Chương 103 : Hội An phố
Nằm dọc con sông Thu Bồn, gồm 6 xóm Hội An, Minh Hương, Cổ Trai, Đông An, Hoa Phô và Diêm Hộ. Đừng xá đông đúc chứ không như Thanh Hà…
Ngọc Yến người bụng đầy vết thương, nội tạng như đảo lộn cả lên chỉ vì một cú đá. Hắn vẫn tưởng đó là sức mạnh buff biếc gì của lũ thần trao cho tên kia, không biết vốn chỉ thường nhân.
Nằm mơ màng, thấy da mình đen mà nhận thấy áp lực, nhìn lên nguyên con rồng lao xuống, máu nhuộm đỏ xung quanh… Hắn hét lên mà bật dậy, giữa căn phòng toàn lụa là, nệm bông.
Lau mồ hồi rồi mặc đồ, cố đi ra ngoài tịnh tâm, hắn càng ngày càng suy nhược đi. Cả thể xác lẫn tinh thần của bản thân.
Ấy quá thì coi Vishnu lạm dụng mà làm quá, chứ cũng nếu mà như hắn thì đâu có gì trong tay?
Bỏ qua mà đi tiếp, trên khu vực phố dọc bờ sông mà họ gọi là Đại Đường. Đa số là người Phúc Kiến, còn đâu vài nhà người Nhật. Do chính sách phân biệt và đàn áp người Nhật công giáo, vốn bỏ chạy tới đây, thì lượng người Nhật giảm sút.
Nhà nào nhà ấy sát nhau, được hơn trăm nhà một phố mà thành. Mà gần đây mỗi năm chỉ được tầm chục thuyền qua lại, sự sầm uất tuy có giảm nhưng vẫn đông.
Vào một quán ăn đông đúc, ngồi xuống mà kêu đĩa rau ra ăn. Ngắm nhìn một khu phố sáng đèn dù theo tục là đã khuya, thường Thanh Hà tầm này đã ngủ hết.
Con bé phục vụ viên hấp ta hấp tấp lại làm đổ rượu lên bàn của bọn Anh quốc, làm bọn này đứng lên chửi mắng liên tục, nào là “Wh*re” rồi “B*tch”… “Pardon her for her mistake!” ấy hắn hét lên mà ném tiền cho bọn chúng.
Tất nhiên là ở đây vẫn bám vào tiền xu mà dùng, bọn thương nhân thấy tiền giấy thì biết ngay quan triều đình. Từ đợt Thanh Hà in ấn quán bị sát nhập vào triều đình, quan lại phát lương đều qua loại tiền này hết. Trừ đó ra thì dân Thuận Hoá mới có, nhìn phong thái mặc đồ đối khâm thì không rõ hắn thuộc dạng nào.
Nhưng mang kính, trẻ với nói sành tiếng Anh, bọn ấy rõ ngay là Thanh Hà quận công. Trong mọi hải trình, họ thường ghi chép và truyền nhau về tính khí những người cai quản địa phương, như Lê Văn Duyệt cũng được miêu tả ngoại hình và tính cách để nhận dạng.
Tới xã giao thì rồi thôi, hắn kêu cao lầu ra ăn. Ngoài mì Quảng thì còn món này là đặc sản, tuy du nhập từ Trung Hoa song có thay đổi.
Cao nghĩa là cao lương mỹ vị, lầu là lầu cao. Đang đúng chỗ lầu cao, vừa ngắm cảnh đêm Hải Phố sáng đèn, vừa ăn một đống thịt ngập cả vào mồm. Nhưng ít nước chỉ đủ khỏi nấc cụt.
Người dân thường mấy ai đủ tiền vào tửu lầu? Cũng mấy ai đủ tiền ăn nhiều thịt như này?
Nói qua hắn lại nhớ tới cây cao lương : loại cây lương thực chính của Trung Hoa trước khi tiếp xúc lúa nước, mãi sau với sự mua bán Đông – Tây mà lúa mì mới du nhập và thay thế vị trí của cao lương trong ẩm thực Trung Hoa.
Nhưng chữ Cao 膏 của cao lương mỹ vị khác Cao 高 của cây cao lương, ý nghĩa khác nhau. Nhưng có thể hàm ý ban đầu giống nhau?
Bất chợt đâu khuya rồi có ông thầy sư vào, xin tiền chữa bệnh cho người nghèo, xin biểu diễn thuật pháp nhấn đầu vào nồi dầu sôi. Bắt bếp than đốt mà thi triển, thực khách xuống dưới coi rất đông.
