Chương 88: Phật – Đạo tất có chi tranh
Lão khất khẽ ngưng lại, tìm lời giải thích, lát sau mới phun ra mấy câu khó hiểu: “Bất khả kiến, bất khả thị, bất khả minh.”
Vũ Hùng gãi đầu, nghĩ rằng lão khất đã thua sư phụ, không trả lời được câu hỏi. Bản thân cậu cũng thử nghĩ câu trả lời, nhưng thật sự không thể tìm ra “nhân” của Nhân Quả.
Nhưng trái ngược với suy nghĩ của cậu, sư phụ sẽ phá lên cười đắc ý. Chư Vấn lại gật đầu đồng ý: “Quả thực là vậy.”
Hai người này… Vũ Hùng gãi đầu muốn rụng hết tóc.
Chư Vấn nhìn học trò, cười nói: “Nhân của Nhân Quả là gì, là câu hỏi bất hợp lý.”
“Nhân Quả cũng giống như Âm Dương là khái niệm triết học, là tiên đề, không thể định lượng, định nghĩa, định tính… Những ai hỏi thách về tiên đề đều là tên ngốc không hiểu logic.”
“Bằng một cách độc lập, các nền văn minh đều biết và nói đến Nhân Quả. Phật Tổ cũng chỉ là người đến sau, nhưng lại tổng hợp thành hệ thống hợp lý, trở thành người khai sáng.”
“Nhân Quả không phải chân lý!”
Lão khất hừ lạnh: “Tại sao Nhân Quả không phải chân lý?”
Chư Vấn cười nhạt: “Nếu Nhân Quả là chân lý, vậy chứng minh Âm Dương bằng thuyết Nhân Quả đi? Chứng minh chuyện ngũ hành tương sinh, tương khắc bằng thuyết Nhân Quả đi?”
“Không được đúng không? Vì Âm Dương cũng là tiên đề. Lật lại định nghĩa tiên đề: không thể định nghĩa, định lượng, định tính và không thể chứng minh.”
“Không thể dùng tiên đề để chứng minh tiên đề khác, nếu được, vậy đó không còn là tiên đề.”
“Đạo giáo và Phật giáo mâu thuẫn từ tiên đề nên việc xung đột là không thể tránh khỏi.”
“Tiểu tử!” Chư Vấn nhìn Vũ Hùng. “Nếu theo thì theo một thôi, Phật cũng được, Đạo cũng được. Dạng háng đu dây sẽ chỉ đau dái. Hé hé hé…” Lão lại lộ ra cái vẻ đê tiện bỉ ổi.
Lão khất chắp tay trước ngực, lắc đầu phản bác: “Sẽ không. Phật và Đạo có thể dung hòa khiến cho thế gian càng tươi đẹp hơn.”
“Hắc hắc, ta chờ.” Chư Vấn không tranh cãi sâu về vấn đề này, nó thuộc về niềm tin mỗi người.
Hai lão hóa thạch nói chuyện, Vũ Hùng lùng bùng hết cả tai, nhức hết cả đầu. Hổ yêu thì hai mắt tròn xoe chớp chớp, kẻ ngốc có cái tốt của kẻ ngốc.
Không còn hứng thú dạy đạo, lão khất nói: “Nói nhiều ngươi cũng không hiểu, trước tiên ta dạy ngươi ngồi thiền tĩnh tâm.”
Lão khất làm mẫu, bắt chân ngồi thiền, hơi thở đều đều. Con hổ bắt chước làm theo, Vũ Hùng cũng tò mò bắt chước.
Nhưng chỉ được mười mấy hơi thở, mặt hổ nhăn nhó, khóe môi giật giật lộ ra răng nanh trắng ngà.
“Gừ gừ…” Tiếng gầm gừ trong miệng, cho đến khi không nhịn được nữa thì nó gầm lên, bộc lộ bản chất hung thú, dáng đứng thủ thế săn mồi, chân trước hạ thấp, chân sau nâng cao, miệng nhe răng gầm gừ, mắt trừng trừng hung ác.
