Chương 382: Họa sư
Hoa Thanh Cung, Hải Đường Thang Điện.
Điện vũ không tính là lớn, nhưng kiến tạo lại cực kỳ tinh xảo. Hậu điện có một hồ ôn tuyền, chuyên dùng cho Dương Ngọc Hoàn tắm gội, tục gọi là “Quý Phi Trì” ý tưởng siêu phàm thoát tục, giống như một đóa hoa hải đường nở rộ, nên còn có tên là “Hải Đường Thang”.
Vì nước ôn tuyền Ly Sơn khó kiếm, hồ tắm rất nhỏ, dài rộng chẳng qua ba bốn bước chân, nhưng lại được xây bằng hai mươi bốn khối mặc ngọc, ngọc màu xanh đen thẫm, trơn bóng như gương. Chính giữa hồ có một đầu phun nước hình hoa sen được điêu khắc từ Hán bạch ngọc, dưới đế là ống nước bằng gốm sứ nối liền với nguồn nước.
Sương mù quanh năm suốt tháng phun ra từ đài sen, bọt nước bắn lên trông như những hạt châu ngọc đang nhảy múa.
Thân hình yêu kiều của Dương Ngọc Hoàn thoắt ẩn thoắt hiện trong làn sương, dưới sự tôn lên của ngọc đen thẫm, làn da nàng càng thêm trắng ngần trơn bóng. Sương mù thậm chí không kịp ngưng tụ thành giọt trên vai nàng, đã trượt xuống theo làn da mịn màng non nớt.
Chính là “Đình đình ngọc thể, uyển tự phù ba hạm đạm, hàm lộ lộng kiều huy” (Thân ngọc thon thả, tựa sen hồng nổi trên sóng, ngậm sương khoe sắc kiều diễm).
Tắm xong, nàng vừa giơ tay lên, hai cung nga vội vàng trải tấm thảm mềm mại bên hồ, đỡ Dương Ngọc Hoàn dậy. Bàn chân ngọc ướt sũng bước lên thảm, Trương Vân Dung đã cầm một chiếc khăn tắm lớn bước tới, quấn lấy thân hình quyến rũ kia.
“Vẫn là Hoa Thanh Cung tốt, tắm xong thật thoải mái.”
Dương Ngọc Hoàn nghiêng đầu, vuốt lại mái tóc đen, mỉm cười hài lòng.
Trương Vân Dung nói: “Kể cả ở thành Trường An, Quý phi chẳng phải cũng muốn tắm là tắm sao.”
“Phải sai các ngươi đun nước luôn phiền phức.”
Cách bàn trang điểm không xa, một con vẹt đang đứng trên giá, đôi mắt tròn xoe đảo quanh, bỗng nhiên kêu to.
“Hồ lạp, hồ lạp!” (Ù rồi)
Dương Ngọc Hoàn không đợi thị tỳ lau khô tóc cho mình, đi chân trần chạy tới, chỉ vào cái đầu nhỏ của con vẹt dạy dỗ: “Không được nói.”
“Hồ lạp, thanh nhất sắc hồ lạp.”
“Dạy ngươi bao nhiêu thi từ ca phú, chưa được mấy ngày đã quên sạch, lại giống con vẹt cờ bạc.” Dương Ngọc Hoàn bực mình nói.
Trương Vân Dung bước tới cười nói: “Cái thứ nhỏ bé này học khôn rồi, mỗi lần Quý phi ù bài vui vẻ, nó hùa theo kêu hai câu luôn xin được đồ ăn, đủ thấy nó cũng hiểu ù bài là chuyện tốt.”
“Thứ không học được gì tốt.”
Đang nói chuyện, có thị tỳ bẩm báo: “Quắc Quốc phu nhân vào cung cầu kiến.”
Dương Ngọc Hoàn bèn nói: “Mang bộ váy Tiết Bạch tặng ta tới đây, ta gặp a tỷ ngay tại trong điện.”
