Chương 81: Vương bá
Trần Nhật Thanh từ trong kinh ngạc định thần trở lại, lý luận của Triệu Chính sắc bén làm hắn không ngờ đến, nhìn lại bài thi của Triệu Chính hắn quyết định tiếp tục hỏi:
-Tiên sinh kiến giải thật tinh diệu, bây giờ Trẫm muốn hỏi đến nghi vấn tiếp theo, trong đề thi Trẫm có hỏi đến hai đường lối trị quốc vương đạo và bá đạo, tiên sinh có trả lời rằng vương đạo và bá đạo thực ra không có tách biệt rõ ràng, xin hỏi đây là ý gì ?
Triệu Chính mỉm cười trả lời :
-Tâu bệ hạ, để giải thích rõ ràng không thể không đi từ gốc rễ của vương đạo và bá đạo .
Trần Nhật Thanh gật đầu:
-Nguyện được nghe tiên sinh nói tường tận
Triệu Chính giọng đều đều nói:
– Đầu tiên thần xin nhắc lại ý nghĩa của vương đạo và bá đạo. Vương đạo gốc rễ chính là nhân nghĩa. Trị quốc bằng nhân nghĩa, không làm điều gì tổn hại đến lễ nghĩa, tâm chí kiên định không thay đổi mà giữ vững điều nghĩa, phụ tá thì chọn người nghĩa sĩ; pháp luật trong nước thì dùng nghĩa pháp; dẫn dắt bá quan lấy thân làm gương cho thiên hạ muôn dân, khiến kẻ dưới sẽ hướng lên vì nghĩa, ấy là sự vững bền; quốc gia vững bền thì thiên hạ vững bền, đó chính là công nghiệp của bậc vương giả vậy.
Đức Khổng Tử không có tấc đất cắm dùi, nhưng ngài lấy nghĩa làm gốc, thân hành lấy nghĩa làm đầu, ghi nghĩa trong lời nói, dùng nghĩa trong mỗi ngày, không giấu mình với thiên hạ nên danh tiếng lưu truyền hậu thế. Thành Thang nhà Thương đùng đất Bạc, Vũ vương nhà Chu dùng đất Hạo — đều là vùng đất chỉ rộng trăm dặm — mà có thể thống nhất thiên hạ về một mối, chư hầu quy phục, bốn phương đều thuận theo, tất cả không vì lý do nào khác, chỉ bởi có nhân nghĩa mà thôi.
Thấy Trần Nhật Thanh gật đầu đồng tình, Triệu Chính lại nói tiếp:
Tiếp theo là bá đạo, bá đạo gốc rễ không phải gì khác chính là tín nghĩa. Người làm vua đức dù chưa đến mức nghĩa dù chưa thành nhưng lý lẽ đã sáng tỏ, hình phạt và thưởng công rõ ràng, trung thực với thiên hạ khiến kẻ dưới đều biết điều cần tuân theo. Chính lệnh đã ban, dẫu thấy có lợi trước mắt cũng không dối dân; ước định đã thành, dẫu thấy có lợi cũng không lừa bạn.
Như vậy thì binh mạnh, thành vững, địch quốc e sợ; quốc gia nhất quán, láng giềng tin cậy; dù ở nơi quê mùa cũng có thể oai chấn thiên hạ — Ngũ bá là như vậy. Không phải do bản chính giáo, không phải do văn trị cao siêu, không phải do văn lý tươi đẹp, không phải do thu phục lòng người — mà do hiểu chiến lược, biết nhọc nhằn, lo tích trữ, tu chỉnh binh bị, trên dưới tin nhau, khiến thiên hạ không dám chống đối.
Cho nên Hoàn Công nước Tề, Văn Công nước Tấn, Trang Vương nước Sở, Hạp Lư nước Ngô, Câu Tiễn nước Việt từ những nước hẻo lánh xa xôi mà oai chấn thiên hạ, thậm chí lấn át Trung Nguyên — không gì khác, chỉ bởi nhất mực giữ vững tín nghĩa vậy.
Trần Nhật Thanh khuôn mặt nghi hoặc dò hỏi:
-Theo như lời vừa rồi của tiên sinh thì trẫm thấy vương đạo và bá đạo có khác biệt rõ rệt, tại sao lại nói là không có tách biệt rõ ràng.
