Chương 4: Đội xây dựng
Hôm sau, vì không phải đến lớp, Lân ở nhà phụ giúp phụ thân việc gia đình. Trên đường đi qua thôn làng, Lân vừa bước vừa trầm ngâm:
“Trong thời đại này, nhà cửa của dân chủ yếu làm bằng gỗ, mái lợp cỏ hoặc đất, kết cấu yếu ớt. Nếu gặp hỏa hoạn hay giông bão thì rất dễ bị phá hủy. Ở các thành trấn, người ta dùng gạch và đá, liên kết bằng vôi trộn với gỉ mật.
Ngày xưa, khi còn học ngành kỹ sư xây dựng ở thời hiện đại, ta từng học qua cách chế tạo xi măng. Nếu thời này có xi măng, việc dựng nhà hay xây thành lũy sẽ kiên cố hơn rất nhiều.”
Ý nghĩ đó thôi thúc Lân lập tức lên kế hoạch thử nghiệm chế tạo xi măng. Theo kiến thức của Lân, nguyên liệu cần có gồm vôi, đất sét và cát, trộn theo tỉ lệ 8 – 2. Tuy nhiên, để thành công vẫn phải qua thử nghiệm và thêm một số phụ gia. Cần chuẩn bị cối xay nghiền và một lò đốt.
Ban đầu, Lân định đầu tư chút tiền để làm các vật dụng thí nghiệm, chỉ cần thành công là có thể sản xuất với khối lượng lớn. Nhưng vấn đề trước mắt là vốn — không có tiền thì mọi kế hoạch đều dang dở.
Nghĩ đi nghĩ lại, Lân quyết định kiếm tiền từ chính nghề mình am hiểu: xây dựng.
Khi phụ mẫu trở về, Lân hỏi phụ thân về việc xây nhà ở thôn làng.
Phụ thân đáp:
“Thông thường, các hộ gia đình tự tận dụng nhân lực trong nhà, cùng họ hàng xây cất. Gỗ thì vào rừng đốn hoặc ra bến thuyền mua. Nhà phú thương khá giả sẽ thuê thợ mộc giỏi, còn phần trang trí, chạm khắc, phù điêu thì giao cho một nhóm thợ khác. Thanh niên trai tráng khi rảnh việc đồng án cũng đi làm công cho các đội xây nhà.”
Lân thưa:
“Con vẫn dành thời gian học văn và luyện võ, nhưng vẫn còn kha khá thời gian rảnh. Con muốn tập hợp một số anh em để đi xây nhà, kiếm thêm chút tiền phụ giúp phụ mẫu.”
Phụ thân gật đầu:
“Con nay cũng lớn, nếu đã suy nghĩ kỹ thì cứ làm. Nếu khó khăn, ta sẽ giúp. Tiền thì ta và mẫu thân con cũng có tích lũy chút ít, có thể giúp con phần nào.”
Nghe vậy, Lân trong lòng cảm động. Ban đầu, Lân không nghĩ phụ thân sẽ nhanh chóng đồng ý như thế.
Ngày hôm sau, Thầy Hiến vẫn chưa về nên cả lớp được nghỉ. Trên đường về, Lân bàn với Long việc tập hợp thanh niên trong làng lập đội xây dựng. Ban đầu Long cho rằng ý tưởng này khó khả thi, nhưng sau một hồi Lân thuyết phục, Long cũng đồng ý cùng triển khai.
Long đi vận động vài người trong làng mình, kết quả có 3 người hưởng ứng. Lân đưa ra mức tiền công: một tháng 1 quan (tức 600 đồng) được nghỉ 4 ngày phép. Long cũng tập hợp được thêm 5 người, trong đó 3 người là thợ mộc giàu kinh nghiệm. Tạm thời đã có 8 người, nếu thiếu sẽ tuyển thêm.
