[Tiền truyện 31]: Chiến thanh
Thăng Long năm nay (1789) mất Tết! Nhân dân chỉ dốc những chén “khủng bố kinh hoàng” thay cho bánh chưng, dưa hành, thịt mỡ.
Nay đã sang ngày mồng 3 tết. Ông Đinh Đề lĩnh vừa mừng vừa sửng sốt khi thấy ông Cống Nguyễn Thiệp đem từ Nghệ An ra biếu chiếc bánh chưng.
Chắc hẳn là chiếc bánh chưng phi thường?
Quả thế, sau khi thấy tên lính hầu đã bị chủ nhân xua ra bằng cái bàn tay “cơ cảnh” Nguyễn Thiệp mới chỉ vào chiếc bánh chưng, thuyết ông Đinh một chập, rồi quay ngay tới cái mục đích mình đến:
“Trong nhân chiếc bánh này có tờ mật dụ của vua Quang Trung. Ngài muốn nhờ ông ghé vào một vai trong cuộc đánh phá giặc Thanh đương hòng quận huyện nước ta đó. Xin ông cứ theo kế, làm đúng như lời Ngài dụ, quyết sẽ góp được công lao vào cuộc chiến thắng.”
Ông Đinh, vốn có cặp mắt trông sáng thời cục, lại hiểu rõ nghĩa cả quốc gia, nên trước đó, vẫn phản đối việc cầu ngoại viện. Nay được mục kích những thảm họa do quân Thanh gieo rắc khắp dân gian, ông sao khỏi không đau đớn trước cảnh rước voi giày mả!
Thì dịp tốt đây! Ông Đinh quyết ra tay làm cho chính kiến mình được thực hiện. Nên chi, sau khi xem kỹ mật chỉ của vua Quang Trung, ông không ngần ngại quyết định: xin làm theo đúng như mưu kế của nhà vùa.
…….
Đêm mồng 3 tết, cái đêm ấm áp, êm đềm, vui thú của tiết xuân non, cũng là cái đêm hãi hùng đau đớn của giặc Thanh đóng ở Hà Hồi!
Trong đám binh mã “mập mờ” giữa nửa đêm bữa đó, vang dậy tiếng loa kêu, nhiều giọng thay đổi ứng đáp: nghe như hàng vài vạn tiếng người…
Cái mưu “làm ít hóa nhiều” đó của vua Quang Trung khiến cho quân đồn Hà Hồi bên giặc Thanh càng thêm kinh khiếp trong vòng vây hãm.
Quân Thanh trong đồn liền kéo cờ hàng, sau một cơn khủng khiếp, tan hoang, không còn hơi sức đâu chiến đấu.
Thế là không đợi phải đánh, Quang Trung đã hạ được đồn Hà Hồi, lấy sạch quân nhu, khí giới của giặc.
Trận đầu thắng lợi!
……….
Qua ngày mồng 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu (1789) tức ngày Giỗ trận saunày ở Đống Đa (Loa Sơn) đầu trống canh năm, trời xuân còn đang ngủ trong giấc say sưa mờ mịt, vua Quang Trung đã từ giờ Dần (khoảng bốn, năm giờ sáng) sai thu dồn quân lương vào một khu rồi lấy lửa đốt sạch. Nhà vua lại lấy khăn vàng cuốn buộc ở cổ để tỏ cho tướng sĩ biết rằng phải cố đánh, phải liều chết, chứ không khi nào chịu lùi.
Hai việc này (đốt lương và buộc cổ) cũng cùng một ý nghĩa như khi có giặc Mông Cổ, Đức Trần Hưng Đạo, ngồitrên mình voi, chỉ sông Hóa mà thề: “Không phá được giặc, quyết không qua sông này nữa!” Rồi vua Quang Trung xắn tay áo cưỡi voi, chính mình ra trận, thúc quân tiến đánh đồn Ngọc Hồi. Nhà vua lựa lấy hơn một trăm voi thật khỏe cho đi trước.