Vũ Hùng rút dao sẵn sàng tử chiến. Không khí căng thẳng. Lão khất từ từ mở mắt, niệm kinh Phật, hóa giải sát khí, hổ yêu từ từ dịu xuống, Vũ Hùng vẫn nắm chặt con dao.
Hổ yêu xấu hổ nói: “Tôi không học được. Vừa nhắm mắt một chút, lại xuất hiện rất nhiều hình ảnh.”
Hổ yêu từ ngữ hạn chế không diễn tả hết suy nghĩ nhưng lão khất hiểu rõ, bởi vì là người đi trước, biết rõ người đi sau sẽ gặp những gì.
“Ta dạy ngươi là Sơ Thiền. Trong lòng ngươi nổi lên năm màn ngăn che làm cho ngươi không thấy được sự vô minh trong tâm mình là tham lam, sân, si, ngã mạn, nghi ngờ. Năm chướng ngại bao gồm tham dục, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, và hoài nghi.”
“Lòng nổi lên những ngã này là tốt. Dùng chân tâm của ngươi đối diện, vượt qua được coi như thành Sơ Thiền.”
Hổ yêu: “Vậy tôi phải làm gì để vượt qua?”
“Ta nói: Buông bỏ đồ đao không thể thành Phật. Khi ngươi buông bỏ đồ đao thì nghiệp của ngươi sẽ đến. Phải giải quyết hết nghiệp thì mới thật sự được buông bỏ. Phần lớn người sẽ không qua được bước này.”
“Muốn vượt qua thì ngươi phải giải nghiệp ngươi đã gieo. Hiểu chưa?”
Hổ yêu ngẫm nghĩ, gật đầu. Nó hiểu được một chút.
Ngoài trời mưa vẫn rả rích, gió vẫn buốt lạnh, hai lão già không thèm nói chuyện, nằm quay mặt vào tường ngủ. Vũ Hùng ôm dao ánh mắt đằng đằng sát khí nhìn hổ yêu, cậu không thể nào buông bỏ được. Cả gia đình cậu đã bị yêu quái lột da, nỗi đau đó sao nói bỏ là bỏ được.
Hổ yêu nằm sấp co bốn chân trong người, hơi thở đều đều, đang tập thiền ngay cả lúc nghỉ ngơi.
Mấy ngày sau, bọn họ đã đi sâu vào trong rừng núi, đường gập ghềnh nhưng bất chợt phát hiện ánh lửa sáng lập lòe. Đoàn dẫn thi đã mệt mỏi vì phải ăn bờ ở bụi, liền muốn vào làng mua ít thức ăn, rượu, trà.
Bọn họ đi theo ánh lửa, giữa rừng núi vậy mà lại là khu bình địa, ba mặt vách núi dựng đứng, ở giữa một mảnh đất phẳng, có thác nước đổ xuống tạo thành sông nhỏ.
Hai thầy trò theo con đường đất nhỏ hẹp tiến vào làng, hai bên là những ngôi nhà gỗ cũ kỹ, mái ngói rêu phong, cửa sổ đóng kín mít. Tiếng đồng dao của lũ trẻ vẫn văng vẳng, nhưng càng nghe, càng thấy như có gì đó sai sai.
“Rồng rắn lên mây.
Có cây núc nác.
Có nhà điểm binh.
Hỏi thăm thầy thuốc.
Có nhà hay không?”
Tiếng hát đột nhiên dừng lại, lũ trẻ áo trắng đồng loạt quay đầu, nhìn thẳng vào hai thầy trò. Đôi mắt chúng không có tròng, chỉ là hai hốc đen sâu hoắm. Một đứa trẻ với gương mặt nhợt nhạt, mỉm cười, nói: “Thầy thuốc… ở lại chơi với bọn ta nhé?”