Ở các hộ nghèo, nhà thường làm bằng đất sét, mái lợp cỏ. Gia đình khá giả thì xây nhà 3 gian hoặc 5 gian, khuôn viên rộng rãi có thêm kho chứa, bếp, thậm chí một gian khách riêng để tiếp người ngoài.
Cấu trúc nhà 3 gian:
• Gian giữa (nhà chính): Không gian sinh hoạt và tiếp khách, cao và rộng hơn hai gian bên.
• Gian bên trái (nhà khách): Dùng tiếp khách, thấp và hẹp hơn gian giữa.
• Gian bên phải (nhà ngủ): Dành cho sinh hoạt gia đình và ngủ, cấu trúc tương tự gian trái.
Mái ngói che phủ kín từ trước ra sau nhà.
Trước tiên, Lân đến lò rèn cuối làng đặt một số dụng cụ. Bước vào, Lân nhìn thấy một tráng hán trung niên, cởi trần, đang dồn lực nện búa xuống miếng sắt đỏ rực trên đe. Thấy khách, ông dừng tay, hỏi:
“Khách quan muốn mua dụng cụ hay sửa chữa nông cụ?”
Lân đáp:
“Ta muốn làm một số dụng cụ để xây nhà, không biết giá cả thế nào?”
Chủ lò rèn trả lời:
“Tùy số lượng. Làm nhiều, gia công nhanh thì một ngày 25 đồng, vật liệu tính theo thành phẩm. Ít thì tính theo từng món, dao động từ 5 đến 15 đồng.”
Lân đặt làm búa, dao và đinh. Về quy cách đinh, Lân tự tay vẽ mẫu và hướng dẫn cho chủ lò rèn ba loại: loại dài 2 phân, 5 phân và 1 tấc. Sau đó, Lân tiếp tục vẽ hình ròng rọc, giải thích chi tiết cách chế tạo. Lân cho biết loại này dùng để nâng hạ những vật nhẹ trên cao; còn với vật nặng, sau này sẽ làm thêm ròng rọc động. Lân đặt cọc trước 1 quan, khi làm xong sẽ tính toán rồi trả nốt phần còn lại.
Hôm sau, thầy Hiến trở về, lớp học lại tiếp tục với môn binh pháp. Bước vào, thầy nói:
“Hôm nay, chúng ta tiếp tục học về Đạo làm tướng.”
Thầy chậm rãi giảng:
“Phàm nguồn gốc của việc biến đổi giữa quân kỳ và quân chính là ở chỗ: khi làm việc thì không nói, dùng binh thì phải bí mật. Việc nắm trước, động thì phải lặng im, dùng thì khiến người ta không ngờ, mưu thì người ta không biết.
Binh không đánh kẻ vô tội, không giết người vô cớ. Giết để hiển oai, giết một mà ba quân sợ, giết một mà vạn người mừng thì cứ giết. Đáng giết thì dù là người quý cũng phải giết. Thưởng phải công bằng, không thiên vị.”
Thầy tiếp tục phân tích từng điểm, trích dẫn nhiều điển cố minh họa. Giảng một lúc, thầy hỏi:
“Các trò đã hiểu rõ chưa?”
Cả lớp đồng thanh:
“Đã rõ, thưa thầy.”
Thầy mỉm cười, tiếp lời:
“Bây giờ ta giới thiệu cho các trò một trận pháp: Lục Hoa Trận. Lập đội, cách nhau 10 bước; đội trú cách đội sư 20 bước; cứ cách một đội thì dựng một đội chiến, tiến thì 50 bước làm một tiết. Khi thổi tù, kèn hiệu, quân tản ra trong vòng mười bước; đánh trống thì cứ 3 tiếng trống, 3 tiếng đáp ‘dạ’ đi từ 30 đến 50 bước để chế thế biến của địch. Quân kỵ đi sau, cũng 50 bước thì dừng. Quân chính dừng trước, quân kỳ dừng sau. Dùng trống làm hiệu đổi vị trí: quân kỳ lên trước, quân chính theo sau, đón địch, tìm sơ hở mà đánh.”