Nàng đang nói đến món quà Tiết Bạch tặng vào sinh nhật nàng, so với đủ loại trân bảo An Lộc Sơn dâng tặng thì có vẻ cực kỳ đơn sơ, lúc đó Dương Ngọc Hoàn nhận lấy còn mắng nhẹ Tiết Bạch một câu “keo kiệt” nhưng đến đêm hôm đó, sau khi nàng mặc thử lại vô cùng yêu thích.
Nguyên liệu dùng chưa đến một thớt vải, lại thắng qua vô số vàng bạc châu báu.
Đó là một bộ nhu quần, về tổng thể thì là kiểu dáng thường thấy nhất đương thời, lần này Tiết Bạch dành nhiều tâm tư hơn vào việc thiết kế các chi tiết nhỏ. Tỉ như, tà váy hai lớp, sa mỏng phối với tơ lụa, vừa mát mẻ lại không đến mức hở hang, mấu chốt là đặc biệt đẹp mắt; lại tỉ như hình thêu trên lớp sa mỏng, kết hợp sự nhẹ nhàng và tinh xảo vừa đúng mức.
Không giống những bộ y phục kinh thế hãi tục hắn dâng lên trước đó, sự thay đổi nhỏ như thế này dễ được người đương thời chấp nhận hơn. Huống chi Dương Ngọc Hoàn tư dung tuyệt thế, mặc bộ nhu quần này vào, bất cứ ai nhìn thấy cũng chỉ có thể thật lòng khen một tiếng “mỹ”.
Một lát sau, Dương Ngọc Dao đi vào.
Dương Ngọc Hoàn theo bản năng nhìn ra sau lưng nàng một cái, thấy Tiết Bạch không ở đó, trong dự liệu mang theo chút thất vọng, thầm nghĩ thợ may còn chưa nhìn thấy dáng vẻ nàng mặc bộ y phục này đâu.
“Oa.” Mắt Dương Ngọc Dao lộ vẻ kinh ngạc, bước lên ngắm nghía kỹ lưỡng, nói: “Thế mà lại đẹp như vậy?”
“Tam tỷ mặc nhất định cũng đẹp.”
“Ta cao hơn một chút, không được vẻ tiếu lệ như ngươi.”
Dương Ngọc Hoàn nghe xong, trong lòng cũng không vui lắm, chỉ cảm thấy Dương Tam tỷ là đang khoe khoang, thầm nhủ cao thì có gì tốt, lại không phải nam nhân. Tiếp đó, nàng liền biết hóa ra bộ y phục này Dương Ngọc Dao đã mặc thử trước rồi, chẳng còn cách nào, hai tỷ đệ này chính là “thân mật” hơn một chút.
“Nhắc tới thì, A Bạch bây giờ coi như khai khiếu rồi, Tiết đả bài, Tiết thợ may, thú vị hơn Tiết ngự sử, Tiết xá nhân nhiều.”
Dương Ngọc Dao nói: “Nam nhi chung quy phải làm nên một phen sự nghiệp, cũng không thể cứ vây quanh nữ nhi gia mãi được.”
Ngày tháng lâu rồi, nàng hiển nhiên hiểu Tiết Bạch hơn nhiều.
Dương Ngọc Hoàn mím môi, không nói nữa.
“Hôm nay tới, không nhắc đến chuyện đánh bài, thợ may, là tới hỏi thăm ngươi về một họa tượng trong cung.” Dương Ngọc Dao nói, “Nghe nói có một người tên là Trương Huyên, muội có biết không?” (tượng: thợ)
“Trương họa trực? Sao có thể không biết?”
Dương Ngọc Hoàn nói, vẫy gọi Trương Vân Dung bảo mang con vẹt tới, cười nói: “Ngay năm ngoái, ông ta còn vẽ cho ta một bức ‘Thái Chân Giáo Anh Vũ Đồ’ (Tranh Thái Chân dạy vẹt) nà, cho tỷ xem con vẹt trong tranh này.”
Con vẹt nàng nuôi này rất có linh tính, vừa được mang lên điện đã hét lớn: “Tam tỷ, Tam tỷ.”