Hắn cũng xuống coi coi, lại khi bắt gặp kẻ được chọn thì sao? Lại thấy sư thầy nhúng đầu cái rồi rút lên, tay đút rửa rửa xoa xoa rồi thôi, trông rất bựa.
Cả đám hò hét mà tán thưởng cho, lại cho ông ta tiền. Kỹ thuật vận nội công của võ gia ư? Không, vận nội công không có chống bỏng được.
Bỗng… hắn chợt thấy ông sư có cái cán kéo theo một người rất quen, nhưng bụng máu mà tay trái thì cụt. Nhìn gần thì chính là Vương Diệu Quân ư?! Hắn chợt nhớ lại ký ức cũ, tim luỵ tới mức ngã ra như đột quỵ. Làm mấy tên phải thi nhau đỡ dậy.
Ổn định lại, hắn bảo sư thầy :
– Con biếu thầy 15 quan, coi là lo bệnh cho cô ni, còn con có tài thuốc Nam, coi cứu được như răng thì con giúp.
– Hiền nhơn tờ bi (từ bi) hỷ xả, côn (công) đức vô lượn (lượng)! Thực ngài biết thuốc Nôm ơ, thì xin giúp cho với ạ!
Nói thế chứ hắn ngu òm, sao cứu được tình cảnh như này? Trên đường mà tới chùa Gia Tĩnh, một ngôi chùa sập xệ, nhiều tăng sư gầy nhom, đối lập với những đám người nãy hắn thấy.
Tới nơi còn mua cho mấy sư cao lầu với mì quảng bỏ vào trong chum mà ăn. Họ là sư theo phái Nam Tông, thường đi khất thực ai cho gì ăn đó, song sau giờ Ngọc (khoảng 12 giờ trưa) thì thôi.
Mà mấy người Tây chơi ác, thấy đi khất thực lại bỏ nguyên… trái dừa vào cho đầy hũ, mà đầy hũ là hết đi xin. Thành ra mấy ngày liền phải ăn dừa, uống dừa thay cơm nước. Đói qua mà phá lệ ăn cơm ăn thịt cho qua cơn đói.
Nhà chùa có bao nhiêu của cải đem hết cho dân trả nợ với đóng thuế triều đình, nên tan hoang như giờ. Mệt mỏi, hắn lại không có giấy bút, không thể ghi mà gửi về triều đình yêu cầu giảm và bãi bỏ thuế được.
Tuy Vũ Đế đang có ý kiềm chế quan liêu, song vẫn khá nhân nhượng chúng. Nếu may ra thì xin bỏ bớt thuế xàm xàm, nộp thuế bằng tiền, rồi triều đình lấy tiền mà mua sản vật.
Âu cũng khó vì người dân nhiều vùng không có buôn bán tiền bạc, khó lắm… Chỉ cần bỏ bớt lượng thuế, giảm số thuế và tăng thuế luỹ tiến với nhà giàu, lấy tiền đó đầu tư thì may ra nhỉ?
Thấy vết thương của Diệu Quân hoại tử, hỏi ra thì nghe cô trôi từ bờ vào, lan máu cả một khúc, làm người dân bỏ chạy hết. Vết thương nhiễm trùng cũng khá nặng và lâu… Hết cách, xin sư lấy cho một miếng vỏ xơ dừa, cắm vào người Diệu Quân mà ra ngoài.
Hắn kiếm miếng vải rồi quấn lại, tìm chỗ cao treo quả dừa lên, truyền nước qua vải rồi vào miếng xơ ấy. Bắt mạch hắn không biết, chỉ biết mấy sư đói meo thì chắc Diệu Quân cũng thế, huyết áp có thể thấp, truyền nước dừa tựa như nước cất không nguyên trong bệnh viện thôi.
Hoại tử cánh tay trái thì đánh kêu mấy sư ra ngoài để hắn lấy đao, hơ lửa một tí mà chặt đi. Vết đó để lâu càng ăn sâu vào cơ thể, phải chặt đi chứ không biết làm sao.
Hơ lửa qua mà sát trùng, người thời này chỉ biết làm như này vết thương sẽ hết bị mưng mủ chứ chưa biết tới sinh trùng. Hắn làm hồi, lại đưa tiền xin mấy sư đi mua lá chè xanh và trầu không để nhuyễn ra mà đắp, bó lại bụng và những chỗ bị thương.
Xong xuôi, hắn chỉ dặn cứ hết nước thì bỏ quả dừa mới vào miếng vải là được.
