Chương 82: Thiên mệnh vốn dĩ không tồn tại
Triệu Chính được Hồ Hải dẫn dắt rời đi Lạc Thanh cung, Trần Nhật Thanh đưa tay vẫn cầm lấy bài thi của Triệu Chính từ trên ngự án, từng hàng chữ cứng cáp lại tiến vào trong mắt:
“Bệ hạ hỏi đến phép dùng người thì thần xin được trả lời như sau:
Phép dùng người của bậc vương giả không có đức thì không được tôn quý, không có tài không được dùng làm quan, người không có công không được ban thưởng, người không có tội thì không được trừng trị, chốn triều đình không có người vì may mắn mà được tước vị, nơi dân gian không có kẻ vì may mắn mà được tạm sống. Yêu quý người có đức trọng người có tài, sử dụng người tài theo sở trường khả năng, ai giỏi việc gì thì cho làm việc ấy không dùng sai vị trí, kết quả tự nhiên tốt đẹp. Với người hiền tài thì cất nhắc chẳng cần theo thứ tự, với người kém cỏ bất lực thì sa thải ngay, người dân bình thường dễ dạy thì dùng giáo hóa, chẳng cần hình phạt nhiều, kẻ hung hãn ngang tàng thì phải răn đe nhưng hình phạt không nghiêm khắc thái quá để biết kiêng dè mà không gây oán hận, còn ví như quân bạo ngược đại gian đại ác giáo hóa không được thì phải giết không tha.”
Ánh mắt hăn tiếp tục lướt xuống phía dưới.
“Bệ hạ hỏi làm sao để biết đâu là người quân tử thần xin được trả lời : Muốn biết được ai là quân tử thì xem lễ nghĩa của họ sẽ rõ. Hoc lễ nghĩa mà thực hiện được là kẻ sĩ, thực hiên mà cố gắng thì là quân tử, học biết hết làm cũng được hết thì là thánh nhân còn ví như học được một bụng Thi Thư nhớ lung tung nhưng thuyết tạp nhạp không biết thực hành lễ nghĩa thì bất quá cũng chỉ là hủ nho mà thôi, ngược lại nhất tâm cố gắng thực hành lễ nghĩa ở đời dù có không học được nhiều thì cũng xứng được gọi là bậc quân tử.
Bệ hạ hỏi đến vai trò của người quân tử là gì thì thần xin trả lời, bậc quân tử là nguồn của lễ nghĩa để dẫn dắt thiên hạ. Trời đất sinh ra người quân tử, người quân tử dùng lễ nghĩa để sửa trị trời đất. Không có người quân tử thì trời đất không được sửa trị, lễ nghĩa không có đầu mối trên không cò nghĩa vua tôi thầy trò dưới không có tình cha con vợ chồng anh em, ấy là cực loạn vậy.”
Cuối cùng hắn dừng lại ở đoạn cuối cùng :
“Bệ hạ hỏi rằng vua ứng mệnh trời mà sinh, nhưng các thánh vương đời xưa trong thời gian trị vì vì sao đều không thiếu xảy ra thiên tai dị tượng, thần xin được trả lời như sau:
Sách Tuân tử chép : Trời đất diễn tiến vốn có quy luật thường, không có ý làm cho vua Nghiêu còn cũng chẳng có ý làm cho bạo Kiệt mất.