Tam tỷ chẳng thèm để ý đến nó, chỉ nhìn bức ‘Thái Chân Giáo Anh Vũ Đồ’ kia, hỏi: “Trương Huyên hiện giờ ở đâu?”
“Ông ta chính là người Trường An, nay đã già cả, không còn cung phụng trong cung nữa, ẩn cư ở Chung Nam Sơn. Ngoại trừ cấm vệ Thánh nhân phái đi hộ tống ông ta, quả thực ít người biết được.”
Dứt lời, Dương Ngọc Hoàn lại vẫy Trương Vân Dung tới, bảo: “Ngươi đi hỏi Cao tướng quân tung tích Trương Huyên, cứ nói ta vẫn còn muốn mời ông ta vẽ cho ta một bức tranh.”
Bên này tỷ muội hai người tiếp tục bàn luận về y phục, qua một lúc lâu, Trương Vân Dung trở lại, báo kết quả hỏi được cho Dương Ngọc Dao.
…
Chiều tối hôm đó, biệt nghiệp Quắc Quốc phu nhân.
“Ta đích thân đi một chuyến.” Tiết Bạch biết được nơi ở của Trương Huyên, suy tính hồi lâu, đưa ra quyết định này.
Dương Ngọc Dao vô cùng khó hiểu, hỏi: “Cớ gì?”
Quan hệ về mặt thể xác giữa Tiết Bạch và nàng gần gũi hơn nhiều, nhưng sự tin tưởng dành cho nàng ngược lại không bằng Lý Đằng Không, thế là, cân nhắc từ ngữ chậm rãi nói: “Ta nghe ngóng được, Trương Huyên năm đó từng đến trạch đệ Tiết Tú vẽ tranh cho rất nhiều người, có lẽ từng gặp sinh thân phụ mẫu của ta.”
“Ngươi còn nghe ngóng những thứ này làm gì? Với tình cảnh hiện giờ của ngươi, thêm một chuyện chi bằng bớt một chuyện.”
“Nếu ta không nghe ngóng rõ ràng trước, đợi chính địch biết được trước, tình cảnh chỉ sẽ càng nguy hiểm hơn.”
“Kẻ nào không có mắt như thế? Giết chết là xong.”
“Yên tâm đi, chuyến này đi Chung Nam Sơn, nhanh thì hai ngày là về rồi, cứ nói ta đi chọn lễ vật cho Thất Tịch ngự yến của Thánh nhân.”
Tiết Bạch trấn an Dương Ngọc Dao, thầm nghĩ, kẻ không có mắt kia e là chính mình.
Mà sở dĩ hắn nhất định phải gặp Trương Huyên, là vì hắn hy vọng có thể thuyết phục hoặc lừa gạt Trương Huyên sau này đứng ra giúp hắn làm chứng, chứng minh hắn chính là hoàng tôn.
Có một nhân chứng như vậy, hắn có lẽ sẽ tranh thủ được nhiều sự ủng hộ hơn khi phong vân biến ảo.
~~
Quan viên hầu hạ ở Hoa Thanh Cung phần lớn sẽ mua nhà ở huyện thành Chiêu Ứng, Viên Tư Nghệ cũng vậy.
Hôm nay lão không trực ban, bèn ở trong thư phòng xem văn thư mang về từ Thượng Cung Cục, lại lật đến bức họa Tiết phi kia. Lão nheo đôi mắt già nua, nhìn chằm chằm vào đứa trẻ trên bức họa rất lâu.
“A gia, người gọi ta?”
Một vị hoạn quan trung niên không tiếng động đi vào thư phòng, khom người hành lễ nói.
Người này tên là Phụ Tốc Lâm, khoảng ba mươi lăm tuổi, dung mạo nghiêm túc, đứng đắn cổ hủ y hệt Viên Tư Nghệ, có khí trường của quan viên triều đường. Người ngoài nếu không biết thân phận của y, thường sẽ tưởng rằng vật dưới háng y vẫn còn.
“Xem đi.” Viên Tư Nghệ nói: “Văn thư Ca Nô điều duyệt trước khi chết, ta nghĩ mãi không ra tại sao trong đó lại có một bức họa hậu phi và nhi tử của Lý Anh.”