Mờ sáng hôm sau, quân Thanh lùa đội tinh kỵ tiến lên. Chợt trông thấy voi, ngựa bên quân Thanh sợ quýnh, hí lên, rống lên những tiếng kinh hoàng, rồi chạy toán loạn! Thấy thế, quân Nam lại thúc voi xông đến một cách hùng dũng đầyoai thiêng làm cho bên địch xô bồ hỗn loạn, mất hết trật tự.
Gặp cơn gấp, quân Thanh giày đạp lẫn nhau, không ai còn kịp cứu giúp được ai nữa! Rồi chúng lui vào trong cố sức giữ lấy đồn lũy…
Bốn mặt ngoài lũy đều cắm chông sắt? Mặc! Súng ở trong đồn bắn ra như mưa? Cũng mặc! Quang Trung cứ thúc quân đánh… đánh cho kỳ thắng.
…….
VÁN GỖ, BÓ RƠM ĐÃ LẬP ĐƯỢC CHIẾN CÔNG OANH LIỆT
Vâng theo tướng lệnh, quân ta lấy 60 tấm ván gỗ, cứ mỗi 3 tấm lại xếp thành một bó, ngoài phủ rơm tẩm nước, cộng được 20 bó như thế. Rồi cứ 10 người lực lưỡng khỏe mạnh, ai nấy, lưng đeo đoản đao, khiêng một bó ấy đi trước. Tiếp sau có 20 tên kính binh cầm vũ khí, tiến theo thế trận chữ “nhất”.
Gió bấc…
Quân Thanh giở chiến thuật: đốt thuốc súng chứa trong ống để khói mờ tỏa làm cho loạn mắt quân Nam. Nhưng may, sau đó một chập, trời quay gió nồm: luồng khói tạt cả về bên phe địch!
Được dịp tốt đó, vua Quang Trung liền hô quân tiến…
Toán lính có ván và rơm để che đỡ đó lăn xả vào trước, đội quân tinh nhuệ theo sau lại trổ sức xông vào, cứ xông vào…
Chính vua Quang Trung thân thúc voi, đốc quân cố đánh. Chết lớp này tiếp lớp khác…
Trong giây lát, quân Nam đã lướt đạn súng, vượt rào sắt phá tan cửa lũy, tràn vào được tận trong đồn.
Đánh giáp lá cà! Quân Nam quăng ván gỗ, mau lẹ tuốt đoản đao sáng quắc, chém lung tung… Đội quân cầm binh khí theo sau lại cướp đường ập đến, hăng hái trợ chiến, chém người như thái rau! Quân Thanh không địch nổi, trận vỡ, người ngã nhào, giày đạp nhau!
Những kẻ địch chạy bừa bốn ngả, chạm phải “máy ngầm” (phục cơ) lại tan tác vì địa lôi ầm nổ do chính giặc Thanh chôn đặt từ trước.
Quân Thanh chết và bị thương về trận này đến quá nửa thế nghĩa là đến hơn mười vạn người.
Hạ xong đồn Ngọc Hồi, quân Tây Sơn nhân cái đà đắc thắng, hò reo dũng dược, thẳng tiến, xông đi, phá vỡ luôn được các đồn quân Thanh đóng ở Văn Điển và Yên Quyết.
Kết cục bên Thanh tổn hại rất nhiều: Đề đốc Hứa Thế Hành, Tiên phong Trương Triều Long, Tả dực Thượng Duy Thăng… đều bỏ xác nơi chiến trường!
Nhân thế thắng, một viên tướng Tây Sơn thúc binh đánh đồn quân Sầm Nghi Đống ở Khương Thượng.
Quân Nam bổ vây kín mít và đánh rất dữ! Nghi Đống, hơi sức đã kiệt, lại không có quân cứu viện, đành trốn ra Đống Đa, thắt cổ tự tử ở trên cây đa. Vài trăm thân binh của Sầm cũng đều tự chết hay bị giết ở quanh vùng ấy, để lại nắm xương làm tài liệu cho ngày kỷ niệm giỗ trận mồng 5 tháng giêng!
……….
