Chương 506: Trung thần lương tướng
“Tiết… Tiết nghịch đã tới rồi sao?”
Lý Hanh vừa nghe hung tin, theo bản năng lùi lại một bước, nỗ lực kìm nén đôi môi đang run rẩy lập cập, nói: “Hay là… lui về giữ Linh Vũ?”
Lý Thục không hiểu nổi vì sao Phụ hoàng lại sợ hãi đến mức này, để mất hết cả khí độ của hoàng thất Đại Đường trước mặt nghịch tặc. Hơn nữa, thực lực trước mắt vẫn chưa tiêu tán hết, vẫn còn đường để xoay sở lựa chọn.
“Bệ hạ quên rồi sao? Bộc Cố Hoài Ân đã phản trắc chạy về Sóc Phương, nhi thần cho rằng, đi Linh Vũ lúc này không ổn thỏa.”
“Vậy biết làm sao đây?!”
Thanh âm Lý Hanh bỗng trở nên sắc nhọn, hắn cũng nhận ra bản thân đã quá mức hoảng loạn, bèn cố gắng tỏ ra trấn tĩnh, nói: “Quách Tử Nghi… phải rồi, Quách Tử Nghi sắp về rồi. Chỉ cần giữ vững thành Kính Châu, đợi Quách Tử Nghi vừa đến, tự khắc có thể đẩy lùi Tiết nghịch.”
Lý Thục ném cho Lý Hanh một ánh nhìn kỳ quái, cung kính đáp: “Bệ hạ, vạn nhất Quách Tử Nghi không phụng chiếu, chúng ta ngược lại sẽ rơi vào thế bị động.”
“Tuyệt đối không!”
Lần này, kẻ cất giọng eo éo phản bác lại chính là Lý Phụ Quốc. Hắn cảm nhận được sự hoảng loạn của Lý Hanh, bèn ra mặt giải vây: “Quách Tử Nghi trung cần thể quốc, nhất định đang trên đường cần vương rồi. Chỉ cần kiên thủ thêm vài ngày, thành Kính Châu kiên cố, lương thảo đầy đủ, hà cớ gì phải sợ đám phản nghịch?”
Lý Thục thấy tên hoạn quan này dám phản bác mình, trong lòng bừng lên cơn giận. Việc này nếu đổi là Lý Đàm, ắt đã ra tay giáo huấn đối phương ngay tại trận, nhưng Lý Thục biết nhẫn nhịn, tạm thời ẩn nhẫn không phát tác, chỉ nương theo ý của Lý Hanh, ưng thuận việc kiên thủ thành trì. Đồng thời, phái người đi thúc giục Quách Tử Nghi thêm lần nữa.
Bọn họ đã đặt trọn hy vọng lên người Quách Tử Nghi, chỉ còn biết đợi Quách Tử Nghi đến mà thôi…
~~
Thượng Đảng quận.
“Địa cực cao, dữ thiên vi đảng, cố viết Thượng Đảng” (Đất cực cao, cùng trời kết đảng, nên gọi là Thượng Đảng). Nơi này nằm ở giao giới của Hà Đông, Hà Bắc và Hà Nam, ngự phía Nam núi Thái Hành, trên đỉnh non cao. Phũ Khẩu Hình – một trong Thái Hành bát hình – tọa lạc tại đây. Nhờ địa thế hiểm yếu, từ cổ chí kim nơi này luôn là vùng binh gia tất tranh, người xưa có câu “Được Thượng Đảng, có thể vọng Trung Nguyên”.
Ngay từ buổi đầu An Lộc Sơn dấy loạn, Lý Long Cơ đã điều nguyên Bắc Đình đô hộ, Hữu Kim Ngô Đại tướng quân Trình Ngang đến Thượng Đảng quận. Một là để trấn giữ yết hầu trọng địa, hai là để tùy thời xuất binh sang Hà Nam, Hà Bắc.
Đáng tiếc thay, mãi đến khi Lý Long Cơ chạy về phương Nam, Trình Ngang vẫn chưa tìm được cơ hội xuất binh bình phản.
Hắn đương nhiên muốn kiến công lập nghiệp, chứ không cam lòng làm một thanh lợi kiếm chưa từng xuất vỏ, chỉ có tác dụng răn đe.
Sau đó, Lý Tông phái một tướng lĩnh tên là Trương Quang Thịnh đến tuyên chỉ. Chẳng hiểu sao, ngay cái nhìn đầu tiên Trình Ngang đã thấy chướng mắt với Trương Quang Thịnh, thầm nghĩ triều đình sao lại phái một kẻ dung mạo xấu xí nhường này đến, chẳng phải làm tổn hại thể diện của triều đình sao? Tiếp đó hắn lại nghĩ, bản thân Khánh Vương cũng là một kẻ mặt đầy sẹo xấu xí.
