Chương 6: Chế tạo xi măng
Sáng hôm sau, thầy Hiến giảng về đạo hành quân, hướng đạo, đồn trú, tuần canh. Quả thật, kiến thức mênh mông như biển, nghe qua đã thấy khó lĩnh hội hết.
Trong phép hành quân, có các cách vượt sông, qua bãi lầy; đóng quân nơi hiểm yếu thì phải bố trí thế nào, nơi bằng phẳng thì dựng dinh ra sao.
Ví như ở chốn trống trải, đại quân lập dinh hình vuông, giả sử hai vạn quân thì chia làm bảy quân: trung quân bốn nghìn người, tả – hữu – tiền – hậu mỗi quân hai nghìn tám trăm người. Tả – hữu – hậu quân lại chia thành ba dinh, cộng thành mười tám dinh; riêng trung quân là một đại dinh.
Còn khi ở nơi núi non hiểm trở, thì dùng dinh yển nguyệt: mặt dinh hướng ra đất bằng, lưng tựa vào hiểm địa, hai cánh cũng dựa thế hiểm, tựa như vầng trăng khuyết ôm lấy lòng quân.
Phép hành quân còn dạy cách chuẩn bị lương khô: nấu cơm rồi phơi khô, tìm nguồn nước, phân biệt loại rau cỏ nào ăn được, loại nào độc hại; mỗi phần lương khô có thể duy trì đến năm mươi ngày cho mỗi binh sĩ. Thậm chí, khi lâm nguy, ngay cả vật dụng bằng da cũng có thể dùng làm thực phẩm.
Thầy còn kể một điển cố về binh pháp, rằng:
”Hàn Tín mang quân đánh Tề, Tề cầu cứu Sở. Sở sai Long Thư đem hai mươi vạn quân sang ứng cứu, giao chiến ở Duy Thủy. Ban đêm, Tín cho quân làm vạn bao cát, chặn dòng nước ở thượng nguồn. Sáng ra, quân Tín sang nửa sông giả vờ giao chiến rồi thua chạy. Long Thư thúc quân vượt sông đuổi theo. Khi quân Sở đã quá nửa sông, Tín lệnh phá bao cát, nước ào xuống, cuốn trôi phần lớn quân Sở. Quân Tín lập tức phản công đánh gấp, giết được Long Thư”.
Buổi học tan, Lân ghé chợ mua bao đá vôi về. Đá vôi, đất sét lấy dưới ao đã phơi khô, cùng cát suối – nguyên liệu đã đủ. Lân nghiền nhỏ tất cả, trộn theo tỷ lệ, rồi mang tới lò rèn nung ở nhiệt độ phải đạt tới một nghìn bốn trăm năm mươi độ.
Gặp lại chủ lò rèn, Lân hỏi thăm về dụng cụ mình đặt. Ông đáp:
“Dăm hôm nữa là xong. Ta còn nhờ thằng cháu phụ, để sớm giao cho khách quan.”
Nhân đó, Lân nhờ ông nung giúp hỗn hợp. Ông chủ hỏi:
“Phải nung đến khi nào thì được?”
Lân trầm ngâm, rồi bừng sáng ý:
“Xin ông nung đến độ mà sắt gần chảy dẻo.”
Lân biết sắt chảy ở hơn một nghìn năm trăm độ, vậy khi nó gần chảy chính là nhiệt độ mình cần. Lò đỏ rực, ông chủ vẫn tiếp tục rèn sắt. Khi nhiệt đã đủ, hỗn hợp được lấy ra – lúc này đã thành clinker – Lân cảm tạ, mang về nhà nghiền nhỏ, hòa với nước, rồi để một góc, chờ ngày mai xem kết quả.
Mẫu thân thấy con suốt ngày nghiền trộn, liền hỏi:
“Con làm gì vậy?”
Lân đáp:
“Con thử chế bột kết dính.”
Thời này, người ta dùng bột đá vôi trộn rỉ mật làm chất kết dính, tuy chắc chắn nhưng không thể so với xi măng. Lân thầm nghĩ: Nếu thành công, thì bê tông cốt thép cũng sẽ làm được. Thành lũy xây bằng thứ ấy, ai dám công phá? Nghĩ đến đây, hắn bật cười khoái trá, mơ tưởng về viễn cảnh tương lai.
Nhưng đời thường chẳng chiều lòng mộng tưởng. Sáng hôm sau, xi măng đông kết nhưng không cứng, bóp nhẹ là vỡ. Lân thở dài, đành điều chỉnh lại tỷ lệ, tiếp tục quy trình: sáng gửi hỗn hợp vào lò, trưa học xong thì ghé lấy.
Ngày kế, thầy Hiến giảng về quân tư, hình thế, phòng bị, xem thiên thời, bình trưng, dụng gián, dụng trá. Lân từng học lịch sử nhưng binh pháp thì mù tịt, nay mới biết việc nuôi quân trong cảnh thiếu thốn chẳng khác gì sinh tồn, chỉ khác là ở đây phải nuôi cả đại quân.
Cứ thế tròn một tháng, sáng thì thử xi măng, trưa học binh thư, chiều phụ giúp gia đình rồi đi quan sát kiến trúc thời này, tối lại cùng huynh đệ luyện võ. Đến khi dụng cụ, đinh của lò rèn hoàn tất, Lân tới nhận và thanh toán nốt cho chủ lò.