“Mấy vị nhi tử của Phế Thái tử, đều được Khánh Vương nhận nuôi.” Phụ Tốc Lâm nói: “Vị hoàng tôn trong tranh, là do Tiết phi sinh ra, vậy hẳn là đệ tứ tử của Phế Thái tử – Lý Cừu? Ca Nô điều bức họa này, là muốn dùng nó làm lý do, ủng lập Khánh Vương?”
Viên Tư Nghệ gật đầu, không phủ nhận khả năng này.
Lão vốn dĩ không để ý lắm đến việc này, chỉ là Lý Lâm Phủ trước khi chết gặp Cao Lực Sĩ xong liền lập tức điều duyệt văn thư, trong lòng lão tò mò, bèn sai người lấy văn thư tới xem, lúc đó nhìn lướt qua, không nhìn ra huyền cơ bên trong, liền vứt sang một bên không quản.
Mãi đến khi Tiết Bạch bỗng nhiên nhắc tới việc này với Thánh nhân, lão mới chợt nhận ra việc này không đơn giản. Lão không bẩm báo Thánh nhân ngay, trái lại còn che giấu trước mặt Thánh nhân, muốn tra rõ ràng xem đằng sau rốt cuộc ẩn giấu điều gì trước đã.
“Ngươi đi Chung Nam Sơn một chuyến, tìm họa sư Trương Huyên năm đó, hỏi cho rõ bức tranh này có ẩn tình gì. Nếu hỏi không ra, bắt người trực tiếp mang về đây.”
“Nặc.”
“Ngươi đích thân đi, mang theo tâm phúc, đừng để người khác biết.”
Phụ Tốc Lâm nhận lệnh, trong lòng tuy cho rằng Viên Tư Nghệ tiểu đề đại tác (quan trọng hóa vấn đề) nhưng vẫn cẩn thận làm theo mệnh lệnh, dẫn người chạy thẳng tới Chung Nam Sơn.
~~
Chung Nam Sơn.
Trong dãy núi phía sau quần thể điện vũ nguy nga của Lâu Quán Đài, cách Lão Tử Thuyết Kinh Đài hơn mười dặm về phía Đông, có một ngọn núi tên là Xích Dục Khẩu, trong núi có một hang đá thiên nhiên, tên là Nghênh Dương Động.
Trương Huyên sau khi cáo lão quy ẩn, liền dựng mộc lâu ở cửa hang, tu đạo dưỡng lão.
Cuối tháng Sáu, có một lão hữu tới thăm ông, lưu lại nơi ở tụ tập linh khí thiên địa này của ông mấy ngày, hôm nay cáo từ rời đi.
Trương Huyên tiễn bạn đến chân núi, chung quy không nỡ, nói: “Ngươi đã thích nơi này, sao không ở thêm vài ngày, hoàn thành bích họa trong động rồi hãy đi?”
“Ta cũng muốn ở lại a, nhưng đang mang trọng trách trong người, không thể không đi rồi.”
“Trọng trách?” Trương Huyên nói: “Lần này ta và ngươi gặp nhau, trước sau chỉ đàm luận họa kỹ. Ta còn tưởng ngươi giống ta, không còn cung phụng trong cung nữa.”
“Ta nếu cũng từ chức, Thánh nhân sao có thể thả ngươi đi? Mấy năm nay ta đi Thục trung một chuyến, nay mới về.”
“Tại sao?”
“Thiên Bảo năm thứ năm, Thánh nhân nghe Dương Chiêu vào kinh nói phong cảnh Gia Lăng giang tú lệ, diệu thú hoành sinh, bèn lệnh cho ta đến Thục trung tả thực. Chuyến đi này, ta ngắm sóng nước trên Gia Lăng giang, mất năm năm trời đó.”
Trương Huyên cũng là họa sư, làm sao không hiểu tâm huyết lão hữu bỏ ra cho tác phẩm, cảm khái nói: “Ngần ấy năm trôi qua, Dương Chiêu đã thành Dương Quốc Trung, cao cư Tể tướng. Còn ngươi, đến một bức tranh cũng chưa vẽ xong.”