Chư Vấn cười cười không coi ra gì, trong khi Vũ Hùng sắc mặt nghiêm trọng, cảnh giác. Lão khất nằm dài trên lưng hổ ngủ.
“Thầy… thầy có thấy gì lạ không?” Vũ Hùng thì thào. “Sao con thấy… làng này sao sao…”
Chư Vấn: “Mấy cái tiểu quỷ nghịch ngợm mà thôi.”
Vũ Hùng trong lòng vẫn thấy bất an. Đột nhiên…
“Choang!” sau đó là “Tùng tùng tùng…” tiếng chiêng, trống dồn dập. Mấy đứa trẻ đang chơi hoảng hốt chạy như bị chó rượt, biến mất vào hẻm nhỏ.
Mấy chục người mặc áo tang trắng khóc lóc đi qua, tiền giấy bay tứ tung, khiêng hai cỗ quan tài, một lớn một bé, cảnh tượng thê lương.
“Hư ư ư… Ông nó ơi, sao ông lại bỏ tôi ở lại một mình???” Tiếng khóc có lẽ là của người mẹ.
“Ư ư… ba…” Một đứa nhỏ khóc theo nhưng ngay lập tức đã bị người lớn bên cạnh bịt miệng, nghiêm dặn: “Con không được gọi ba. Gọi ba là ba không đi được nghe chưa. Phải để ba đi.”
Vũ Hùng thấy là lạ, gãy đầu nhìn sư phụ và lão khất, thấy hai người đều thản nhiên như không. Nếu họ không phản ứng thì chắc là không có chuyện gì. Cậu thấy yên tâm tám chín phần.
Bọn họ né sang một bên nhường đường cho đoàn đưa tang, tiếp tục đi tới, tìm thấy quán trọ treo lồng đèn trắng, dấu hiệu của khách điếm tử thi.
Đón tiếp họ là bà lão già xấu xí, mặt nhăn như vỏ cây, cái mũi dài hoắm, mắt to lồi. Khi giao chìa khóa phòng ở tầng hai, bà lão dặn:
“Phải nhớ rõ các quy tắc: Tuyệt đối không được lên tầng ba.
Không được ra ngoài vào ban ngày, nếu phải đi thì đi theo bóng trắng, không đi theo bóng đen, nếu nghe tiếng gọi thì tuyệt đối không quay đầu.
Quán bánh bao hấp trên phố không được ăn, chỉ được mua mì.
Không được ở quá ba đêm.
Nếu có tiếng gõ cửa, tiếng nam thì mở, tiếng nữ thì đừng mở.
Ở đây người chết đi đường là rất bình thường.”
“Được được… nhớ rồi.” Chư Vấn mất kiên nhẫn, chụp lấy chìa khóa trên bàn lên cầu thang. Bà chủ nhà trọ nhìn theo bọn họ, ánh mắt quỷ dị.
Bọn họ nhanh chóng lên phòng nghỉ, hai thầy trò ngủ trên hai giường, bảy xác chết đứng dựa vào tường. Hổ yêu và lão khất nằm giữa phòng. Cả đoàn đều mệt mỏi nên nhanh chóng chìm vào giấc ngủ. Đột nhiên, một tiếng gõ cửa vang lên, nhẹ nhàng nhưng rõ ràng.
Cốc… cốc… cốc… Vũ Hùng giật mình ngồi bật dậy, tim đập thình thịch. Chư Vấn cũng mở mắt, ra hiệu cho đồ đệ im lặng. Tiếng gõ cửa tiếp tục, kèm theo một giọng nữ mềm mại như rót mật vào tai: “Khách quan… mở cửa… Tôi mang nước sôi lên cho các vị.”
Vũ Hùng bất giác đưa tay định mở cửa, nhưng rất nhanh tự nắm lấy cổ tay, lắc đầu, nhớ lại lời bà lão, thì thầm: “Là giọng nữ. Không thể mở.”
