Chương 3: Học binh pháp
Hôm sau, Lân đến lớp thầy Hiến. Buổi sáng hôm ấy, thầy sẽ dạy văn cho các đệ tử. Gian nhà học tuy bàn ghế đơn sơ nhưng ngăn nắp, sạch sẽ. Ba anh em Nhạc, Thơm và Lữ đã có mặt từ sớm.
Vừa thấy Lân, Nhạc đứng dậy chắp tay:
”Chào Lân sư huynh”.
Thơm và Lữ cũng đồng loạt chắp tay chào.
Lân vội đáp lễ:
”Ba đệ đến sớm quá. Còn khoảng hai tuần trà nữa mới bắt đầu học”.
Nhạc nhanh nhảu:
”Đệ quen đến sớm. Nếu lớp có bụi bẩn thì tiện tay quét, hoặc cùng huynh đệ tán gẫu đôi câu”.
Lân gật đầu:
”Xem ra đệ và ta cũng cùng một nết”.
Ánh mắt Lân khẽ lướt sang Thơm, thầm đánh giá: Đây sẽ là vị tướng bách chiến bách thắng sau này chăng? Thơm có ánh mắt sáng, trán cao, thân hình cường tráng; mới mười ba, mười bốn tuổi đã toát ra khí chất thống lĩnh. Thấy sư huynh nhìn mình, Thơm mỉm cười:
”Sư huynh, tối nay chúng ta có thể luận bàn chút võ học chăng? Đệ muốn lĩnh giáo vài chiêu cao cường của huynh”.
Lân bật cười:
”Tuổi trẻ khí thịnh thật. Mới nhập môn đã muốn giao đấu. Nếu muốn luận bàn thì đợi sau hai tháng cuốc đất hãy nói”.
Thơm đáp gọn:
”Vậy hẹn sư huynh hai tháng sau”.
Thơm dám tự tin như vậy vì cả ba anh em từ nhỏ đã theo thầy Chảng học võ. Vị thầy nóng tính này thấy ba đồ đệ có tài liền nhận làm nghĩa tử, lại hết mực truyền dạy.
Khi lớp đã đông đủ, thầy Hiến bước vào. Cả lớp đồng loạt đứng dậy cung kính chào. Thầy gật đầu, từ tốn nói:
”Hôm nay ta dạy các trò về binh pháp. Binh pháp ở đây là Binh thư yếu lược do Hưng Đạo Đại Vương soạn, dựa trên Tôn Tử binh pháp và Tôn Ngô binh pháp, rồi điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn nước ta. Binh pháp là kết tinh từ kinh nghiệm xương máu, nhưng không thể cứng nhắc áp dụng. Chiến trường muôn hình vạn trạng, vận dụng binh pháp cũng phải linh hoạt”.
Thầy kể tiếp:
”Để nhập môn, ta kể cho các trò một câu chuyện về nghiêm quân…”
Vua nước Ngô khi ấy là Hạp Lư, gọi Tôn Vũ đến thử tài trị quân. Vua hỏi có thể luyện binh bằng những người đàn bà không. Tôn Vũ đáp: “Có thể.”
Vua liền gọi 180 cung nữ, chia làm hai đội. Ông chọn hai người thiếp vua yêu nhất làm đội trưởng. Tôn Vũ hỏi: “Các nàng có biết tay trái, tay phải, tim và lưng không?” Cả hai đội đồng thanh: “Biết.”
Ông giảng: “Trước mặt là tim, bên trái và bên phải là tay trái, tay phải, phía sau là lưng.” Sau ba lần ra lệnh, năm lần nhắc lại, ông hô họ đi về bên phải. Các nàng chỉ đứng cười.
Tôn Vũ nói: “Ước thúc không rõ, hiệu lệnh không tỏ là lỗi của tướng.” Rồi lặp lại hiệu lệnh, vẫn không ai làm theo. Lúc này, ông nghiêm giọng: “Đã tỏ rõ mà không làm là tội của binh lính.” Và ông lệnh chém hai đội trưởng.
Vua hoảng hốt can: “Quả nhân biết khanh giỏi dùng binh, nhưng không thể mất hai nàng ấy.”
Tôn Vũ đáp: “Thần đã nhận mệnh làm tướng, ở trong quân, có khi mệnh vua cũng không thể trái.”
Rồi ông chém thật, lập tức thay đội trưởng khác. Từ đó, mọi động tác trái, phải, trước, sau đều chuẩn xác, không chút sơ suất. Tôn Vũ tâu: “Quân đã chỉnh tề, dù lệnh vào nước, vào lửa cũng không chùn.”
Tới thời Hán Sở, Hàn Tín cũng từng chém Ân Cái — một giám quân, đồng thời là bạn thân Lưu Bang thuở hàn vi — vì dám khinh thường quân lệnh. Sau đó, quân đội mới trở nên kỷ luật, không còn là một đám ô hợp.