UỐNG RƯỢU TẾT BẰNG MÁU GIẶC THANH
Trong khi quân Tây Sơn đang kịch liệt đánh phá các đồn lũy của quân Thanh ở ngoài châu thành, thì ở trong kinh đô Thăng Long giữa đêm mồng 4 rạng ngày mồng 5 tết, bỗng bốc lên ngọn lửa “nội ứng” do bàn tay ông Đinh đề lĩnh ngầm làm: Soái phủ cháy! Kho khí giới cháy! Kho lương thực cũng cháy! Lửa đùng đùng, khói ngùn ngụt… đốt tan giấc mộng “đế quốc” của Tôn Sĩ Nghị, tướng giặc Thanh!
Theo chương trình tổng công kích, vua Quang Trung, trước đó sai một toán quân từ đường đê Yên Diên (nay là Yên Kiện) ngược lên, xổ cờ, khua trống làm nghi binh ở mặt Đông. Bấy giờ, quân Thanh thua chạy, xa xa thấy bóng cờ thấp thoáng và mồn một nghe tiếng thì thùng như Hoa Dung đương có Quan Công đứng đợi, ai không mất vía kinh hồn? Giặc Thanhcàng sợ càng vội vã chạy… Thình lình một toán quân có voi của Tây Sơn từ làng Đại Áng đổ ra, đánh chúng chạy bạt vào phía đầm Mực (Mặc Đàm) ở Quỳnh Đố: hàng vạn người chết vì voi giày đạp!
Mồng 5 tết! Cỏ hoa Thăng Long quả được đón mừng khách chiến thắng. Nói sao làm vậy, vua Quang Trung thật không thẹn với những lời hẹn trước cùng quân sĩ từ 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (1788).
Tại sao vua Quang Trung vào thành Thăng Long (giữa trưa ngày mồng 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu, 1789) được chóng và dễ như vậy?
Vì khi nhà vua đương đánh quân Thanh ở Ngọc Hồi, thì Đô đốc Long kéo quân đi từ lúc tinh sương, đã do đường Nhân Mục ập đến Khương Thượng, đánh trại quân Nghi Đống đóng giữ ở đó.
Nghi Đống thua, rồi chết ở Đống Đa! Long đường hoàng dẫn quân vào Thăng Long, kéo cờ Tây Sơn dưới bóng xuân tươi mới.
Rượu tết chưa cạn! Tôn Sĩ Nghị đã phải dốc chén đắng cay!
Trước đó, tức bữa mồng 4, Nghị mới thấy đồn Ngọc Hồi phi ngựa đến cáo cấp. Tin đâu sét đánh, làm Nghị bủn rủn cả người! Rồi lại tiếp luôn được tin đồn Hà Hồi cũng bị Tây Sơn đánh phá: không khéo bọn Nghị phen này lại đến như Thoát Hoan, Thái tử Mông Cổ ngày trước, phải lẩn trốn vào trong một thứ đồ đồng, mới thoát khỏi lưỡi gươm của đức Trần Hưng Đạo!
Nghị sợ cuống, vội sai Thang Hùng Nghiệp đem quân đi cứu.
Hồi canh năm sáng mồng 5, về phía tây bắc, ngoài thành Thăng Long, đùng đùng súng nổ không dứt tiếng… Nghị liền sai lính kỵ mã đi do thám. Còn mình thì trèo lên kỳ đài, nghe ngóng binh tình. Té ra đồn Điền Châu ở Khương Thượng đã bị phá! Quân Nam ồ ạt kéo vào cửa ô, dưới một góc trời, sát khí ngùn ngụt bốc!
Trong khi viên tướng đớn mạt vô tài ấy còn đang xao xuyến rối ren, thì nay thành Thăng Long thình lình lại nổi khói lửa: chực đốt cả tính mạng Sĩ Nghị cho cháy theo soái phủ và các kho khí giới, quân lương.
Sự chẳng ngờ ấy khiến Nghị càng thêm vô cùng sợ hãi!