“Con người sống trên đời, luôn có một số việc phải từ từ làm, từng nét từng nét, không vội được, không vội được.”
Chủ đề lại quay về chuyện vẽ tranh, trò chuyện vài câu, dù Trương Huyên vô cùng không nỡ, cũng chỉ có thể đưa mắt nhìn lão hữu đi xa.
Khi tiếng vó ngựa xa dần, biến mất, cuối cùng chỉ còn lại một lão nhân tóc trắng cô độc đứng đó, lẩm bẩm một mình.
“Không vội được, nhưng chỉ sợ đây là lần cuối cùng ngươi và ta gặp nhau a.”
Dứt lời, Trương Huyên chống gậy, khó nhọc đi về phía đỉnh núi.
Ông đã rất già rồi, đoạn đường này đi cực kỳ gian nan. Mà tài phú, vinh quang giành được nhờ cung phụng trong cung nhiều năm qua, cũng không thể giúp chân cẳng ông nhẹ nhàng hơn chút nào khi về già.
Khi về đến Nghênh Dương Động, dưới mộc lâu buộc ba con ngựa, hóa ra là có người từ một sơn đạo khác tìm tới.
Trương Huyên đâu hề muốn gặp người ngoài, ông biết những kẻ đó chẳng qua là tới cầu tranh, bọn họ nguyện ý bỏ ra vô số vàng bạc châu báu vì tranh của ông, nhưng ông lại không muốn dùng chút sinh mệnh ít ỏi đáng thương còn lại vào việc vẽ tranh cho người khác nữa.
Thế là ông chống gậy, gắng gượng leo lên đỉnh núi, ngồi đó nhìn mặt trời từ từ ngả về tây, dần dần biến thành màu vàng kim, nhuộm đỏ mây trời. Ông thà dành rất nhiều thời gian ngắm một buổi hoàng hôn, cũng lười theo đuổi danh lợi thế gian.
Mãi đến khi mặt trời hoàn toàn lặn xuống, trong Nghênh Dương Động sáng lên ánh lửa trại, có mùi thịt nướng bay tới. Trương Huyên do dự một lát, cuối cùng đứng dậy, trở về nơi ở ẩn của mình.
Một người trẻ tuổi mang lại quan cảm rất tốt bước lên, đỡ lấy ông, đồng thời nói: “Quấy rầy Trương công rồi, là ta tu hú chiếm tổ chim khách, nên dùng thịt nướng tạ lỗi, mời Trương công nhập tọa hưởng dụng.”
“Lão phu mắt mờ, tay run, đã không thể vẽ tranh nữa rồi.”
“Lần này tới, không phải muốn Trương công vẽ tranh. Vãn bối Tiết Bạch, thường xuyên đi lại trong cung, trước đó lại vô duyên gặp mặt Trương công một lần.”
“Ngươi chính là Tiết lang?” Trương Huyên có chút bất ngờ, cười nói: “Ngươi tới muộn một chút.”
“Không biết ý Trương công là gì?”
Trương Huyên không đáp, được Tiết Bạch dìu vào Nghênh Dương Động, trước tiên nhìn đùi dê đang nướng trên lửa trại, hài lòng gật gật đầu, nói với Điêu Bính đang rắc muối: “Rắc nhiều hoa tiêu một chút.”
Điêu Bính ngẩn ra, thầm nghĩ đôi mắt lão già này thật độc, thế mà nhanh như vậy đã nhìn thấy bột hoa tiêu y mang trong hành trang.
Bên kia, Trương Huyên đã nhìn về phía bích họa trong động, hỏi Tiết Bạch: “Có thể nhìn ra đây là thủ bút của ai không?”
Tranh vẽ một bức sơn thủy, trong đó còn có tiên nhân, nhìn một cái là biết không phải phong cách của Trương Huyên.
Trương Huyên vẽ người, thích vẽ người đầy đặn, mập hơn thực tế một chút. Còn phong cách của vị họa sư này thì tả thực hơn, tiên tử dưới ngòi bút đều là mặt trái xoan.