Nào ngờ, nói chuyện chưa được bao lâu, Trương Quang Thịnh lại nói: “Ngươi đến giờ vẫn còn dĩ mạo thủ nhân, trong thâm tâm quả thực chẳng khác nào hạng đàn bà.”
Trình Ngang kinh ngạc tột độ, nhất thời chưa phản ứng kịp, sau đó đứng phắt dậy chỉ vào Trương Quang Thịnh: “Ngươi… ngươi… ngươi là Cao Tiên Chi?”
Trương Quang Thịnh mỉm cười, vết sẹo trên mặt càng thêm dữ tợn. Nhưng trong ánh mắt lại ánh lên vẻ hân hoan.
Hai người khi còn ở An Tây vốn chẳng hòa thuận, có thể nói là rất tệ. Nhưng trải qua bao nhiêu biến cố nay gặp lại, vật đổi sao dời, cảm giác dâng lên trong lòng lại là sự bùi ngùi.
“Ngươi đến cả An Lộc Sơn cũng đánh không lại, ra nông nỗi này.” Trình Ngang châm chọc vài câu, coi như xóa bỏ hiềm khích lúc trước.
Trương Quang Thịnh tự trào: “Cứ coi như ta thua dưới tay An Lộc Sơn đi, còn ngươi thì sao? Định giống như hạng nữ nhi ‘đại môn bất xuất, nhị môn bất mại’ ru rú ở Thượng Đảng này ư? Sợ thua sao?”
(*Trong kiến trúc nhà cổ Trung Quốc (như Tứ Hợp Viện) “nhị môn” (thường là 垂花门 – Thùy Hoa Môn) là cánh cửa ngăn cách tiền sảnh (nơi tiếp khách nam) với hậu viện (nơi ở của phụ nữ và gia quyến))
“Cẩu thí!” Trình Ngang mắng: “Ta đã thỉnh mệnh mấy lần, nhưng triều đình biến cố liên miên, chỉ bảo ta cần vương, đâu có cho ta đi bình khấu.”
“Vậy thì bây giờ cơ hội đến rồi. Điện hạ đăng cơ, thề quét sạch hồ nghịch, tiếp chỉ đi!”
Trình Ngang không động đậy.
Hắn không mù không điếc, biết rõ đại sự xảy ra ở Quan Trung. Hai vị hoàng tử mỗi người tự xưng Đế, kẻ thông minh thì nên quan sát thêm chút nữa, không thể đặt cược quá nhanh.
“Sao thế? Sợ phải xuất chiến à?” Trương Quang Thịnh nói: “Ta nói đâu có sai, trong thâm tâm ngươi chính là…”
“Tiếp chỉ thì tiếp chỉ!” Trình Ngang vỗ án đứng dậy, miệng chửi đổng: “Lính lác ở Tây Vực đầu rơi máu chảy bất cứ lúc nào ta còn làm được, ta sợ cái đếch gì?”
Hắn hất bộ râu quai nón rậm rạp cứng như thép về phía Trương Quang Thịnh, tựa như cố tình khoe khoang. Giờ đây, hắn trông còn tuấn tú hơn cả Cao Tiên Chi ngày nào.
Lĩnh ý chỉ xong, Trình Ngang viết tấu chương phụng Lý Tông làm Đế giao cho Trương Quang Thịnh, ngay trong ngày điểm binh xuất Thái Hành Kính. (kính: đường mòn trên núi)
Không hổ danh là danh tướng Tây Vực, hắn vừa ra tay, An Khánh Tự ở Lạc Dương đã đứng ngồi không yên. Dưới sự giáp công của các đại tướng Vương Tư Lễ, Lý Thịnh, Trương Tuần, An Khánh Tự phải chạy qua Hoàng Hà. Trình Ngang nhận tin liền chặn đánh, đánh cho An Khánh Tự tơi bời hoa lá, chỉ còn dẫn theo hơn trăm người chạy trốn về Tương Châu.
Ngay khi hắn chuẩn bị thừa thắng xông lên tiêu diệt toàn bộ An Khánh Tự, thì lại liên tiếp nhận được thánh chỉ của Lý Long Cơ và Lý Hanh, bảo hắn chớ có “phụ nghịch” nữa, lại thêm lương thảo Giang Hoài đoạn tuyệt, Trường An phải đối mặt với cuộc thảo phạt nên chẳng còn tâm trí đâu mà lo phía Đông.
Đợi đến khi Lý Quang Bật đích thân tới Hà Đông chủ trì việc bình phản, thì thực ra đã bỏ lỡ thời cơ tốt nhất, chỉ có thể trấn giữ Hà Nam, kiềm chế không cho An Khánh Tự tụ tập làm loạn trở lại.
Về sau, Quách Tử Nghi cũng đưa binh tiến vào Thượng Đảng, các phe phái liền rơi vào thế đối đầu hai bên sườn núi Thái Hành.