Không kịp đóng yên ngựa, Nghị vội đem theo vài tên kỵ binh, vượt qua cầu phao sông Nhĩ, chạy trước về mạn Bắc!
Chạy! Chạy!… Tướng sĩ các doanh bên Thanh xô đẩy nhau chạy!
Nhưng không chịu nổi trọng lượng, cầu sông Nhĩ gẩy! Némxuống lòng sông hàng vạn con người làm nghẽn tắc cả dòng nước.
Sĩ Nghị chạy đến địa phận huyện Phượng Nhỡn, nghe nói Đắc Lộc hầu bên Tây Sơn đổ lại từ mặt đông sắp đón đường chẹn đánh, lại càng khiếp sợ, quăng hết những đồ mang theo ra dọc đường để chạy thoát thân. Vì vậy, hết thảy sắc thư, cờ hiệu, bài lệnh và ấn tín của tướng Thanh đều bị Tây Sơn bắt được ráo.
Thấy Nghị thua chạy, đạo binh Vân, Quý (Vân Nam, Quý Châu) vừa đến Sơn Tầy phải vội tìm đường tháo về.
……..
SỢ Tây Sơn, “CON TRỜI” NHÁO NHÁC CHẠY LOẠN!
Đã mục kích chiếc thân “hèn nhát” của chú Sĩ Nghị bại trận, lại phong văn Tây Sơn sắp kéo sang giết cho tiệt giống khách, sau khi hung hăng đuổi đánh đến Lạng Sơn, người Thanh càng thêm kinh hoàng bối rối… Từ cửa ải Nam quan về Bắc, người Tàu dắt già, cõng trẻ, lũ lượt nheo nhóc chạy đi lánh nạn. Vì vậy, trong khoảng vài trăm dặm, hơi khói vắng tanh, vẽ thành bức tranh đìu hiu quạnh quẽ trên nội địa Tàu!
Một phen quát gió, thét mây, oai vũ vua Quang Trung làm bạt vía người Tàu đến thế!
Hát bài khải ca, nhà vua vào thành Thăng Long, vui thưởng cái xuân oanh liệt. Quang Trung có thể tự hào mà nói: Núi
……..
Nùng ơi! Sông Nhĩ ơi! Hoa xuân, cỏ xuân trong chốn cố đô này ơi! Chính ta là “đấng cứu chuộc” của các ngươi đấy!
Nhưng kìa, chiếc chiếnbào màu đỏ của trang anh hùng cứu quốc giờ sao đã đổi ra sắc đen cháy vậy?
Vì vua Quang Trung xông pha súng đạn trong mấy ngày xuân, nhuộm đẫm chiến bào trong hơi thuốc súng, nên “chiếc áo cứu quốc” kia mới biến thành cái màu “rực rỡ vẻ vang” đó!
Hai mươi vạn giặc Thanh cúp đuôi hổ đói… đã chạy bạt rồi! Nghìn xưa non sông gấm vóc đã phục lại rồi.
Quân Tây Sơn vui vẻ ăn tết Khai Hạ tại thành Thăng Long (ngày mồng 7 tháng giêng) cái tết vẻ vang nhất trong lịch sử dân tộc Đại Việt.
Nhân dân bấy lâu căm giận quân Thanh ỷ thế, cậy quyền, từng giở nhiều ngón dã man tàn ác: cướp chợ, hiếp gái, coi tính mệnh người Nam không bằng cái kiến, con sâu… Nhân dịp phen này Sĩ Nghị bại trận, quân gia như đàn chuột chạy dài, dân Nam ai nấy vùng lên, ứng dụng ngay câu cụ Khổng đã dạy: “Dĩ trực báo oán.” Vì vậy, những quân Mãn Thanh, sau khi thua vỡ, chạy vào các thôn trang ngoài thành, lại bị dân gian giết gần hết!
Nhưng, cái lối chiến tranh văn minh, chính vua Quang Trung biết thực hành ngay từ bước chân vào thành: Một mặt yết bảng chiêu an, cấm quân lính không được xâm phạm của dân cái tơ cái tóc. Một mặt ngăn cấm nhân dân trongxứ: hễ thấy bại binh Thanh chạy trốn không được giết cằn.
