Chương 94: Tăng thuế
Trong lúc hải đội Hoàng Sa đang hăng hái triển khai công tác khai thác phân chim phục vụ nông nghiệp Đại Việt thì cùng lúc đó tại Cần Chính điện trong kinh thành Thăng Long một dự luật mới cũng đã được Nội các thông qua, nội dung thì cũng đơn giản- tăng thuế .
Trần Nhật Thanh đối với hệ thống thuế của Đại Việt thời đại này vẫn luôn rất không hài lòng, hắn không rõ lão tổ tông nhà minh trước đây là suy xét thế nào mà thiết kế chế độ thuế ở hắn xem ra quá mức đơn giản đến thô thiển, toàn bộ hệ thống đều quy hết về thuế ruộng đất thuế bãi dâu cùng thuế đầm ao thật là không có sáng ý, phân bổ thuế rất không hợp lý, toàn bộ gánh nặng thuế đè lên vai nông dân nhất là nông dân cày cấy ruộng công làng xã, không thể đa dạng nguồn thuế, thế là trải qua suy xét kỹ càng, hắn quyết định tiến hành đặt thêm lệ thuế mới, dĩ nhiên đây là áp dụng cho năm tiếp theo, không mâu thuẫn với quyết định miễn thuế trước đó, cũng đồng thời cho thuế vụ viện tiến hành chuẩn bị .
Lệ thuế mới bao hàm nhiều mặt nhưng tóm gọn có thể chia thành 3 loại gồm thuế tiêu thụ đánh lên hàng hóa thương phẩm buôn bán trong nước, thuế quan đánh lên hàng hóa xuất nhập khẩu, và thuế khai mỏ. Về thuế tiêu thụ Trần Nhật Thanh trải qua suy xét quyết định tiến hành đánh thuế trên 9 loại hàng hóa vào danh mục thu thuế bao gồm trà, quần áo lụa mỹ phẩm trang sức, sơn sống thịt trâu bò, thịt mèo cao ngựa và đồ vàng mã nguyên nhân lựa chọn những mặt hành này là vì chúng đều hoặc là hàng hóa để phục vụ nhu cầu xa xỉ, có khả năng chấp nhận biên độ lợi nhuận tương đối cao hoặc là hàng hóa có tác động ảnh hưởng lớn đến xã hội.
Đầu tiên là thuế trà, thân là đồ uống cung cấp cho giới thượng lưu, Trần Nhật Thanh vì để thu thuế cho dễ quyết định tính theo cân nặng và phẩm chất của loại trà. Thứ hai thuế quần áo lụa sẽ được thu ở cửa hàng quần áo để thay thế cho thuế bãi dâu cũ, cũng quy định thuế khác nhau dựa trên trang trí và trình độ cắt may thủ công khác nhau của từng bộ quần áo, sở dĩ có loại thuế này là Trần Nhật Thanh xét đến thuế bãi dâu cũ đánh vào phân đoạn nguyên liệu thô vốn có tỉ suất lợi nhuận thấp, thường phải đối mặt với thiên tai mất mùa thất bát diện tích bãi dâu lại tương đối phân tán khiến công việc thu thuế tương đối nặng nề lại tốn nhân lực cho công việc đo đạc đất cùng kiểm soát, trong khi các xưởng dệt và bán quần áo thành phẩm cơ bản tập trung ở các đô thị có nhiều khách hàng giàu có như kinh thành, mục tiêu tương đối tập trung và khó di chuyển, công tác rà soát thu thuế cũng dễ dàng hơn nhiều.
Thứ ba cùng thứ tư là thuế mỹ phẩm cùng đồ trang sức, 2 loại thuế này cũng giống thuế quần áo lụa, mục tiêu chịu thuế là các cửa hàng cũng khá tập trung dễ dàng trung thu kiểm soát, đối tượng sử dụng của 2 loại hàng hóa chịu ảnh hưởng bởi thuế tự nhiên là người có nhu cầu và tài chính để làm đẹp là giới quyền quý mà mũi nhọn tiêu thụ chính trong đó là nữ nhân. Bản thân đọc qua lịch sử, Trần Nhật Thanh biết được đừng nhìn nữ nhân ở trong thời này địa vị xã hội thấp nhưng các nàng là một lực lượng tiêu dùng có tiềm lực tuyệt đối không thể khinh thường, đây cũng là do cấu trúc gia đình cùng đặc thù giới tính mà hình thành.