Thầy Hiến kết luận:
”Tướng phải có uy, quân phải tuyệt đối phục tùng. Quân lệnh như núi”.
Ánh mắt thầy quét qua lớp, dừng lại ở Thơm. Cậu học trò này lộ rõ vẻ hưng phấn, như tìm được báu vật. Thầy mỉm cười thầm nghĩ: Học trò này sau tất sẽ dựng nghiệp binh đao.
Thầy nói tiếp:
”Phần đầu Binh thư yếu lược gồm: thiên tượng, tuyển mộ, tuyển tướng, tướng tạo, giảng luyện, quân lễ, mạc hạ, binh cụ, hiệu lệnh…”
”Về thiên tượng:
Khi trời đất mù mịt, tối tăm, gió thổi cát bay, thì không nên ra quân. Nếu địch kéo quân kỵ mạnh đến đánh, phải giữ vững đội hình, không được rối loạn; dùng lá chắn đón tên đạn, dùng cung khỏe, nỏ cứng ngồi mà bắn. Khi địch lơ là, lập tức dùng binh tinh nhuệ, nhanh chóng đánh vào hậu quân địch để bắt sống.
Tuy nhiên, với quân Khiết Đan thì không thể làm như vậy. Họ cưỡi ngựa trên núi như đi trên đất bằng, sống nơi khắc nghiệt nên dù giông bão, gió tuyết vẫn săn bắn bình thường. Khi gió tuyết nổi mạnh, quân ta khó tiến, họ chia quân kỵ thành nhiều hướng, trước sau, trái phải mà đánh, khiến đội hình ta tan rã, không thể cứu viện nhau. Gặp tình thế ấy, phải giữ nguyên đội, chờ địch tới gần thì dùng cung khỏe, nỏ cứng, nỏ bàn, phối hợp trên dưới mà bắn, ắt khiến địch rối loạn.
Cái đạo binh mạnh để chiến thắng có 5 điều:
1. Sửa sang binh khí.
2. Đủ quân lính và xe cộ.
3. Tích trữ lương thảo dồi dào.
4. Rèn luyện binh sĩ tinh nhuệ.
5. Chọn được tướng giỏi.
Đủ năm điều ấy, quân mới mạnh.
Về chọn tướng:
• Hỏi bằng lời để xem trả lời có rõ ràng không.
• Gạn hỏi để xem lời lẽ có biến hóa không.
• Dùng gián điệp thử để biết trung thành hay không.
• Hỏi kỹ càng để xem đức hạnh.
• Dùng của cải thử để biết thanh liêm.
• Dùng sắc đẹp thử để biết đứng đắn.
• Dùng việc khó thử để biết dũng cảm.
• Cho uống say để xem giữ được thái độ.
Tướng có hai loại: tướng dũng và tướng trí. Tướng dũng công thành hãm trận, tăng nhuệ khí binh sĩ; nhưng mưu lược, ứng biến thì phải có tướng trí mới thành.
Thấy trời đã trưa, thầy Hiến nói:
“Hôm nay học đến đây thôi. Các trò về nghỉ, tối luyện võ. Ngày mai ta có việc ra ngoài, nghỉ văn, còn võ thì tự luyện.”
Cả lớp đồng thanh chào thầy rồi ra về.
Dũng cùng Nhạc và Long tiến lại bên Lân. Long cười:
“Lân huynh, tối qua bắt được mấy con cá to, hôm nay có tiện cùng nhau đối ẩm không?”
Lân đáp:
“Được! Lời huynh thật hợp ý.”
Nhạc chen vào:
“Hay đến nhà đệ. Sau vườn có chỗ mát mẻ, cảnh đẹp. Rượu nhà đệ ủ hơn 30 năm, Long sư huynh có cá, đệ có rượu, thế nào?”
Lân, Dũng nhìn nhau cười. Dũng nói:
“Vậy theo ý sư đệ.”
Khu vườn nhà Nhạc thoáng mát, chim hót líu lo, bên kia là cánh đồng lúa xanh mướt, bên phải là đồi cỏ nhấp nhô, xa xa đàn bò nhẩn nha gặm cỏ. Sông Côn uốn quanh làm đất đai màu mỡ, cảnh vật tràn sức sống.
Nhạc mang rượu ra:
“Rượu này ủ hơn 10 năm, dùng nước suối thôn bên nấu, trong vắt và mạnh.”
Lân nhìn rượu, thầm nghĩ đây hẳn là rượu Bàu Đá, từng uống khi còn sinh viên — cay nồng, thơm đượm, nhớ lại những buổi tiệc tùng rộn rã năm nào.
Long mang đến hai con cá Lăng to, mỗi con tầm hai cân. Rau hái từ vườn, rửa sạch là ăn. Than đã hồng, cá nướng chín, mùi thơm lan tỏa. Vừa ăn vừa uống, ai nấy đều tấm tắc.