Nhà vua lại hạ lệnh cho phép quân Thanh ra thú và nhân gian không được chứa chấp một người Thanh nào. Dưới bóng ân điển ấy, số quân Thanh được toàn hoạt đưa đến Thăng Long: hơn 800 người ! Họ đều được ban phát lương ăn và áo mặc.
***
Như trước đã nói, Đắc Lộc hầu Tây Sơn, dẫn binh từ Đông Đạo (miền Hải Dương) đổ lên, đón chẹn ở gần Phượng Nhỡn: Tôn Sĩ Nghị hoảng sợ, vội quăng bỏ hết thảy quân ấn, kỳ bài, sắc thư… Vì vậy, vua Quang Trung khám phá được vô số giấy tờ quan trọng, bí mật của tướng Thanh, khi Đắc Lộc hầu đem về Thăng Long trình nộp.
Trong sắc thư, đại ý vua Thanh Cao Tông (1736-1795) bảo Tôn Sĩ Nghị:
Nghe lời khanh, trẫm cho đem binh mã ra cửa ải nhưng cứ nên từ từ đi dần, đừng vội. Khanh trước hãy truyền hịch ra oai, rồi thả Lê thần về nước để họ chiêu lập nghĩa binh, tìm Lê Tự tôn (chỉ Chiêu Thống) đương đầu với Nguyễn Huệ đã.
Nghe họ chọi nhau ra sao, bấy giờ sẽ liệu.
Nếu lòng người Nam còn mến Lê, thấy quân ta (Thanh) đến giúp ai cũng phấn khởi hăng hái thì Nguyễn Huệ tất phải chịu lui. Bấy giờ sẽ sai Lê Tự tôn tiến binh đuổi bắt Nguyễn Huệ. Còn khanh thì kéo binh đến tiếp ứng sau. Thế là ta không khó nhọc mà được thành công. Đó là chước thứ nhất.
Nếu trong nước Namnửa theo phe kia, nửa theo phe nọ, thì Nguyễn Huệ chắc không chịului. Vậy khanh nên đưa thư, dỗ bảo họa phúc xem Huệ xoay trở ra sao.
Khi nào quân thủy của ta đã từ Mân260 Quảng kéo ra biển khơi thì cứ đánh phá lấy Thuận Ngãi trước. Rồi mới thúc quân bộ tiến lên khiến cho Nguyễn Huệ sau lưng và trước bụng đều thụ địch cả thì thế nào Huệ cũng phải hàng phục.
Thế rồi ta cứ nuôi sống cả hai: Thuận Quảng về Nam, cắt đứt cho Nguyễn Huệ: Hoàn, Ái ra Bắc, chia cho Lê Tự tôn. Ta cứ đóng đại binh ở giữa, coi quản cả đôi. Về sau sẽ lại liệu cách xử trí. Đó là chước thứ 2…
Đọc rõ cái dã tâm của nhà Thanh như thế, vua Quang Trung đưa bức thư ấy cho Ngô Thì Nhậm và nói: “Ta xem chiếu thư của nhà Thanh, biết họ chỉ nghề đòn xóc hai đầu, nghe đàng nào mạnh thì bênh đàng ấy, chứ có thật lòng giúp Lê chi đâu! Chẳng qua họ mượn việc đó để lót miệng, kỳ thật chỉ chực tìm cách vơ lợi vào mình đó thôi. Nay họ đã bị ta đánh thua, nhịn thì nhục, nhưng muốn báo thù lại thì khó. Muốn cho dân nghỉ nước yên, ta tất phải tạm gác can qua, dùng đến ngọc bạch. Vậy, đối với những tên tàn binh của Thanh mà ta đã bắt được, ta nên cấp dưỡng tử tế, rồi sau sẽ tha cho chúng về Tàu. Khanh là tay khéo bề từ lệnh, phải nên lập tức đưa thư sang Thanh dàn xếp cho êm việc đi!”