Chương 99: Minh triều cấm hải lệnh
Trần Nhật Thanh lại lật ra chiếc hộp thứ hai chỉ thấy bên trong là một chuỗi hạt ngọc trai, từng viên ngọc màu trắng ngà to bằng ngón tay cái được xâu lại thành vòng cổ, từng tia nắng chiếu lên chuỗi ngọc được phải chiếu lại tạo nên ánh sáng lấp lánh. Ali tươi cười giải thích:
-Kẻ hèn này biết được hoàng hậu của bệ hạ dung mạo tuyệt luân, nghĩ tới nghĩ lui chỉ có ngọc quý mới xứng với mỹ nhân, lần này đặc biệt ghé qua Quảng Châu nước Minh đặt mua chuỗi hạt này làm quà tặng gửi đến hoàng hậu nương nương.
Trần Nhật Thanh thần sắc hài lòng, vùng duyên hải Quảng Đông ngoài có thương mại tấp nập cũng đồng thời cũng là vùng sản xuất ngọc trai vô cùng nổi danh mà trung tâm là Liêm Châu phủ mà có tên cổ là Hợp Phố trong thành ngữ cổ “châu hoàn Hợp Phố”. Tuy nhiên ở thời đại này còn chưa có kỹ thuật cấy ghép nhân ngọc trai hiện đại, khai thác ngọc trai chỉ có một nguồn duy nhất là dựa vào thợ lặn mò ngọc tự nhiên xác suất mò được ngọc không chỉ thấp còn có độ nguy hiểm cực kỳ cao vì dưới điều kiện không có bình oxi hiện đại thợ lặn yêu cầu phải nín thở rất lâu dưới nước thì mới có thể mò được ngọc trai, trong quá trình mò ngọc có rất nhiều thợ lặn vì các sự cố khác nhau mà chết đuối táng thân dưới đáy biến sâu, chính vì sản lượng hiếm hoi cùng nguy hiểm khi khai thác, ngọc trai ở thời đại này có giá trị vô cùng đắt đỏ nhất là những viên ngọc trai có kích thước lớn càng là ngàn vàng khó cầu
Trần Nhật Thanh nhẹ nhàng đóng lại nắp hộp, tươi cười vui vẻ nói:
-Chuỗi vòng cổ này thật sự rất đẹp Trẫm nghĩ hoàng hậu nàng nhất định sẽ thích.
-Đó là vinh hạnh của kẻ hèn này. Ali khiêm tốn đáp lời.
Trần Nhật Thanh trên mặt treo nụ cười xã giao bắt đầu hỏi sang chuyện khác:
-Đúng rồi, tiên sinh ngài nói gần đây vừa đi qua Quảng Châu nước Minh ắt hẳn cũng mắt thấy tai nghe được nhiều chuyện ở đó, có thể kể cho Trẫm nghe một chút không ?
Một ăm nay từ khi đăng cơ Trần Nhật Thanh vẫn luôn vội vã tiến hành cải chế, đối với tình báo nước ngoài nhất là đối với Minh triều ngược lại là vẫn chưa phát triển kịp thời, hắn tự nhiên sẽ không bỏ qua nguồn tình báo từ người gần đây ghé qua Minh triều như Ali.
Ali nghe Trần Nhật Thanh đề cập đến chuyện này không khỏi nở nụ cười khổ nói:
-Tâu bệ hạ, ở Quảng Châu quan phủ nước Minh đang bắt đầu xua đuổi các thương nhân hải ngoại như kẻ hèn này, nghe nói vì để chống lại hải tặc hoàng đế nước Minh vào cuối năm trước vừa ra một sắc lệnh theo đó từ nay nghiêm cấm người dân nước Minh không được phép đóng tàu ra biển cũng không cho phép thương nhân ngoại quốc đến buôn bán nữa. Nghe quan phủ nước Minh nói từ này chỉ có ai là sứ đoàn có quốc thư của vương công các nước đến triều cống mới có thể tiến hành mậu dịch, còn lại đều cấm tiệt hết, cái này không phải những thương nhân nhỏ lẻ như kẻ hèn này vào thế khó sao ?