Triệu Chính cười nhẹ, ôn tồn giải thích:
-Bệ hạ xin hãy thử nghĩ xem, pháp luật chính lệnh vì sao lại sinh ra ?
Trần Nhật Thanh không chút do dự trả lời:
-Đương nhiên là vì duy trì trật tự, bảo đảm thiên hạ ổn định không bị rối loạn kỷ cương, khiến người người lo sợ bất an.
Triệu Chính gật đầu đồng tình, nói:
-Bệ hạ nói đúng, pháp luật chính lệnh sinh ra vì duy trì trật tự ổn định, vậy ý chí duy trì trật tự ổn định xuất phát từ đâu ?
Trần Nhật Thanh chợt hiểu ra, thốt lên:
-Chính là vì lòng nhân nghĩa
Triệu Chính sắc mặt vui vẻ, gật đầu tán dương:
-Bệ hạ trí tuệ siêu quần, vi thần bội phục.
Đến đây lại nói tiếp:
-Đúng vậy, pháp luật vốn dĩ sinh ra từ lòng nhân nghĩa, thuở sơ khai chưa có pháp luật, chưa có chính lệnh, người người tự theo ý mình, tranh giành lẫn nhau mà khốn cùng, các bậc thánh vương thượng cổ thấy được loạn lạc mà sinh lòng căm ghét nên đặt ra lễ nghĩa để phân ra trật tự, nuôi cái lòng muốn của người ta, cấp cho người ta thứ họ muốn. Sau này vì để răn đe nhưng kẻ làm sai lễ nghĩa, khuyến khích cho những người làm đúng lễ nghĩa nên mới sinh ra pháp luật chính lệnh, sinh ra thưởng phạt phân minh. Nên xét đến tận cùng pháp luật sinh ra vốn là vì nhân nghĩa tức là gốc rễ vương đạo vậy. Bá đạo không chú trọng gốc rễ nhân nghĩa mà chỉ giữ vững tín nghĩa với pháp luật chính lệnh đây chính là chỉ thấy ngọn cây trồi lên mà bỏ quên cái rễ ngầm chôn dưới đất, bám vào cái hình tướng mà bỏ qua cái thực. Cho nên xét ra bá đạo vốn dĩ là hạ cấp hóa, rút gọn đơn giản hóa từ cái thuật của vương đạo mà thôi, vốn dĩ không có tách biệt rõ ràng.
Trần Nhật Thanh kinh ngạc không thôi, lý thuyết này không phải rất gần với học thuyết khế ước xã hội trong thời đại khai sáng được xem là nền tảng của hệ thống quốc gia hiện đại ra đời ở châu Âu sao. Nếu thay đối tượng tạo ra nhà nước và pháp luật “các đấng thánh vương” thành toàn thể nhân dân thì cơ bản không có khác biệt bao nhiêu. Hắn không kìm được tiếp tục hỏi:
‘-Tiên sinh cao kiến, Trẫm khâm phục. Xin hỏi tiên sinh ví như Thái Tổ nước Nguyên Thành Cát Tư Hãn sáng lập giang sơn to lớn cho con cháu là vì sao ?
Triệu Chính sắc mặt có chút mất tự nhiên, dù sao thân là hậu duệ người Tống di dân cảm quan đối với Nguyên Mông tự nhiên là không tốt lắm, nhưng vẫn trả lời:
-Thái Tổ triều Nguyên trị quân nghiêm minh, thưởng phạt rõ ràng, quân lệnh chặt chẽ, nên binh sĩ Mông Thát hung hãn tinh nhuệ nhưng không biết lấy lễ nghĩa làm gốc, hành động tàn bạo, nên quân đội tuy hùng mạnh nhưng chính sự thì tối tăm, quân thần nghi kỵ tranh đoạt, nội đấu không ngừng, đến nay đã mất đi thiên hạ vào tay Chu Minh, như vậy không thể xem là vương giả chỉ có thể xem là bậc hiệt kiệt trong bá giả mà thôi
Trần Nhật Thanh lúc này chợt cười mà hỏi :
-Vậy theo tiên sinh, Trẫm có phải là vương giả hay không ?