Trước hết đừng nhìn xã hội thời đại này là nam quyền mà cho rằng nam giới khống chế quyết định mọi sự tình, đây thực sự là nhận thức hết sức sai lầm, thực tế mô hình gia đình ở thời đại này là nam chủ ngoại nữ chủ nội, nam giới là lao động chính đóng vai trò làm việc kiếm thu nhập cùng giao thiệp với chính quyền và xã hội còn nữ giới đóng vai trò quản trị gia đình là người trực tiếp nắm túi tiền không chế chi tiêu hằng ngày của gia đình, nguyên nhân của sự phân công này cũng rất đơn giản, nam giới không phải ba đầu sáu tay không thể có đủ tinh lực để vừa cáng đáng chuyện xã hội vừa quản lý chi li đến từng việc trong nhà, thế nên ngoại trừ kiểm soát các quyết định quan trọng ra họ buộc phải giao phó công việc lại cho vợ mình quyết định, đây là do nhu cầu hiện thực bức ra, là đặc trưng phổ biến trong đại đa số các xã hội nam quyền chứ không phải là chứng minh địa vị của nữ giới như một số ý kiến hiện đại lầm tưởng.
Trần Nhật Thanh biết thân là người nắm chi tiêu hằng ngày trong gia đình, địa vị lại phụ thuộc vào ưu ái của nam nhân nữ nhân tự nhiên có động lực mạnh mẽ để tiến hành làm đẹp điều này khiến họ là khách hàng lớn và chi tiêu hào phóng cho các mỹ phẩm và trang sức nhất là với nữ nhân tầng lớp thượng lưu, việc họ sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn cho chi dùng đồ xa xỉ là chuyện rất thường thấy nên đối với mỹ phẩm cùng đồ trang sức hắn quyết định thu ngạch thuế ở mức khá cao, cái đẹp có giá đắt một chút quá phận sao hoàn toàn không quá phận không sợ các nàng không mua được, dù là vợ lẽ hay tình nhân không được quản tài chính như chính thất thì chẳng lẽ nam nhân của các nàng lại không vì các nàng bỏ tiền ra mua sao, ít nhất Trần Nhật Thanh lấy bản thân mình làm suy xét nếu Kim Huệ Chi muốn, hắn tuyệt đối là sẵn lòng chi tiền.
Thứ năm là thuế sơn sống, rất nhiều người hiện đại không biết nhiều nghe thấy sơn có thể cho hàng bình dân nhưng ở thời đại này nó là hàng cực kỳ xa xỉ, chỉ dánh cho giới thượng lưu đỉnh cấp mới có thể dùng. Sơn sống ở thời đại này không phải là sơn công nghiệp tổng hợp từ hóa học mà là sơn lấy từ nhựa của cây sơn, được dùng để quết lên các đồ thủ công mỹ nghệ dùng trong giới thượng lưu để bảo quản chống mối mọt và làm đẹp, giá của sơn sống cực kỳ đắt do cây sơn từ khi gieo trồng phải mất 5-7 năm mới bắt đầu cho nhựa, nhựa chảy ra rất chậm, khai thác rất công phu và tốn thời gian, không những thế do tính chất gây dị ứng cực mạnh của nhựa sơn nên không phải ai cũng có thể khai thác được điều này dẫn đến giá cả của sơn cực kỳ cao, không phải tự nhiên ở thời đại này sơn son thếp vàng lại là hình dung của sự sang trọng quý giá.
3 loại thuế tiếp theo là thịt trâu bò thịt mèo cùng cao ngựa mặc dù không phải thật sự là xa xỉ phẩm nhưng Trần Nhật Thanh cũng đưa vào vào danh mục định thuế suất cao, nguyên nhân tự nhiên là vì chiến lược mà suy tính, trâu bò thân là sức kéo phục vụ nông nghiệp, mèo bắt chuột hạn chế bệnh dịch, ngựa là tài nguyên chiến lược phục vụ quân sự việc giết thịt chúng tự nhiên phải tiến hành ngăn lại, Trần Nhật Thanh lấy kinh nghiệm bản thân suy ra cho dù tiến hành cấm tiệt thì có theo quy tắc có cầu ắt có cung của giới quyền quý tác dụng quả thật không lớn, trực tiếp sửa thành thu thuế cao để hạn chế.