Gặp sư thầy Thích Chơn (Chân) Thiện ở ngoài, hắn được thầy vừa đi vừa cảm ơn khá nhiệt tình :
– Thiện phước cho ngài, ngài quả thực thương người. (Chân Thiện)
– Khách sáo quá ạ, hầy, con đó là kiến nghĩa bất vi vô dũng giả thôi. Thầy nên giữ tiền, trồng rau trong chùa chơ đừng mua thêm muối chi cuo đắt đỏ, con nói thiệt.
– (Mặt tỏ vẻ ngạc nhiên) Con biết chiêu trò nớ à? Bọn thầy không muốn nhưng cứu người thì cần tiền, đành phải làm mấy việc nớ… A di đà phật.
Trò đổ nước muối đặc vào chảo, rồi mới đổ dầu lên trên hắn có biết qua. Khi sôi, dầu vì nhẹ hơn mà trồi lên trên, có bong bóng như nóng nhưng thực tế là khí do nước muối đặc ở dưới đưa tới. Nếu để càng lâu thì dầu mới nóng thực sự.
– (Ngọc Yến nói tiếp) Thầy tốn tận 2 quan mua muối, mà làm khi được khi không thì răng mà được?
– Ha ha! Thiện tại, con thực thông minh, như ri : chùa ta có võ Như Lai quyền của Thiếu Lâm, nhưng không ai bao giờ muốn học. Thấy con tốt bụng, muốn cho con cuốn ni (giơ ra cuốn sách) để thay tiền phí… Mong con nhận cho.
– Thầy đừng làm như ri, con đây miễn phí, có chi mô? Nhưng con xin nhận mà học, ấy không mong thầy coi là trả tiền khám chữa.
Như Lai thì trong Nam Tông chỉ có Thích Ca Mô Ni, trong Bắc Tông thì nhiều đối tượng hơn. Hắn tạm biệt chùa Gia Tĩnh, cũng không định đón Diệu Quân đi theo, sợ phiền hà mà để lại nơi đây.
Có lẽ cái đoàn thuyền của gã họ Vương Diệu ấy bị cướp tấn công à? Hắn không đoái hoài nổi, từ đợt bữa thăm Phú Xuân mà đọc tài liệu thu thập được, mới rõ ra lão người xảo trá, giấu diếm nhiều điều. Lỡ lão dựng cảnh mà bỏ đi đứa con sao? Nhưng cha mẹ ai ác như thế…
Hắn nhận sách là vì không thể mượn lực thần thánh hoài được, ví như Đồ Cơ xưa cũng anh dũng, có tài cưỡi ngựa bẩm sinh mà đánh nhau với Cao Miên mà còn thua trước thời cuộc.
Sinh ra yếu đuối, không truyền thừa gì ghê gớm, mấy lần gần chết toàn thần trợ. Chặp hắn thấy cần học hỏi và rèn luyện thêm, chủ động học hỏi.
Võ nhà Phật ư? Lối đánh ít vòng vo, dồn lực mạnh vào chỗ hơi yếu hiểm mà đánh, chủ yếu khống chế hoặc răn đe chứ không đánh chết được.
Mấy ngày ở lại Hải Phố, hắn chỉ ngồi rảnh rảnh coi với luyện tập qua, rảnh thì chạy bộ để hồi phục chân với tăng cường sức khoẻ tim mạch.
Hắn còn nhận ra lâu lâu cướp biển còn ghé vào mua hàng hoá, thấy cả luôn Hoàng Phủ Tường với Trịnh Hoàng Diệu chơi rồi tỉ thí với nhau. Cái mà hắn tưởng khả năng siêu nhiên gì thực ra là chúng mang giày sắt, quấn vải xung quanh, bôi sẵn cồn rồi châm lửa cháy cho vui.
Đá thì lực tên nào tên ấy rất mạnh, một cước nổ một hình nộm còn được chứ sợ gì? Chính vì lớp đó mà đòn đá bọn chúng rất mạnh, phần vì lực sẵn có.
Võ ấy gọi là Hoả Kê quyền, mô phỏng đòn đá của gà đá, nhiều thế bay nhảy dồn dập. Nhưng hắn không rõ : mắc gì phải đốt lửa nơi chân? Cho vui cho gà sợ à?
Nghĩ lại một cước nổ banh bụng banh xác của lính cũng ác quá đi, mà Tường cũng dạng vô đạo bất lương mà hợp tác với bọn này…