Những ngày này, Trình Ngang chạy đôn chạy đáo du thuyết giữa Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật, quả thực cũng có tác dụng an định đại cục. Theo ý của hắn, bất luận là Khánh Vương hay Trung Vương kế vị, mọi người trước tiên cứ hợp sức diệt trừ An Khánh Tự đã.
Lời nói rất đúng, nhưng hành quân, cường công thành Tương Châu tất nhiên phải trưng tập dân phu vận chuyển lượng lớn quân nhu lương thảo qua núi Thái Hành, vượt sông Hoàng Hà, việc này không cách nào giải quyết. Lý Quang Bật hy vọng Giang Hoài có thể vận lương qua Hoàng Hà, Quách Tử Nghi lại nói Thái thượng hoàng và Bệ hạ không cho phép Giang Hoài vận lương tiếp tế cho địch, hắn cũng không có quyền hạn đó.
Thêm việc Lệnh đường của Lý Quang Bật bị Quách Tử Nghi mời đi, đủ thấy áp lực mà y phải đối mặt lớn đến nhường nào.
Giao thiệp hồi lâu, chư tướng khó khăn lắm mới đạt được thỏa hiệp, tiên quyết giải quyết phản loạn, không can thiệp vào tranh chấp hoàng thất. Thế là, Quách Tử Nghi không công đánh Trường An, Lý Quang Bật cũng không dùng lương thảo chi viện cho Trường An, cùng vây hãm thành Tương Châu.
Nhưng trong quá trình này, An Khánh Tự cũng chẳng ngồi không. Hắn phái sứ giả đến Phạm Dương báo cho Sử Tư Minh, nếu Sử Tư Minh chịu đến chi viện, hắn nguyện nhường ngôi Hoàng đế Đại Yến cho gã.
Đường quân hiển nhiên không ngờ An Khánh Tự lại có ý tưởng kỳ lạ đến vậy, nhưng nó quả thực hiệu nghiệm.
Từ khi Sử Tư Minh lui về giữ Phạm Dương, nhận được tiền lương do phản quân vận chuyển về, lại chiêu mộ được lượng lớn binh lính biên cương dũng mãnh, binh hùng tướng mạnh. Lại được Lý Hanh sắc phong làm Quy Nghĩa Vương, kiêm nhiệm Tiết độ sứ Phạm Dương, Bình Lư, chí khí ngút trời. Nhận được lời hứa của An Khánh Tự, gã lập tức động lòng, huy sư nam hạ.
Đối kháng với Sử Tư Minh khác hẳn với việc vây hãm thành Tương Châu, cần sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các bên. Khi Trình Ngang và Lý Quang Bật còn đang sầu não không biết làm sao để đạt được sự tin tưởng lẫn nhau với Quách Tử Nghi, thì Quách Tử Nghi nhận được chiếu thư triệu tập cần vương của Lý Hanh.
Còn phía Trường An gửi ý chỉ cho Lý Quang Bật và Trình Ngang vẫn là bình phản, cố gắng kiểm soát ảnh hưởng của cuộc phản loạn trong phạm vi nhỏ nhất.
Vì lẽ đó, Trình Ngang đích thân đến doanh trại của Lý Quang Bật để thương nghị.
“Theo ý ta, để Quách công lui binh cũng chẳng phải chuyện xấu.”
Hai người đi dạo bên bờ Hoàn Thủy, Trình Ngang nói: “Mời ông ta cùng chống An, Sử, khó tránh khỏi việc phải binh đao tương kiến với chúng ta, khiến ông ta trung nghĩa khó vẹn toàn. Chi bằng nhân lúc ông ta đuối lý, bảo ông ta thả Lệnh đường của ngài về, để Lý công trung hiếu lưỡng toàn.”
Lý Quang Bật nói: “Thế lực Sử Tư Minh to lớn, lương thảo, binh lực của chúng ta đều không bằng, e rằng không phải đối thủ.”
“Lý công năm xưa bao lần đánh bại Sử Tư Minh, nay lại sợ rồi sao?” Trình Ngang vỗ ngực nói: “Nếu Lý công không tự tin, còn có Trình mỗ đây!”
Kỳ thực, điều Lý Quang Bật lo lắng hơn cả là sau khi Quách Tử Nghi hồi binh cứu viện sẽ ảnh hưởng thế nào đến cục diện Quan Trung. Nhưng ngẫm lại, ai làm Hoàng đế thực sự quan trọng đến thế sao?
So với việc lo lắng Quách Tử Nghi phò tá Lý Hanh bình định Trường An, thì việc sớm khôi phục sự an định cho Hà Bắc quan trọng hơn nhiều.
“Vậy thì, cứ ai nấy phụng chiếu của người đó đi.”