Tiếng gõ cửa càng lúc càng dồn dập, giọng nữ trở nên sắc lạnh: “Mở cửa! Mở cửa ngay!” Rồi bất ngờ, tiếng gõ ngừng bặt, thay vào đó là tiếng móng sắc cào cấu trên gỗ. Vũ Hùng ôm đầu, cố bịt tai, nhưng tiếng cào vẫn xuyên qua, như khoan vào óc.
Một lúc lâu không có ai hồi đáp, tiếng cào lập tức ngừng, một tiếng cười khanh khách vang lên từ phía hành lang, xa dần, xa dần, rồi mất hút.
Vũ Hùng run rẩy: “Thầy… thứ đó là gì vậy?”
Chư Vấn ánh mắt hững hờ: “Chó mèo động dục nên cào bậy đó mà.”
Vũ Hùng trên mặt hiện ra dấu chấm hỏi to đùng. Không phải vậy chứ!
“Được rồi, ngủ đi, ngủ đi…” Lão đã nhanh chóng quay lại giường quấn chăn ngủ. Vũ Hùng cũng đành trở lại giường mình.
Đầu giờ chiều, hai thầy trò tỉnh dậy, định mua chút lương thực, nước uống chuẩn bị tiếp tục lên đường. Khi bước xuống cầu thang, họ phát hiện bà lão chủ trọ đang đứng ở góc phòng, tay cầm một chiếc lồng đèn trắng, ánh mắt quỷ dị nhìn chằm chằm. “Đi đâu mà vội? Ở lại thêm một đêm nữa đi. Làng này… chưa muốn thả các người đâu.”
Chư Vấn cười đáp: “Hắc hắc… thật không?”
“Thật~~~” Tiếng khàn đặc kéo dài.
“Nhưng miếu nhỏ không chứa được Phật to. Chỗ này của các ngươi… không chịu được.” Lão cười ha ha nói, sau đó kéo đệ tử đi. Bà lão nhìn theo, híp mắt.
Họ trước tiên tìm quán ăn lấp đầy cái bụng đã, ngôi làng không lớn, đi một thoáng đã tìm được một quán mì nhỏ, tấm bảng gỗ treo lủng lẳng với dòng chữ nguệch ngoạc. Một ông lão gầy gò, da dẻ xanh xao, đang ngồi bên bếp lò, đôi tay khẳng khiu khuấy nồi nước dùng bốc khói nghi ngút. Mùi thơm kỳ lạ khiến Vũ Hùng nuốt nước bọt, nhưng Chư Vấn nhắc nhở chỉ tay vào nồi nước.
“Tên nhóc. Nhìn kỹ đi!”
Cậu trố mắt muốn lòi con ngươi nhưng chẳng nhìn thấy được gì. Chư Vấn cười hắc hắc không chỉ gì thêm, ngồi xuống. Vũ Hùng cũng ngồi xuống.
Ông lão chủ quán ngẩng đầu lên, đôi mắt đục ngầu nhìn mấy vị thực khách. “Ăn mì sao? Nước dùng ngọt lắm, nấu từ xương tươi đấy.” Giọng ông ta khàn khàn, như tiếng lá khô xào xạc.
“Được, cho một tô mì nhiều thịt.” Chư Vấn nói.
Vũ Hùng định gọi theo, cậu cũng muốn ăn thịt, mấy ngày nay toàn ăn lương khô, chán chết đi được. Nhưng bất ngờ lão khất ngăn lại, ngón tay điểm nhẹ giữa mi tâm. Trong mắt cậu liền thấy nồi nước đỏ au, sền sệt, bọt nổi lên nổ tung như dung nham.
“Cho bọn ta ba tô ăn mì chay.” Lão khất nói.
Chủ quán thất vọng nói: “Thịt tươi ngon lắm đấy!”
“Không cần, mì chay là được.” Lão khất nói, Vũ Hùng gật đầu lia lịa.