Ở Đàng Trong dân còn uống rượu, chứ Đàng Ngoài từ thời Trịnh Doanh đã cấm.
Giữa lúc trò chuyện, gần đó đám trẻ chăn bò bỗng tụ lại, chia làm hai phe, khiến nhóm Lân chú ý. Nhạc cười:
“Chắc tiểu đệ ta lại chơi đánh trận giả rồi.”
Lân bỗng liên tưởng đến bậc minh quân thuở xưa, vị anh hùng tuổi thiếu niên đã dẹp loạn mười hai sứ quân — Đinh Tiên Hoàng. Trong lòng bất giác sinh ra một tia cảm khái, Lân mỉm cười nói với Thơm:
“Không ngờ Thơm sư đệ lại hứng thú với trò này. Mai sau tất thành đại tướng, cầm quân chinh chiến bốn phương.”
Lời nói nửa đùa nửa thật, nhưng trong đáy mắt Lân đã ẩn hiện niềm tin tưởng.
Long khẽ phe phẩy tay áo, thong thả cất lời:
“Hay là để xem Thơm sư đệ bố trận ra sao.”
Cả nhóm theo hướng tiếng reo hò mà bước tới. Trước mắt, hai phe thiếu niên đang chuẩn bị khai chiến.
Phía Thơm dẫn đầu, khoảng mười lăm đứa trẻ, tuổi tác chênh lệch dăm ba xuân, đứa nào cũng làn da rám nắng, dáng dấp nhanh nhẹn, ánh mắt sáng rực. Đối diện là một tốp chừng ấy người, thủ lĩnh là gã thiếu niên cao lớn, tuổi tác nhỉnh hơn Thơm, bắp thịt rắn chắc như gân thép.
Hai bên nghị định phân chia địa bàn, dựng đại bản doanh. Cách nhau chừng ba trăm bước, mỗi phe chỉ dựng một chiếc tiểu trại bằng vài cọc tre và tấm vải thô.
Chiêng trống chưa dứt, trận chiến mở màn. Bên đối thủ lập tức phân quân làm hai: một mũi xông thẳng chính diện, một mũi vòng ra sau hòng tập kích hậu doanh.
Thơm lại khác. Y sai một thiếu niên thân pháp mau lẹ mai phục ở giữa trận địa, còn mình cùng một đồng đội dẫn phần lớn quân số lên ẩn náu trên hai gò đất cao. Quân số vốn đã ít hơn, song thế trận dàn ra nghiêm mật, trống không mà như đầy quân.
Khi toán vòng hậu tiến gần, thiếu niên mai phục lập tức giơ cao cành cây rậm lá làm ám hiệu. Thơm khẽ phất tay, cánh quân bên đồi tách ra làm đôi. Quân địch chưa kịp nhận ra, đã bị một nhóm tinh binh từ trên cao đổ xuống như thác lũ. Song phương giằng co dữ dội, nhưng đối phương đông hơn nên quân Thơm vừa đánh vừa thoái, nhử cho địch mỏi gân mỏi sức. Đợi khi đôi bên thở gấp, đội trưởng bên Thơm quát lớn “Tiến lên!” toàn quân còn lại từ đỉnh đồi ào xuống, khí thế như sấm rền, lập tức đoạt lại thế thượng phong.
Lân đứng ngoài, mắt sáng lên, thầm tán thưởng. Hắn nhớ tới những dòng sử từng đọc, kể rằng thuở thiếu niên, Thành Cát Tư Hãn Thiết Mộc Chân cũng từng dùng kế “dĩ dật đãi lao” này: lấy ít địch nhiều, tiêu hao sinh lực đối phương, dễ thủ mà khó công.
Giữa lúc ấy, gã thủ lĩnh bên kia kéo quân chính đến. Thấy toán vòng hậu đã gần bị phá tan, hắn lập tức tăng tốc cứu viện. Nhưng vừa chạy ngang, một tiếng thét như chuông đồng từ phía sau vang lên:
“Huynh đệ theo ta!”
Chính là Thơm, toàn thân như mãnh hổ xuất sơn, dẫn quân bổ tới. Địch bị tập kích hai mặt, hàng ngũ rối loạn, trở tay không kịp. Thơm xông thẳng vào gã thủ lĩnh cao lớn, tay không tấc sắt, chỉ mấy chiêu đã nhấc bổng hắn khỏi mặt đất, quăng đi như ném bao rơm.
Trận chiến chấm dứt, quân Thơm toàn thắng. Theo ước hẹn, bên bại trận phải làm “nô dịch” cho bên thắng: sáng dâng trái cây, quạt hầu; chiều chăn bò trả lễ.
Nhìn cảnh ấy, Dũng, Long và Lân đều gật gù tán thưởng: Thơm không chỉ trí mưu như nước, mà thần lực cũng hiếm thấy. Trời chiều đỏ ửng, rượu trong người đã ngà, các huynh đệ chậm rãi tản bộ, tiếng cười vang vọng trên lối về.