Mấy vị đại tướng mỗi người đều có sự kiên trì và nỗi bất đắc dĩ riêng, bọn họ đều hy vọng có thể trên không phụ quân vương, dưới không phụ lê dân, nhưng sự cân bằng trong đó thật khó nắm bắt. Mỗi người lĩnh ý chỉ, kết thúc thế đối đầu vào những ngày đầu thu.
Quách Tử Nghi vội vã rời đi. Lúc lâm biệt, hắn sai người đưa trả lão mẫu thân của Lý Quang Bật, cùng với mấy chục xe tài vật và lương thảo. Đó là gia sản riêng của hắn, dùng để tư trợ cho Lý Quang Bật bình phản. Quách Tử Nghi cái gì cũng tốt, chỉ có điều hơi xa hoa thích hưởng thụ, bỏ ra được số tiền tài này thực sự không dễ dàng.
Lý Quang Bật đích thân đến Hồ Quan đón mẫu thân. Lão phu nhân tinh thần quắc thước, sắc mặt hồng hào, cảm thán: “Yên tâm đi, Quách công chưa từng bạc đãi lão thân. Quốc sự gian nan, chỉ mong ngươi thấu hiểu nhiều hơn.”
Tuy lo lắng chuyến đi này của Quách Tử Nghi sẽ đánh bại Ung Vương một cú đau điếng, nhưng Lý Quang Bật và Trình Ngang đã dồn hết tâm trí vào việc chống giặc.
Cuối tháng bảy, Sử Tư Minh dốc hết mười ba vạn đại quân Phạm Dương kéo đến.
Nhất thời, đại địa Hà Bắc lại bụi cuốn mù trời, thanh thế phản quân hừng hực. Đường quân không dám đối đầu trực diện, đành phải tạm lui để kiên thủ, chờ triều đình chi viện. Trình Ngang lui về Thượng Đảng, Lý Quang Bật lui về Hoài Châu.
Sử Tư Minh đến nơi, nhưng không vào Tương Châu hợp binh với An Khánh Tự, mà nhân cơ hội đánh chiếm Ngụy Châu. Hai ngày sau, gã lập đàn tế trời tại Ngụy Châu, tự xưng là “Đại Thánh Chu Vương”.
Gã phái Lý Quy Nhân dẫn một vạn binh mã đóng tại Phũ Dương, từ xa thanh viện cho Tương Châu, đồng thời cũng là để phong tỏa An Khánh Tự, bởi lẽ Sử Tư Minh lần này đến, mục đích chính là ngai vàng Đại Yến.
(thanh viện: dùng âm thanh, thanh thế, dư luận để ủng hộ.)
Cứu viện Tương Châu đâu cần đến mười ba vạn đại quân, Sử Tư Minh một lòng muốn tiến thủ, thực chất là muốn thuận thế công hạ Trường An, khai mở một vương triều mới.
Đánh Trường An vẫn là hai con đường đó, một là lấy Bắc Đô Thái Nguyên, hai là lấy Đông Đô Lạc Dương. Hà Đông địa thế cao hơn, nhìn xuống Quan Trung, tiến có thể công, lui có thể thủ, Sử Tư Minh liền phái Thái Hi Đức dẫn một vạn kỵ binh tấn công Thượng Đảng.
Trình Ngang là một mãnh tướng, thấy địch xâm phạm, ngày nào cũng dẫn binh đi kỳ tập. Dưới trướng hắn có không ít kiêu kỵ Tây Vực, cưỡi lương câu Đại Uyển, lai khứ như phi. Thái Hi Đức khó lòng ứng phó, đành phải lui binh hai dặm, khổ sở suy tính kế sách thắng địch.
“Mẹ kiếp, Trình Ngang quả thực quá hung hãn.”
“Tướng quân hà tất phải âu lo? Ta thấy tên Trình Ngang kia, chẳng qua chỉ là kẻ vũ phu.”
Thái Hi Đức thầm nghĩ, kẻ vũ phu hung hãn thiện chiến đến mức ấy đủ để lấy sức mạnh phá vỡ mưu mẹo, làm sao mà đối phó? Hắn ngoảnh đầu nhìn lại, thấy người nói là bộ tướng An Thái Thanh, liền hỏi: “Ngươi có diệu kế gì?”
“Chỗ dựa của Trình Ngang là đám lương mã Tây Vực, đi lại như gió. Quân ta hễ có chút lơi lỏng là hắn tập kích. Quân ta vừa định truy kích thì hắn lại rút lui. Mạt tướng có một kế…”
An Thái Thanh ghé tai nói nhỏ, Thái Hi Đức kinh nghi: “Có khả thi không?”
“Tướng quân thử một lần sẽ biết.”
Hôm sau, Thái Hi Đức dẫn khinh kỵ đến dưới thành khiêu chiến Trình Ngang. Trình Ngang liền dẫn trăm kỵ binh xông ra, dũng mãnh xung phong.