Tiết Bạch quả thực không giỏi xem tranh, tuy có thể giám thưởng được bích họa này cực hảo, khí vận hùng tráng, bút tích lỗi lạc, mảng lớn vung vẩy tùy ý, chi tiết lại vô cùng dày đặc. Nhưng muốn dựa vào đó nhận ra là vị họa sư nào, thì e là không thể.
May mà, hắn từng theo Nhan Chân Khanh học thư pháp, mà trên vách này cũng có đề tựa, ghi lại ngày tháng vẽ tranh “Mạnh thu năm Tân Mão”.
“Gia sư từng được Trương Húc Trương trường sử chân truyền bút phong thập nhị ý, có chỗ tương đồng với chữ này.” Tiết Bạch chậm rãi nói: “Ta cũng từng xem Công Tôn đại nương múa kiếm…”
Hắn chỉ vào dải áo của tiên nhân trong tranh, tiếp tục nói: “Trong bức tranh này, tay áo tiên nhân bay bổng, có động thế múa theo gió, phiêu dật mà dứt khoát, phảng phất như kiếm vũ, có lẽ chính là ‘Ngô đới đương phong’ danh dương thiên hạ.”
Trương Huyên nghe vậy, vuốt râu cười lớn.
Tiết Bạch chấp lễ hỏi: “Vãn bối đoán trúng rồi?”
Hắn là thật sự không chắc chắn, cho nên nghiêm túc đặt câu hỏi.
Trương Huyên gật đầu, nói: “Thư pháp của Ngô Đạo Tử cũng là học từ Trương Húc, hắn còn có một vị lão sư khác, ngươi có biết là ai không?”
Tiết Bạch thực ra từng nghe nói việc này, thăm dò đáp: “Hạ giám.”
“Phải đó, Trương Điên, Hạ Giám đều là bậc thầy về Thảo thư, cũng đều là Ẩm Trung Bát Tiên, sống phóng khoáng chẳng chịu gò bó, chuyện trò thanh cao lại phong nhã, nên nét chữ cũng phóng túng lạ thường. Đúng là cái gọi ‘đẹp như tự nhiên sinh ra, người thường không làm nổi’. Mà Ngô Đạo Tử từ nhỏ cô khổ nghèo khó, nếm đủ mùi đời bạc bẽo, không viết ra được những nét chữ sơ lãng phiêu dật (bay bướm) như thế, đành phải chuyển sang học vẽ.”
Cũng chỉ có ở Thịnh Đường, mới có thể dễ dàng gặp được nhiều cự tượng có trình độ nghệ thuật cao siêu, lưu danh thiên cổ như vậy. Trong hang động nơi sơn dã xem một bức tranh liền có thể nhắc tới Trương Húc, Hạ Tri Chương, Công Tôn Đại Nương, Ngô Đạo Tử.
Đây là một thời đại quần tinh rực rỡ.
Trong lòng Tiết Bạch lại đang nghĩ đến âm mưu và quyền đấu, thầm tính toán xem liệu Trương Huyên có phải cố ý nhắc đến Hạ Tri Chương hay không.
“Nhắc đến Hạ giám, vãn bối tới đây, là có một việc muốn hỏi Trương công.”
“Hỏi đi.” Trương Huyên ngồi xuống bên đống lửa, nhận lấy một xiên thịt dê nướng, ngửi ngửi, than thở: “Răng miệng không tốt nữa rồi.”
Điêu Canh liền nhận lại xiên thịt, dùng dao găm cắt thành miếng nhỏ hơn.
Tiết Bạch hơi trầm ngâm, hỏi: “Dám hỏi Trương công, trước khi Tam Thứ Nhân án xảy ra, ngài có từng vẽ tranh cho Thái tử phi Tiết thị lúc bấy giờ không?”
Trương Huyên không bị dọa sợ, cầm đũa ăn thịt nướng, lẩm bẩm: “Đó hẳn là Khai Nguyên năm thứ hai mươi hai, ta đến Đông Cung, phụng mệnh vẽ tranh cho Thái tử phi.”