Từ đó mà xét thì các sao đi vòng, mặt trời mặt trăng soi sáng, bốn mùa chuyển vận, âm dương biến hóa đều là cái sự thường tình của quy luật trời đất không liên quan gì đến văn trị của người. Trời chẳng vì người ghét lạnh mà ngừng mùa đông, đất chẳng vì người ngại xa mà rút bề rộng, xét ra thì hiện tượng tai dị cùng đạo đức của người làm vua vốn không có liên hệ nên đời các bậc thánh vương dị tượng hay xảy ra cũng là chuyện bình thường, là sự ngẫu nhiên mà thôi. Bậc làm vua biết làm cho gốc rễ sâu bền, chi dụng có tiết độ, hành động đúng đắn thuận thời thì trời không thể làm cho nghèo đói bệnh tật được. Ngày tháng thì đời loạn cũng như đơi trị mà thôi nhưng tai ương đời loạn thì khác đời trị ấy là do người mà ra cả. ”
Trần Nhật Thanh nhìn chăm chú vào bài thì, từ câu trả lời của Triệu Chính hắn dần có chút hiểu vì sao học phái Tuân Tử ở thời này không được coi trọng mãi đến thế kỉ 20 thì lại được tôn vinh, nguyên nhân nói ra thì cũng đơn giản, vì lý thuyết của họ quá lý tính và đặc biệt là quá thế tục trần trụi, hoàn toàn đem yếu tố tâm linh siêu hình toàn bộ loại bỏ, tư tưởng này thật sự là có chút đi trước quá xa, chả trách lại bị bài xích. Quân vương các triều đại ai nấy đều có nhu cầu tạo dựng tính chính thống mà phương pháp tạo dựng tính chính thống thường hay dung nhất chính là vay mượn thì siêu hình thần thánh, nhìn lại khắp nơi trên thế giới có thể thấy hiện tượng này xảy ra phổ biến nơi thì tự xưng là hiện thân của thần thánh trên trần gian, nơi thì tự xưng là người được Thiên Chúa trao quyền, ngay như ở Đại Việt có Vạn Hạnh lan sấm truyền tạo chính danh soán vị cho Lý Công Uẩn, trong nguyên bản lịch sử Lê Lợi có sự tích trả gươm báu tất cả đều vì chứng tỏ bản thân có thiên mệnh, quyền cai trị là đúng đắn, được trời chỉ định mà thành, học thuyết của pháp Tuân Tử nói rằng việc trời cùng việc người không có liên quan, có khác gì nói rằng thiên mệnh vốn dĩ không tồn tại, tất cả đều là ý người nhân tạo mà thành. Lại nói lý thuyết này có tính chất thế tục lý trí, giải hóa tính thiêng siêu hình, đối với tuyên truyền mị dân tuyệt đối là không có lợi, ngược lại lập luận của Mạnh Tử cho rằng trời là chủ thể có nhân cách ban thiên mệnh cho người có đức để trị thiên hạ lại phù hợp để lừa gạt quần chúng mê tín hơn, tự nhiên Mạnh Tử sẽ được coi trọng hơn Tuân Tử.
Hắn đời trước còn có chút không rõ vì sao vốn dĩ Mạnh Tử và Tuân Tử đêu được tồn tại song song cho đến thời Đường mà sang thời Tống đột nhiên Mạnh Tử bị cất cao vô hạn thành Á Thánh còn Tuân Tử thì bị bài bác chỉ trích thậm tệ, đến bây giờ thì đã hiểu. Trình Chu Lý học Tống Nho hình thành trong bối cảnh các Nho sĩ đang tìm cách cạnh tranh với Phật giáo và Đạo giáo tự nhiên có nhu cầu cần siêu hình hóa, thần thánh hóa, tôn giáo hóa học thuyết của mình, lý thuyết lý trí thế tục như Tuân Tử tự nhiên trở thành cái gai trong mắt đồng thời lý thuyết con người vốn tính ác có nhiều lòng tham dục vọng lại gần với lý thuyết Tham sân si của đạo Phật, kẻ mà họ muốn bài trừ tự nhiên phải đem Tuân Tử dìm xuống bùn đen. Đến thế kỉ 20 khi thời thế thay đổi khoa học phát triển chủ nghĩa thế tục chiến thắng tâm linh làm đoạt được vị thể làm lý thuyết cai quản xã hội, tôn giáo và nhà nước bị tách rời, Tuân Tử được Trung Quốc hiện đại phục hồi tôn vinh cũng là chuyện đương nhiên.
Trần Nhật Thanh lại lật qua các bài thi khác xem lại một lần, suy ngẫm đánh giá một lúc rồi từ trên án cầm lấy bút lông viết lên bài thi của Triệu Chính 2 chữ lại lấy ra hai bài thi khác cùng nhau phê lên. Chấm bài thi xong, hắn cầm lấy 3 bài thi nhét vào trong túi giao cho Hồ Hải mang tới Học bộ để làm thủ tục thông báo công bố.
2 ngày sau, kết quả thi Đình được công bố, theo tiếng xướng danh của nhân viên Học bộ 3 người đỗ đầu trong kỳ thi Thánh Nguyên nguyên niên đã ra đời: Triệu Chính đỗ Trạng Nguyên, Lê Hiến Phủ đỗ Bảng nhãn, Trần Đình Thám đỗ Thám hoa. Trần Nhật Thanh đối với 3 người cũng không keo kiệt hạ lệnh cho Trường Hùng từ nội vụ phủ xuất tiền tặng cho mỗi người lần lượt theo thứ tự là 30, 20 và 10 thỏi vàng, đồng thời dẫn 3 người đi dạo chơi phố phường kinh thành trong 5 ngày.
Kỳ thi kết thúc, theo các thi sinh thi trúng tuyền được bố trí công việc, bộ máy chính quyền Đại Việt vốn có nhiều chức vụ trống sau cải chế của Trần Nhật Thanh cuối cùng cũng đầy đủ nhân viên, bắt đầu đi lên quỹ đạo