Tuy đã có chuẩn bị trước, nhưng khi đột nhiên thấy kỵ binh Đường quân lao tới, Thái Hi Đức vẫn kinh hãi thất sắc, quay đầu ngựa bỏ chạy.
“Phản nghịch, nạp mạng đi!”
Trình Ngang hô lớn, trên lưng ngựa bắn liền hai mũi tên, đều trúng vào sĩ tốt phản quân, phản quân lập tức rối loạn.
Thái Hi Đức vốn định dùng kế dụ địch, không ngờ lại đánh giá thấp Trình Ngang, trong lòng thầm kêu không ổn. Chạy liền mấy dặm, suýt nữa thì bị Trình Ngang bắt sống, cuối cùng phía trước An Thái Thanh cũng dẫn viện binh tới.
“Vây giết chúng!”
An Thái Thanh vốn định dụ Trình Ngang đi xa hơn chút nữa, thấy suýt chút nữa thì mất mạng Thái Hi Đức, cũng sợ toát mồ hôi hột, vội vàng xua kỵ binh xông lên.
Trình Ngang thấy trúng kế, ghìm cương quay đầu bỏ chạy, thế mà lại dẫn bộ hạ liên sát hơn mười người, cứng rắn xé toạc vòng vây trùng điệp, mở một đường máu thoát ra.
Chứng kiến cảnh này, Thái Hi Đức không khỏi cảm thán khó lòng chiến thắng, nhưng An Thái Thanh lại bảo cứ tiếp tục truy đuổi.
Phản quân đuổi đến bên dòng Chương Thủy, chỉ thấy Trình Ngang đã đang qua cầu.
“Thu binh thôi.”
“Không vội, tướng quân hãy nhìn xem.”
Thái Hi Đức đưa mắt nhìn theo, từ xa thấy Trình Ngang thúc con tuấn mã cao lớn bước lên cầu gỗ. Bỗng nhiên, trong tiếng ầm ầm vang dội, cả người lẫn ngựa cùng rơi xuống vực sâu.
“Ha ha.” An Thái Thanh cười lớn: “Ta đã lén sai người chặt gãy chân cầu, mời tướng quân mau bắt sống Trình Ngang!”
…
“Rầm!”
Móng ngựa to lớn giẫm lên cầu gỗ, sau đó là tiếng nổ vang trời. Trình Ngang mang theo bộ giáp nặng nề ngã xuống khe suối, cảm thấy vùng eo và bụng đau đớn kịch liệt, muốn gượng dậy nhưng hoàn toàn vô lực.
Chiến mã của hắn cũng bị gãy chân, vì đau đớn mà rên rỉ bi thương.
“Tướng quân!” Binh sĩ trên bờ kinh hô không ngớt, định trèo xuống khe núi cứu viện.
Nhưng tiếng móng ngựa của phản quân đã vang lên dồn dập, từ xa vọng lại gần.
“Đi!”
Trình Ngang hét lớn: “Các ngươi quay về, báo với chư tướng, hãy giữ thành cho tốt. Chủ soái có thể mất, thành trì không thể mất, xã tắc Đại Đường không thể mất!”
“Chúng ta xuống cứu tướng quân…”
“Cút!” Trình Ngang nộ hống: “Quân lệnh của ta mà các ngươi cũng dám không nghe sao?!”
Binh sĩ trên bờ gạt nước mắt, cực chẳng đã đành phải lên ngựa, chạy về phía thượng nguồn tìm cây cầu khác để về thành.
Trình Ngang không nỡ nghe tiếng hí bi thương của chiến mã, ráng hết sức dùng tay kéo lê thân thể nặng trịch của mình, ghé sát vào cổ nó, rút chủy thủ ra, giúp nó giải thoát nỗi đau đớn.
Làm xong việc này, hắn còn muốn rút dao tự tận, nhưng do trọng thương mất máu quá nhiều, hắn ngất lịm đi, trước mắt chỉ còn một màn đen kịt.
Rất nhanh, trong khe núi vang lên tiếng hò reo mừng rỡ.
“Trình Ngang ở đây rồi!”
“Truyền lệnh của ta, thừa thắng chiếm Thượng Đảng!”
~~
Quách Tử Nghi dự định từ Thấp Châu vượt Hoàng Hà, chi viện cho Lý Hanh.
Nếu đổi là người khác, bị sai bảo hết chỗ này đến chỗ kia như vậy, e là sớm đã sinh lòng bất mãn. Nhưng Quách Tử Nghi thì không, hắn vẫn bình tĩnh như thường. Hắn đã quá quen với thu nguyệt xuân phong, thế sự vô thường, chẳng bao giờ tốn tâm sức ký thác hy vọng vào việc người khác sẽ cư xử ra sao, mà luôn khoan dung với người, nghiêm khắc với mình. Quân chủ hiền minh cũng được, u mê cũng xong, hắn đều định làm tròn bổn phận của một bề tôi… Nói một cách đơn giản, hắn chẳng đòi hỏi gì ở Lý Hanh cả.