Triệu Chính suy ngẫm một lúc rồi nói:
-Những công đức của bệ hạ vi thần ở trong dân gian cũng có nghe qua đôi điều, bệ hạ mở trường dạy học miễn phí cho dân, chế tạo ra máy in,cải tạo bút mực, giấy viết kiểu mới giúp cho đạo lý của thánh hiền được đến với thứ dân nghèo khó, bản thân vi thần xét đó là công đức, là 1 điều . Bệ hạ dấy binh vì nghĩa, trước thì đánh đuổi giặc ngoài xâm phạm biên cương sau thì trừ kẻ phản nghịch soán vị, xiển dương kỷ cương chính thống ấy đó là công đức là 2 điều. Bệ hạ, noi theo vua Nghiêu vua Thuấn đời xưa tự mình lo cuộc sống bản thân mà không dựa vào thuế má của dân chinh là công đức ấy là 3 điều. Bệ hạ tạo ra thể chế bảo hiểm giúp cho người ta lo cho người khốn khó bệnh tật là công đức, ấy là 4 điều. Bệ hạ chăm lo đến việc nông tang, chế tác ra máy móc giúp nông phu bớt công nhọc nhằn, ban sách dạy dân canh tác sao cho đúng, tạo giống lúa mới, chế thuốc trị sâu hại, tạo phân bón cho cây thêm xanh tốt chính là công đức, ấy là 5 điều. Bệ hạ vừa đăng vị đã trừ bỏ các tệ đoan từ đời trước, bỏ phép kiểm kê tài sản, bỏ phép sa châu tiệt cước, đúc tiền mới đẹp tốt mà thay thế tiền cũ xấu tệ chính là công đức ấy là 6 điều. Bệ hạ chấn chỉnh Phật môn trừ dị đoan tà thuyết dối đời lừa dân chính là công đức, ấy là 7 điều. Chỉ riêng 7 điều này có thể thấy được bệ hạ có nhân nghĩa, chính là vương giả vậy.
Triệu Chính nói tiếp:
-Trong đề thi bệ hạ viết rằng ngày đêm lo lắng sợ hành động thiếu sót mà giang sơn lâm nguy, muốn cầu phương sách ứng đối trị nước, từ đó thần thấy được bệ hạ chính có cái tâm yêu dân của vương đạo, lấy cá nhân thần cho rằng bệ hạ từ khi đăng cơ đã xá miễn thuế khóa hai năm, bãi bỏ lao dịch mà dùng tiền thuê người để không bắt ép dân phải bỏ bê xa rời mùa vụ ảnh hưởng đến việc nhà nông, phân đất cho dân cày cấy, cùng dân nghỉ ngơi lấy lại sức, thanh tra lại hộ khẩu, lại sáng tạo máy móc kỹ nghệ phép hay hỗ trợ cho nhà nông, chỉ riêng những điều này đã đủ có thể làm giang sơn được an định rồi, chỉ cần bệ hạ chuyên tâm việc nước, tu sửa đê điều kênh rạch, xây dựng đường xá giao thông cho thuận tiện làm hàng hóa muôn vật trong nước lưu thông được dễ dàng, lại kính người hiền, trọng người tài, dùng người đúng với việc sở trường của họ, lo gì dân không an vui sung túc, lo gì nước không được giàu mạnh. Nước được giàu mạnh, dân được yên vui, bệ hạ lại dùng lễ nghĩa mà giáo hóa để họ dân hiểu được tôn ti, hiểu được phận sự, người nghĩa sĩ thì phong thưởng thật hậu, kẻ gian ác thì trừng trị nghiêm minh, lo gì dân không sống chết vì bệ hạ. Đoàn kết dân tâm thống nhất dân chí thì binh phong tự khắc mạnh, lo gì lân bang không nghe danh mà kính sợ.
Trần Nhật Thanh lúc này suy tư một chút mới nói:
-Tiên sinh nói có nhân nghĩa tự khắc nước sẽ giàu binh sẽ mạnh, lân bang sẽ kính sợ nhưng Trẫm từng nghe được một người nói rằng bậc quân vương phải vừa là sư tử hung mãnh vừa là hồ ly xảo quyệt, rằng làm quân vương phải không ngại dùng quyền mưu biến hóa.
Triệu Chính khuôn mặt nghiêm lại nói:
-Bệ hạ xin cho vi thần được biết lời này là ai nói với bệ hạ, xin bệ hạ lập tức giết ngay kẻ này đi.