Ali trong mắt không khỏi lộ ra thần sắc hoài niệm, bọn họ các hải thương xưa này vốn dựa vào mậu dịch Đông Tây mà kiếm lấy lợi nhuận phong phú một sắc lệnh này vừa ban ra không khác gì đem tài lộ của bọn họ chặt đứt, nghĩ đến với nước Nguyên xưa kia cởi mở với thương nhân hải ngoại bọn họ bao nhiêu thì nước Minh hiện tại quả thật là khắc nghiệt bấy nhiêu. Ali lúc này lại nhẹ nhàng thở ra, trong lòng thầm may mắn hắn từ sớm đã quen biết Trần Nhật Thanh, mặc dù Đại Việt quy mô so với Đại Minh thì nhỏ hơn, chất lượng một số hàng hóa thủ công còn chưa sánh bằng Đại Minh nhưng các chủng loại hàng phương Đông tương tự thì đều có đủ cả, có thể sử dụng làm nguồn thay thế cung cho thị trường Trung Đông, không đến mức đoạn hàng. Hiện tại hắn nhờ có mối quan hệ với Đại Việt mà đã trở thành một trong số ít thương nhân còn có thể duy trì tuyến mậu dịch Đông Tây, không đến nỗi bị buộc phải từ bỏ như các thương nhân khác, đây cũng xem như vạn hạnh trong bất hạnh.
Trần Nhật Thanh hơi giật mình, hóa ra sắc lệnh cấm biển đại danh đỉnh đỉnh lại được ban hành vào thời điểm này. Đọc qua lịch sử hắn đương nhiên biết lệnh cấm biển này chính là tổ sư gia của bế quan tỏa cảng xú danh rõ ràng ở hiện đại, sau này trong thời kỳ cận đại các triều đại Đông Á sử dụng chính sách bế quan tỏa cảng cũng là do lệnh cấm biển của Chu Nguyên Chương mà khởi đầu.
Trần Nhật Thanh đời trước đọc qua lịch sử biết đươc cấm biến hay bế quan tỏa cảng tuy ở đời sau bị lên án mạnh mẽ nhưng kỳ thật nó không phải nảy sinh từ hư không mà là xuất phát từ các toan tính có chủ đích của bản thân Chu Nguyên Chương. Nguyên nhân xuất hiện lệnh hải cấm kì thực có liên quan đến một vấn đề nhức nhối đang nổi lên ở thời đại này đó là nạn hải tặc Oa khấu đang hoành hành cướp bóc khắp các vùng duyên hải Minh triều cùng Cao Ly, cái tên Oa khấu đã thể hiện ra nguồn gốc của họ- Nhật Bản.
Sự hình thành của lực lượng Oa khấu liên quan trực tiếp đến tình hình chính trị rối loạn đang diễn ra trên quần đảo Nhật Bản hiện giờ. Thời đại Trần Nhật Thanh đang sống là một thời kỳ không yên ổn, khi khu vực Đông Á lục địa chìm trong giao chiến dữ dội giữa 2 triều Nguyên Minh thì ở ngoài khơi Nhật Bản cũng đang đánh nội chiến dữ đội. Thiên hoàng Nhật Bản sau nhiều năm làm con rối đã chớp lấy thời cơ lật đổ Mạc phủ Kamakura giành lại thực quyền cai trị, tiến hành cải cách tân chính muốn xây dựng chế độ chuyên chế tập quyền, tuy nhiên mọi chuyện không hề thuận lợi, tân chính với chính sách xóa bỏ tư hữu ruộng đất, tịch thu toàn bộ ruộng đất quy về quốc hữu nhanh chóng gây ra bất mãn rộng rãi trong các tầng lớp võ sĩ tiểu địa chủ, nhân cơ hội đó Ashikaga Takauji một võ tướng đã đây binh nổi loạn chống lại chính Thiên hoàng mình từng thần phục, từ trong hoàng tộc Nhật Bản ửng lập một Thiên hoàng làm bù nhìn, tấn công vào thủ đô Kyoto khiến Thiên hoàng cũ cùng triều đình Nhật Bản phải chạy trốn xuống phía Nam đến Yoshio đóng đô, từ đó Nhật Bản bị chia làm đôi giữa 2 triều đình, một là triều đình Kyoto phía Bắc của các thiên hoàng bù nhìn dưới sự kiểm soát của gia tộc Ashikaga và triều đình Yoshio phía Nam của