Phong cách hành xử như vậy, xứng đáng được gọi là tấm gương lương thần trong lòng các bậc quân vương.
Tuy nhiên, đại quân chưa kịp qua sông, phía sau đã có tín sứ đuổi theo, dâng một bức chiến báo cho Quách Tử Nghi.
“Quách công, tướng quân nhà ta bất hạnh bị bắt rồi, Thượng Đảng nguy cấp, khẩn cầu tướng quân chi viện!”
Quách Tử Nghi nghe vậy, còn chưa kịp phản ứng, thì phía sau lưng hắn, sứ giả hoạn quan Hình Diên Ân do Lý Hanh phái tới đã lập tức đứng ra, mắng nhiếc.
“Tưởng ta không biết đây là gian kế của các ngươi sao? Tiết nghịch và Hồ nghịch đã sớm cấu kết với nhau, ta thấy, Sử Tư Minh lần này nam hạ, chính là để giải vây cho Tiết nghịch!”
Tín sứ đến từ Thượng Đảng không dám tranh biện với Hình Diên Ân, quỳ rạp xuống đất, khóc cầu: “Quách công, tướng quân thà chết cũng muốn giữ Thượng Đảng, chúng ta sợ phụ trọng thác của tướng quân, chỉ xin Quách công cứu mạng.”
Hình Diên Ân nói: “Quách công, Bệ hạ còn đang đợi ngài ở Kính Châu cần vương đấy!”
Trong lúc hai bên đang lời qua tiếng lại, trong quân lại có tướng lĩnh chạy tới, thấy Hình Diên Ân cũng ở đó liền im lặng không nói, chỉ đưa hai bức thư vào tay Quách Tử Nghi.
“Tiết soái, đây là tình báo do thám mã thu được.”
Quách Tử Nghi bất động thanh sắc, mãi cho đến khi trở về trướng một mình, mới mở thư ra xem.
Khiến hắn bất ngờ là, bức thư đầu tiên lại do Lý Bí viết. Lý Bí tuy bị bắt làm tù binh, không đầu hàng, nhưng lại cho rằng vào thời điểm này Trung Vương không nên ngoan cố chống cự nữa, thoái vị trả lại Trường An thì có lợi cho đại cục hơn.
Tờ giấy thứ hai nét chữ lưu loát đẹp đẽ, chính là bút tích của Tiết Bạch.
Giọng văn của Tiết Bạch rất chân thành, không đề cập quá nhiều đến cuộc tranh giành quyền lực giữa Lý Tông và Lý Hanh, chỉ nhắc lại lời hứa của mình với Phong Thường Thanh một lần nữa. Sau đó, dành phần lớn bút mực để dự đoán nếu thả cho Sử Tư Minh nam hạ sẽ gây ra ảnh hưởng sâu rộng thế nào đối với Đại Đường và hậu thế.
Ngoài ra, Tiết Bạch hứa hẹn, chỉ cần Quách Tử Nghi nguyện ý bình định loạn Sử Tư Minh, triều đình Trường An có thể truyền chỉ đến Thái Nguyên, lệnh cho các quan lại Hà Đông như Vương Tấn, Nguyên Kết, Nhan Quý Minh dốc toàn lực phối hợp, trù tính lương thảo cho hắn.
Đây là một sự nhượng bộ không nhỏ, Quách Tử Nghi xem xong cũng phải động lòng.
Đọc đến cuối cùng, Tiết Bạch nói rằng, Đại Đường sở dĩ khí số chưa tận là nhờ có chư vị trung thần lương tướng, nếu vì sự ích kỷ, tầm thường của kẻ bề trên mà để cho phản loạn tiếp tục lan tràn, há chẳng phải phụ lòng bao tráng sĩ đã tử trận trước đây sao?
Khi viết bức thư này, Tiết Bạch vẫn chưa biết chuyện của Trình Ngang. Quách Tử Nghi đọc đến đây, bất giác nhớ lại tiếng hô hoán của Trình Ngang khi rơi xuống cầu gãy.
“Chủ soái có thể mất, thành trì không thể mất, xã tắc Đại Đường không thể mất!”
~~
Gió thổi tung lá đại kỳ trên đầu thành Kính Nguyên, binh sĩ dưới cột cờ căng thẳng nhìn chằm chằm ra ngoài thành. Nhưng Tiết Bạch không hề hạ lệnh cường công.