Cuối cùng là đồ vàng mã, vốn dĩ ban đầu thứ này ra đời có mục đích khá nhân văn là để thay thế việc chôn vật thật tùy táng theo người chết nhưng theo thời gian chuyển dời, theo nguyên tắc “trần sao âm vậy” nó càng lúc càng phát triển thái quá trở nên cực ký tốn kém, khi người ta chế ra đủ thứ từ voi ngựa giấy, vàng bạc giấy, hình nhân người hầu và phụ nữ đẹp bằng giấy,… Trong lịch sử chính vì chuyện này mà đến thời Đường việc đốt vàng mã bị chỉ trích rất lớn mà ngọn cờ đi đầu là Phật giáo từng khiến tục này suýt nữa bị hoàn toàn bị loại bỏ chỉ nhờ vào trò lừa đảo của Vương Luân – một trùm buôn vàng mã mới lại phục hưng. Cụ thể hắn ta cùng bạn thân thông đồng để cho người bạn giả vờ chết, sau đó bản thân hắn mang vàng mã cùng hình nhân giấy đến đốt làm lễ. Kết quả tự nhiên vô cùng dễ đoán, một màn người chết sống lại được trình diễn, từ trong quan tái người chết đứng dậy dõng dạc tuyên bố là nhờ vàng mã mà Diêm vương cho mình được hồi sinh. Dân chúng vốn dĩ mê tín nay được nhìn tận mắt tin tưởng không nghi ngờ lại đổ xô đi mua vàng mã, nghề làm vàng mã lại hưng thịnh trở lại thậm chí còn lan truyền sang các khu vực xung quanh trong đó có Đại Việt.
Đã biết chân tướng của vàng mã Trần Nhật Thanh tự nhiên là quyết định tiến hành hạn chế, song hắn nghĩ đến trong thời gian ngắn muốn lập tức bài trừ thật sự có chút không ổn, trải qua suy xét vẫn là học theo nước việt hiện đại tiến hành liệt đồ vàng mã vào danh ngạch đóng thuế cao, chỉ trừ giấy tiền phổ thông thu thuế nhẹ, kết hợp tuyên truyền để bài trừ dần dần, rốt cuộc ngay đến đời sau người mê tín cũng còn rất nhiều, càng đừng nói đến hiện tại.
Nhóm thuế thứ hai trong dự luật thuế là thuế quan, mặc dù ở thời đại này thương mại quốc tế chưa bùng nổ, các nước láng giềng gần xung quanh đều đang trong trạng thái chiến tranh và suy thoái, nền sản xuất chưa được phục hồi, hàng hóa bản địa của Đại Việt ở thị tường trong nước vẫn cơ bản là có ưu thế nhưng Trần Nhật Thanh suy xét đến ở một số ngành đặc biệt là thủ công mỹ nghệ tinh xảo so với Trung Hoa kỹ nghệ chế tác vẫn là thua kém không nhỏ, nên đồng thời với thu thuế tiêu thụ với hàng hóa Đại Việt hắn cũng quyết định tiến hành lập trạm thu thuế quan vừa là để đánh thuế vừa góp phần hỗ trợ kiểm soát an ninh chiến lược của vùng biên giới.
Nhóm thuế cuối cùng trong dự luật thuế là thuế khai mỏ, luật này là Trần Nhật Thanh biên soạn tham khảo luật thuế của thời Lê- Trịnh tiến hành chế định, theo đó để khuyến khích dân chúng bỏ vốn khai mỏ, hắn thiết chế quy định cấp phép khai mỏ theo trong lãnh thổ Đại Việt cho tư nhân và đánh thuế theo chu kỳ 5 năm một lần theo mức thuế suất trung bình dĩ nhiên vì lặp lại sai lầm của triều đình Lê Trịnh trong lịch sử để cho người Hoa trung thầu khai mỏ dẫn đến thất thoát quặng ra nước ngoài không kiểm soát được, hắn cũng thiết chế quy trình rất nghiêm ngặt, chỉ dân chúng Đại Việt mới được cấp phép khai thác, muốn xuất khẩu ra ngoài biên giới bắt buộc phải tiến hành đi qua trạm thuế quan để kiểm tra và nộp thuế theo quy định, nếu không sẽ bị coi là phạm pháp, bị tước đoạt giấy phép khai thác cùng nhận kếch xù phạt tiền.