dòng dõi Thiên hoàng chính thống .Hai bên không ngừng giao chiến tấn công lẫn nhau cho đến hiện tại đã kéo dài hơn 30 năm chiến cục vẫn còn chưa ngã ngũ tuy nhiên hệ quả của cuộc nội chiến đã khiến các quốc gia xung quanh chịu ảnh hưởng. Chiến tranh liên miên làm kinh tế nông nghiệp bị tàn phá một số lớn dân chúng cùng võ sĩ samurai cấp thấp lâm vào nghèo khó, nhất là đối với các hòn đảo như đảo Tsushima vốn dĩ đã bị tàn phá nặng nề trong cuộc xâm lược của nhà Nguyên trước đó càng là họa vô đơn chí, trực tiếp bị dồn vào tuyệt cảnh, bí quá hóa liều dân chúng cùng các Samurai bần cùng bắt đầu theo dõi lên vùng ven biển của Cao Ly cùng Trung Hoa dong thuyền phát động các cuộc cướp bóc. Lúc này Trung Nguyên rơi vào biến loạn triều Nguyên mải đối phó các lộ quân nổi dậy, các lộ quân nổi dậy cũng mải mê tranh bá thành ra vấn đề người Nhật cướp bóc không ai hỏi tới, dân chúng chỉ có thể oằn mình chịu trận. Đến gần đây Chu Nguyên Chương thành công tiêu diệt đại đa số các sứ quân, đuổi triều Nguyên về Mặc Bắc, trách nhiệm giải quyết nạn cướp phá của người Nhật tự nhiên rơi vào trên đầu lão ăn mày song với đường bờ biển quá dài cùng sự cơ động đột kích bất ngờ của các thuyền hải tặc người Nhật, lão ăn mày vô cùng bối rối vắt óc suy nghĩ cuối cùng ra được một thổ biện pháp. Các ngươi bọn Oa khấu này không phải dựa vào cướp phá dân di biển mà sống sao, ta trực tiếp chơi tiêu thổ kháng chiến rút củi đáy nồi, cấm tiệt dân ra biển, xem các ngươi còn cướp được của ai, không còn người để cướp các ngươi tự khắc sẽ chết đói. Không chỉ vậy việc cấm dân ra biển hạn chế thương mại tư nhân chỉ cho phép sứ đoàn triều cống buôn bán tương đương với việc lão ăn mày có thể sử dụng mối lợi giao thương để làm con bài chính trị ép những quốc gia xung quanh nếu muốn buôn bán với Minh triều thì phải thể hiện quy phục trên bề mặt chính trị, thừa nhận là chư hầu của Minh triều. Lệnh cấm biển còn góp phần bảo vệ kinh tế tiểu nông hộ gia đình tự cung tự cấp, giam hãm người dân vào ruộng đất và hộ tịch, người nông dân với vài mẫu ruộng một con trâu, chồng cày vợ dệt tự sản xuất, yên ổn sống qua ngày không cần phải đi đâu xa cũng không cần biết thế giới bên ngoài là như nào, gián điệp nước ngoài vì thế mà rất khó xâm nhập do thám và kích động nội loạn, đây chính là xã hội lý tưởng của đế quốc pháp gia tập quyền kiểu Tần, cũng là xã hội mà Chu Nguyên Chương muốn hướng đến có thể nói lệnh cấm biển thật sự là một mũi tên trúng ba con chim. Trần Nhật Thanh cả gan suy đoán có lẽ lão ăn mày đối với lệnh cấm biển bản thân lập lên thật sự là vô cùng tâm đắc vì thế trong nguyên bản lịch sử lão ăn mày mới đem chính sách ày chép vào Hoàng Minh tổ huấn, làm lề lối cho con cháu đời sau theo đó mà thực hiện không được phép trái. Bất quá Trần Nhật Thanh có ký ức đời trước tự nhiên đối với chính sách cấm biển của lão ăn mày khịt mũi coi thường, lão ăn mày mặc dù thủ đoạn chính trị cao minh nhưng trí tuệ trên khía cạnh kinh tế thật sự là vô cùng tệ hại. Lệnh cấm biển trên chính trị có vẻ tinh diệu nhưng nó hoàn toàn không hề suy tính đến hệ quá kinh tế và công nghệ trên thực địa.