Từ đó, thầy giới thiệu tiếp các thế trận khác: Bát Quái, Ngũ Hành, Thiên Địa Phong Vân Long Hổ Điểu Xà…
Nghe đến đây, Lân thấy đầu óc choáng váng. Quả thật, đạo dụng binh và làm tướng không hề đơn giản; chỉ những người thông minh, trí lực hơn người và có thiên phú mới dễ dàng lĩnh hội. Lân liếc quanh: Dũng trầm ngâm, Long chăm chú, còn Thơm thì ánh mắt sáng rực đầy hứng thú.
Thầy nói tiếp:
“Thánh hiền nhờ tài ăn nói mà miễn tội; binh pháp lại lấy tài ăn nói làm công. Cho nên, người giỏi dùng binh thì lừa dối cũng làm, có khi phạm việc trời, có khi trái tục cấm, có khi giả làm quỷ thần, có khi lấy mộng mị làm cớ, có khi dùng vật kỳ quái, hoặc đặt lời sấm truyền. Tùy thời điểm mà vận dụng, khiến người không lường được, để thu phục lòng dân, khích lệ binh sĩ, đập tan khí thế địch.”
Nghe đến đoạn này, mắt Nguyễn Nhạc lóe sáng, như tìm ra con đường cho mình. Lân biết phần giảng này sẽ rất có ích cho Nhạc trong việc thu phục nhân tâm, nhưng đó là chuyện về sau.
Thấy học trò tập trung tiếp thu, để bớt căng thẳng, thầy Hiến nhìn ra xa: núi non trùng điệp, dòng sông uốn lượn, cảnh đẹp hữu tình. Thầy liền ngâm thơ:
Sông uốn cong, mây trôi vần vũ,
Núi tựa non, bóng đổ u hoài.
Dòng nước xanh ngát, thơ mộng chảy,
Cùng núi xanh biếc, hòa thành đôi.
Cuộc đời hỗn loạn, thăng trầm như sóng,
Trong tay vận mệnh, xô đẩy không dung,
Loạn lạc đời người, bao điều kỳ diệu.
Thầy khép lại:
“Hôm nay học tới đây thôi, mỗi trò sẽ có sự tiếp thu riêng.”
Cả lớp đứng lên chào thầy ra về.
Riêng Long và Lân ở lại dọn dẹp, di chuyển bộ bàn ghế để thầy có chỗ tiếp khách uống trà. Bộ bàn ghế này chính là do nhóm Long, Lân, Dũng và Tiệp trước kia cùng nhau lên rừng lấy gỗ về đóng. Thỉnh thoảng, mấy cụ hàng xóm cũng sang ngồi đàm đạo cùng thầy.
Xong việc, Long và Lân chào thầy để ra về. Trước khi bước ra cửa, Lân nói:
“Đệ tử đang chuẩn bị lập đội xây nhà, nếu trong vùng có ai cần, mong thầy giới thiệu giúp.”
Thầy gật đầu:
“Thầy sẽ lưu ý giúp con.”
Trên đường về, Long cất tiếng:
“Ngày mai là Tết Trung thu, anh em mình nên chuẩn bị chút quà đem sang nhà thầy. Năm nay, phía Phan gia có ý tổ chức tiệc ở nhà thầy, uống trà, ngắm trăng, ngâm thơ, lại còn phát bánh kẹo cho trẻ trong làng.”
Lân đáp:
“Thầy và các cụ trong làng thích ăn bánh, uống trà, thưởng trăng, ngâm thơ đối chữ. Còn anh em mình thì thích uống rượu, ăn thịt. Ngày mai, tụi mình rủ thêm Tiệp, Thung, Dũng vào rừng săn bắn và đặt bẫy thú.”
Long cười lớn:
“Được lắm, quyết định vậy đi.”