Thực tế, tình cảnh của hắn cũng chẳng khá khẩm gì. Nhân mã thành Trường An mệt mỏi, lương thảo thiếu thốn, kẻ địch lại nhiều, Tây Bắc phải đối mặt với Lý Hanh, Đông Bắc có Sử Tư Minh nam hạ, còn ở phía Nam, Lý Long Cơ đã bố cáo thiên hạ thảo phạt hắn.
Trận này, Tiết Bạch đánh tiếp cũng rất vất vả, hắn chỉ đang cố tỏ ra bình tĩnh, ý đồ bức hàng Lý Hanh.
Hôm ấy, Tiết Bạch cầm thiên lý kính nhìn lên đại kỳ trên đầu thành, quan lo quân nhu đi tới, bẩm báo nhỏ: “Ung Vương, quân lương sắp cạn, có nên hai ngày phát lương một lần không?”
“Trường An còn vận lương đến được không?”
“Mấy hôm trước đã đứt đoạn rồi, hôm nay tín sứ trở về, nói Trường An cũng hết lương.”
Tiết Bạch lại vẫy người hỏi: “Hà Đông có tin tức gì mới không?”
“Bẩm Ung Vương, vẫn chưa có.”
Xem ra, Quách Tử Nghi không hồi âm, có lẽ là vẫn chưa đưa ra quyết định, hoặc có lẽ đã dẫn khinh kỵ âm thầm đến nơi rồi.
Tiết Bạch nắm chắc sáu phần có thể thuyết phục được Quách Tử Nghi, bởi hắn tự tin những gì mình làm đều phù hợp với đại lợi của thiên hạ, hơn nữa cũng tin Đại Đường chính nhờ có những trung thần như Quách Tử Nghi nên quốc vận mới còn.
Nhưng kết quả vẫn chưa biết, đây mới là điều khiến người ta lo âu nhất.
Hắn đi đi lại lại vài bước, trong đầu lóe lên một ý nghĩ, liền phân phó cho binh sĩ: “Phái sứ giả vào thành Kính Châu, mời Lý Thục xuất thành gặp ta một lần.”
Không ít tướng lĩnh trong quân biết chuyện đều vô cùng kinh ngạc, cho rằng Lý Thục không đời nào chịu xuất thành gặp mặt.
Nhưng đến ngày hôm sau, Lý Thục vẫn đến. Y thúc ngựa ra khỏi thành, qua cầu treo, dừng ngựa cách hai tầm tên, đợi chờ Tiết Bạch.
Sau đó, Tiết Bạch cũng đơn thương độc mã cưỡi ngựa đi tới.
“Đã lâu không gặp.”
“Ta thì lại thường xuyên gặp ngươi trong tâm tưởng.” Lý Thục nói: “Có kẻ muốn cướp đoạt gia nghiệp của ta, ta không thể làm ngơ, phải không?”
“Đại Đường chưa bao giờ là gia nghiệp của riêng một mình ngươi.” Tiết Bạch đáp: “Nếu không, dựa vào đâu mà bắt bao nhiêu người phải người trước ngã xuống, người sau tiến lên hy sinh như thế?”
Lý Thục nheo mắt lại, cảm thấy một cơn giận dữ vô cớ trào dâng vì câu nói này.
Tiết Bạch ngược lại rất thản nhiên. Trong thâm tâm hắn, Đại Đường chưa bao giờ thuộc về Lý thị nhất tộc, ngàn năm sau nó vẫn thuộc về tất cả những con người trên mảnh đất này.
Hắn làm tất cả đều vì nguyên do đó, chưa từng có ý định giữ gìn xã tắc miếu đường cho họ Lý, vậy thì nói gì đến chữ “cướp”?
Sắc giận thoáng qua trong mắt Lý Thục, y kiềm chế cảm xúc, nói: “Nay xã tắc đa đoan, bách tính lầm than, đây chính là sự hy sinh mà ngươi nói đó sao?”
“Sự hy sinh của ta là đã cho các ngươi cơ hội.”
“Đừng quên, trong thành Kính Châu còn có binh hùng tướng mạnh, ngươi muốn công phá thành trì, tuyệt đối không phải chuyện dễ…”
Tiết Bạch nói: “Bệ hạ phái sứ giả chiêu dụ Quách Tử Nghi, ông ấy đã phái người đến Trường An hồi âm rồi.”
Lý Thục không giấu nổi vẻ kinh ngạc thoáng qua trong tích tắc, tay bất giác siết chặt dây cương, nói: “Ngươi lừa ta?”
“Ông ta có phụng chiếu của Lý Hanh hay không, trong lòng ngươi tự rõ.”
“Biết đâu là ngươi chặn bắt tín sứ của ông ấy.” Lý Thục nói: “Nhưng đợi khi đại quân của ông ấy đến, ngươi còn chặn được nữa không?”
Đây là một người rất thông minh, Tiết Bạch quả thực đang lừa y, lúc này xem ra đã bị nhìn thấu.