Điểm thiếu sót thứ nhất của lệnh cấm biển là vùng duyên hải Hoa Nam nhất là khu vực Phúc Kiến, Quảng Đông vốn dĩ nhiều đồi núi, đất canh tác vốn ít ỏi, nếu là thời Tần Hán dân số nơi này con ít đảo cũng không có vấn đề gì nhưng từ cuối thời Đường nhất là Nam Tống cùng Nguyên triều đại phát triển thương mại biển dân số ở những khu vực này đã tăng trưởng phi mã số lượng ruộng đất ít ỏi hoàn toàn không thể đáp ứng cho toàn bộ dân cư, số lớn dân số bị thừa ra đều trông chờ vào mối lợi từ biển như thương mại cùng đánh bắt cá, lệnh cấm biến tương đương với chặt đứt kế sinh nhai đẩy bộ phận người này vào khó khăn cùng cực, thêm vào đó nguồn lợi to lớn từ thương mại cực kỳ hấp dẫn người trong khi kênh mậu dịch triều cống chính thức ít ỏi lại bị triều đình độc quyền hoàn toàn không thể đáp ứng như cầu giao thương khổng lồ, dưới lợi nhuận thúc giục, từ dân chúng, nhà giàu, quan lại thế gia vùng duyên hải sẵn sàng bất chấp lệnh cấm kết đảng tiến hành buôn lậu kiếm lợi nhuận kếch xù, và khi buôn lậu bị quân triều đình truy quét hoặc bị hải tặc đánh cướp chuyện bọn họ lắc mình biến hóa thành hải tặc chính là chuyện trong nháy mắt. Hệ quả là lệnh cấm biển không chỉ không diệt được hải tặc ngược lại còn khiến tạo ra nhiều hải tặc hơn từ chính những người dân Trung Hoa vùng ven biển khiến sự thế diễn tiến đến Oa khấu giai đoạn hậu kỳ trên thực tế đã không bao nhiêu là người Nhật mà đại đa số chính là người Trung Hoa, con dân của Minh triều. Chính vì như vậy, trong lịch sử sau khi Minh triều bãi bỏ lệnh cấm biển nạn hải tặc lại đột nhiên giảm bớt xuống cực thấp gần như không đáng kể, sau khi triều Thanh tiếp quản Trung Nguyên học theo chính sách Hải cấm đầu Minh nạn hải tặc lại tiếp tục bùng phát dữ dội . Chính sách để chống hải tặc đến trên thực địa lại biến thành phản tác dụng, làm vấn đề hải tặc trở nên trầm trọng hơn.
Điểm thiếu sót thứ hai của lệnh cấm biến là cùng với việc theo lệnh cấm biển, không cho dân đóng thuyền ra biển trực tiếp giáng một đòn trí mạng vào ngành công nghiệp đóng dưới sự ngăn cấm truy quét của triều đình, việc mở xưởng lớn đóng tàu to để ra biển là tuyệt đối không thể tiến hành, chỉ có thể trong lén lút tạo những con thuyền nhỏ trong các xưởng bí mật, hệ quả trực tiếp là kỹ nghệ đóng tàu lớn có thể tiến hành hải chiến bị trì trệ thậm chí mai một đây chính là 1 nguyên nhân khiến từ chỗ có hạm đội khổng lồ tung hoành đại dương đến cận đại thủy quân Trung Hoa chỉ còn lại những còn tàu nhỏ phòng thủ gần bờ đã cố gắng hết sức, không thể chống cự lại thuyền kiên lợi pháo chiến hạm khổng lồ của phương Tây. Có thể nói từ triều Minh kiến lập trở đi, Trung Hoa bắt đầu bước vào quá trình tụt hậu, các quốc gia xung quanh bị ảnh hưởng bởi chính sách kiểu Minh cũng đi lên con đường tương tự.