Trần Nhật Thanh giật mình kinh hoảng, ngươi hỏi ai nói cho ta lại đòi giết kẻ đó, ta biết đi đâu tìm đây, ta là đọc sách mà biết của một tiên sinh họ Mã người Ý Đại Lợi ( Machiavelli) hắn lúc này còn chưa sinh ra đâu, làm sao giết được hắn. Nghĩ vậy hắn thái độ có chút gượng gạo trả lời:
-Đây chẳng qua là lời bàn vu vơ mà Trẫm nghe được từ một học trò vân du, Trẫm cũng không biết hắn là ai. Không biết tiên sính vì sao xin Trẫm giết hắn ?
Triệu Chính dùng ánh mắt hoài nghi nhìn Trần Nhật Thanh một hồi như để xác nhận xem hắn có nói dối hay không, rồi mới trầm giọng giải thích:
-Bệ hạ thần sở dĩ xin bệ hạ phải giết ngay kẻ đó đi vì lời này tà thuyết gian trá phản lại đạo lý, cái hại vô cùng lớn, nếu kẻ đó dùng lời này để khuyên bảo bệ hạ thì ắt là kẻ tiểu nhân lòng dạ hiểm ác, bụng dạ khó lường muốn hại bệ hạ.
Trần Nhật Thanh hơi có chút bất ngờ với Triệu Chính, ngươi nói vậy là có ý gì, cuốn sách Quân vương của Machiavelli đời sau rất có danh tiếng cũng được khá nhiều người đánh giá cao, tại sao ngươi lại phản ứng lớn như vậy. Hắn cẩn thận nói:
-Tiên sinh lười này là có ý gì, xin nói rõ hơn để Trẫm được hiểu biết.
Triệu Chính vẫn duy trì thái độ nghiêm túc trả lời:
-Tâu bệ hạ, thần sở dĩ nói kẻ dùng lời này khuyên bảo bệ hạ chính là lòng dạ hiểm ác, muốn hại bệ hạ chính là vì bệ hạ nếu thật sự theo lời khuyên này thì ắt chuốc lấy bại vong, vận mệnh xã tắc ắt lâm nguy.
Thây Trần Nhật Thanh sắc mặt biến đổi, Triệu Chính lại kiên nhẫn giải thích:
-Bệ hạ, bậc làm thiên tử, đứng trên muôn người, bản thân cũng chính là cái gương cho muôn người soi vào, là cái đích cho muôn người nhòm ngó nhìn vào . Thiên tử có thể hiểu quyền mưu để cảnh giác nhưng không nên dùng quyền mưu cơ trá mà lập thân, người xưa có câu “Thượng bất chính hạ tắc loạn “ thân là thiên tử mà quyền mưu cơ trá thì người dưới ắt nhìn đó mà học theo, bá quan cũng theo đó mà quyền mưu gian giảo cơ trá dẫn đến dân chúng cũng mà trở nên gian manh. Bệ hạ nghĩ xem, nếu một vua cơ trá, nói không giữ lời, người trong thiên hạ ai còn tin được vào hắn nữa, bá quan văn võ, bách tính muôn dân còn ai muốn mà liều chết vì hắn khi biết hắn có thể dùng trò gian trá lừa gạt nuốt lời bất cứ lúc nào. Kẻ làm trò gian trá mà lập thân ắt rồi sẽ có lúc rồi người ta ắt sẽ mất hết niềm tin vào hắn, quyền mưu giả trá cũng vì thế mà sẽ mất đi tác dụng. Quân vương mà không còn ai tin thì không sớm thì muộn ắt chuốc lấy bại vong mà thôi. Đây chính là nguyên nhân thần nói lý luận của kẻ kia thực là dụng tâm hiểm ác vậy.
Trần Nhật Thanh trầm ngâm một lúc, hắn biết lập luận này kỳ thực cũng không thật vững, thực tế khả năng hiểu biết và lan truyền thông tin của con người có hạn chế, nhất là với các quốc gia đông dân đất rộng có thể khiến sự việc giả trá chỉ được một số người nhất định biết đến cũng chỉ tồn tại ở khía cạnh và đối tượng nhất định, không khiến mọi người mất đi niềm tin toàn bộ. Kẻ mất đi niềm tin của toàn bộ mọi người thì do kẻ đó chơi quá trớn đến mức ai ai cũng biết mà thôi, mà điều này thì kỳ thực xảy ra không nhiều, bất quá vì hắn cũng không phản bác, dù sao thì có một số chuyện bản thân biết là được nói ra ngoài miệng thì lại không ích lợi gì mà còn gây hại.