Nhưng Tiết Bạch không hoảng không vội, trầm ngâm nói: “Quách Tử Nghi lấy đại cục làm trọng, nguyện ý quy thuận. Hơn nữa ông ấy và Lý Bí có cùng quan điểm, cho rằng Lý Hanh nên tự nhận tội và thoái vị.”
“Giả dối.” Lý Thục không tin, có ý định quay đầu ngựa bỏ đi.
“Quách Tử Nghi đưa ra hai yêu cầu.” Tiết Bạch nói: “Một là, ông ấy không muốn ta tranh ngôi Thái tử; hai là, ông ấy muốn Bệ hạ phong ngươi làm Thân vương.”
Lý Thục dừng động tác, ánh mắt lộ vẻ suy tư.
Nếu Lý Hanh tranh ngôi thất bại, mà không bị phế làm thường dân. Cùng lắm là có một đứa con trai sau này được làm Tự Trung Vương. Nhưng nay lại để Lý Tông phong y làm Thân vương, tuy không có tác dụng thực chất, nhưng lại là sự biểu thị với thiên hạ rằng y là người có công.
Trong tình cảnh Tây Kinh Phượng Tường thất thủ, Diệp Hộ bại trận, Bộc Cố Hoài Ân phản trắc, Lý Bí, Quách Tử Nghi lần lượt trở giáo, mà vẫn còn được điều kiện như vậy, cũng không tính là lựa chọn quá tệ.
Nếu Lý Thục giúp Lý Hanh thuận lợi đoạt được đế vị, sau này thiên hạ đều là của y. Nhưng dưới áp lực khổng lồ lúc này, một tước vị Thân vương hữu danh vô thực lại có thể khuấy động những gợn sóng trong lòng y, quả là tạo hóa trêu ngươi.
Tiết Bạch hơi tỏ ra miễn cưỡng nói: “Việc này, Bệ hạ nể mặt Quách Tử Nghi mới đáp ứng, cũng là để hiển lộ sự khoan dung nhân hậu của Người. Cha con các ngươi nếu không hàng, cứ coi như Bệ hạ đã nhân chí nghĩa tận, ta công thành là được.”
Trên mặt Lý Thục không hề có chút biến sắc nào, suy tính một hồi, mới dùng vẻ mặt bình thản nói: “Ta sẽ hồi bẩm phụ hoàng.”
“Yên tâm, Bệ hạ có thể hạ chỉ xá miễn tội trạng của các ngươi trước, rồi các ngươi mới xuất thành đầu hàng.”
Tiết Bạch biết vài câu nói đã đủ khiến cha con Lý Hanh nảy sinh sự chia rẽ về lợi ích, không nói thêm nữa.
Hai người mỗi người lùi lại vài bước, rồi quay ngựa trở về.
~~
Lý Hanh đang bồn chồn lo lắng đi đi lại lại, cuối cùng cũng đợi được Lý Thục về thành, vội vàng hỏi: “Thế nào rồi?”
Hắn thực ra phản đối việc Lý Thục xuất thành gặp Tiết Bạch, nhưng Lý Thục nói có thể thám thính hư thực của Tiết Bạch.
Lúc này, Lý Thục không nhắc đến lời hứa của Tiết Bạch, chỉ nhíu chặt mày, chậm rãi nói: “Theo nhi thần thấy, e là… Quách Tử Nghi sẽ không phụng chiếu đâu.”
“Tại sao?”
Lý Thục cuối cùng cũng từ từ ngẩng cái đầu đang cúi thấp lên, nhìn thẳng vào mắt Lý Hanh, nói: “Phụ hoàng, hàng đi thôi.”
“Không!”
Lý Hanh lập tức đại nộ, túm lấy cổ áo Lý Thục xốc lên, quát hỏi: “Ngươi có biết Trẫm và Tiết nghịch có thâm thù đại hận thế nào không?! Ngươi muốn Trẫm làm kẻ tù đày, quỳ dưới chân ngươi mà cầu xin sao?!”
“Phụ hoàng yên tâm, Tiết nghịch tuyệt đối không dám công báo tư thù.” Lý Thục nói: “Nay toàn thiên hạ đều đang nhìn vào, Phụ hoàng chỉ có vì xã tắc thương sinh mà suy nghĩ, mới có thể đắc được thanh danh.”
Lý Hanh dường như không nhận ra đứa con trai này nữa, trừng lớn mắt, lắc đầu không ngừng, nỗi sợ hãi bị chôn sống lại dâng lên.
Lý Thục không kìm được đỏ hoe đôi mắt, quỳ sụp xuống đất, từng chữ như rỉ máu: “Xin Phụ hoàng hãy tin tưởng nhi thần, nay không hàng ắt chết, chỉ có về Trường An, mới còn một đường sinh cơ!”