng che rơm, chân đi không đang dần tiến thẳng tới căn nhà này.
Chỉ thấy Trâu và Gà hú hét lên vì sướng, ờ, đó là Thuần, ông ta đã trở về sau những ngày tháng xa vợ con để làm việc, hắn tự nhủ mong rằng, Hoàng Văn Thuần này sẽ là một người cha tốt với hắn trong kiếp này, chí ít có thể bằng 1/4 người ba của hắn thôi cũng được…