Một ngày trời quang gió mát, Lân tỉnh giấc sớm, ánh dương còn chưa rọi hết vào sân. Hắn đưa mắt nhìn sang góc nhà nơi đặt khối xi măng thử nghiệm. Vừa thoáng trông qua, lòng đã gần như nguội lạnh… nhưng khoa học vốn là đạo của kẻ kiên tâm, Lân vẫn bước đến, nâng vật ấy lên xem xét. Ánh mắt hắn lóe sáng — vận lực bóp thử, khối ấy không hề vụn nát, trái lại vô cùng cứng rắn.
“Thành công rồi… trời đất thiên địa ơi, ta đã thành công rồi!” — Lân gần như bật khóc. Tỉ lệ trộn này quả là hợp cách, tuy chẳng thể sánh với xi măng PC40 thời hiện đại, nhưng chí ít cũng đạt tới cỡ PC30.
Trong cơn hân hoan, Lân ôm khối xi măng, chạy như bay sang nhà Long. Nhà Long vốn không có cổng rào, Lân cứ thế xông thẳng vào. Vừa thấy Long, Lân hét lớn:
”Thành công rồi! Thành công rồi! Con bà nó phát tài rồi! Ha ha ha!”
Long giật nảy mình, quát:
”Ngươi điên rồi sao?”
Lân vừa thở gấp vừa nói:
”Tên chết bầm kia! Nghe ta nói cho rõ. Cả tháng qua ta thử nghiệm chế một loại chất kết dính xây dựng, nó tương tự như rỉ mật trộn đá vôi của các ngươi, nhưng cứng hơn, kết dính mạnh hơn gấp bội. Có thứ này, chúng ta có thể dựng nhà gạch, đúc thành những vật dụng kiên cố”.
Long nghe mười phần chỉ hiểu được ba, gương mặt ngây ra. Lân chợt nhớ, người đời này nào hiểu nổi ý tứ của mình, liền thu bớt lời. Chuyện trước mắt là chế một cối xay đá lớn hơn, bởi sức người có hạn, lại chẳng có bạc để thuê mướn.
Lân bàn:
”Phía hữu nhà ta, nơi mảnh đất trồng rau có con suối nước chảy xiết. Ta sẽ dựng một bánh xe nước, rồi dùng bánh răng, xích sắt dẫn lực xoay cối đá. Khi có thêm tiền, ta lắp thêm vài chiếc, sản lượng sẽ tăng. Thậm chí còn xay gạo thành bột, phơi khô để lâu ngày, làm đủ các loại bánh”.
Nói đoạn, Lân lại phóng sang lò rèn, bỏ mặc Long ngẩn ngơ như tượng gỗ.
Tới nơi, ông chủ lò — Tứ thúc — đã quen mặt Lân, niềm nở đón tiếp, bưng ra bình trà mời. Lân chắp tay:
”Tứ thúc, lần này con muốn nhờ thúc rèn cho bốn bánh răng, hình dạng con sẽ vẽ ra”.
Lân rút tờ giấy, dùng than vẽ hình bánh răng, lại cặn kẽ giảng giải cơ chế. Tứ thúc gật đầu:
”Hình dáng tuy lạ mắt, ta chưa từng chế qua, nhưng nghĩ cũng không khó”.
Giao việc xong, Lân trở về nhà Long, gọi anh em trong đội bắt tay dựng bánh xe nước. Gỗ trong nhà hai bên vẫn còn, thiếu thì lên rừng chặt thêm.
Đến ngày thứ ba, Nhạc ghé thăm. Y nói:
”Vài hôm nay, đệ cùng phụ thân lên tận Đá Vách, Thủy Xá, Hỏa Xá, Mộ Điểu buôn bán trầu. Dân các tộc nơi ấy hiếu khách, việc trao đổi thuận lợi, đất đai lại màu mỡ”.
Nghe vậy, Lân khẽ giật mình — thời cơ đến nhanh hơn mình nghĩ. Đây hẳn là điểm khởi nguyên của một bước ngoặt lịch sử. Lân dặn:
”Đệ nên kết giao tốt với họ, sau này ắt có chỗ dùng”.
Nhạc vốn tính hào sảng, lại quen giao thiệp với người Hoa, buôn bán trầu nên danh tiếng lan xa.
Y nói tiếp:
”Nghe nói sư huynh có đội xây cất nhà. Hiện nhà đệ muốn mở rộng để người làm xa trú ngụ, lại cần thêm kho chứa hàng. Sư huynh có nhận không?”
Lân đáp ngay:
”Được. Nếu cần sớm, bốn ngày nữa là ngày hoàng đạo, có thể khởi công”.
Nhạc cười:
”Vậy theo ý sư huynh”.
Trước khi rời, Lân chỉ vào chiếc gùi tre đựng vài món đồ:
”Theo đệ, gùi này có gánh được nước không?”
Nhạc cười xua tay:
”Sao có thể? Nước sẽ chảy ra ngay, sư huynh thật biết đùa”.
Lân mỉm cười:
”Nếu trát nhựa cây vào bên trong, nó sẽ chứa nước như thùng gỗ. Còn dùng để làm gì… đệ tự khắc sẽ hiểu”.
Nhạc chắp tay:
”Đệ xin cảm tạ sư huynh đã chỉ điểm”.