“Còn nhớ tình hình lúc đó thế nào?”
“Thái tử phi có hai đứa con, là đệ tam, đệ tứ tử của Thái tử.”
“Vậy, người được vẽ vào tranh là vị hoàng tôn nào?”
Đây đối với Tiết Bạch mà nói, là một vấn đề khá quan trọng, Trương Huyên trả lời lại rất trực tiếp, nói: “Đông Cung đệ tứ tử còn đang quấn tã lót, được nhũ nương bế đi cho bú rồi, nên không vào tranh, Điện hạ nói ‘đợi sang năm vẽ lại là được’ đáng tiếc, không còn sang năm nữa rồi.”
Tiết Bạch im lặng một lúc, hỏi: “Lý Thiến?”
“Lão phu không biết tên của hoàng tôn.”
“Với nhãn lực của Trương công, nếu như cách mười mấy năm gặp lại, còn có thể nhận ra vị hoàng tôn này không?”
Trương Huyên dừng động tác trên tay, chậm rãi lắc đầu, nói: “Tiết lang cớ sao lại cho rằng lão phu còn có thể nhận ra?”
“Họa sư thường quan sát tỉ mỉ nhất.”
“Nhưng Tiết lang chẳng lẽ không nhìn ra, bức tranh của Thái tử phi kia, không phải xuất phát từ thủ bút của lão phu?”
“Sao có thể?” Tiết Bạch nói: “Trên đề tựa rõ ràng lưu lại ấn của Trương công.”
“Thánh nhân mệnh lão phu đi vẽ tranh, đương nhiên lưu lại ấn của lão phu.” Trương Huyên nói: “Nhưng hôm đó lão phu uống với Điện hạ vài chén, có chút say, liền để người khác múa bút thay.”
“Trương công là đang đùa với vãn bối sao?”
“Việc này không giấu được đâu, nếu nhìn kỹ bức tranh đó với các tác phẩm khác của ta, kiểu gì cũng phân biệt được.”
Tiết Bạch hỏi: “Trên đời lại có người mô phỏng được tranh của Trương công?”
Trương Huyên nói: “Ngươi nếu ký thác hy vọng lão phu nhận diện đứa trẻ đó cho ngươi, thì chết cái tâm này đi thôi. Lão phu không lừa ngươi, là thật sự không nhận ra nữa rồi.”
“Vậy dám hỏi Trương công, năm đó là ai có họa kỹ cao siêu như vậy, thế mà mô phỏng được bút mực của Trương công.”
“Những gì ngươi hỏi, lão phu đều trả lời dứt khoát.” Trương Huyên nói: “Nếu còn muốn hỏi tiếp, chi bằng ngươi nói trước xem vì sao lại đến dò hỏi việc này?”
Tuy rằng Trương Huyên chỉ là một cung đình cung phụng, nhưng ở cung thành cả đời, chứng kiến quá nhiều âm mưu quỷ kế, tự nhiên bụng dạ cũng trở nên kín kẽ, khó lường.
Tiết Bạch trầm mặc, chắp tay sau lưng đi tới cửa hang, nhìn đầy trời sao, suy tính.
Hắn hy vọng ngầm lợi dụng thân phận hoàng tôn để tích lũy thế lực, lại không muốn vì công khai quá sớm mà bị liên lụy, hoặc bị vạch trần, sự cân bằng trong đó không dễ nắm bắt. Càng ngày càng nhiều sự “thẳng thắn” tất nhiên sẽ mang lại càng ngày càng nhiều nguy hiểm, mà nguy hiểm lại tỷ lệ thuận với cơ hội.
“Ta tới, là muốn xem xem Trương công có thể nhận ra ta không.”
Tiết Bạch vẫn đưa ra quyết định, vừa nói, vừa xoay người lại, ngồi khoanh chân đối diện Trương Huyên, thẳng thắn nhìn thẳng vào mắt ông.
Trương Huyên kinh ngạc không thôi, ngơ ngác nhìn Tiết Bạch, nói: “Ý… ý gì?”
“Ta sinh năm Khai Nguyên thứ mười tám.” Tiết Bạch nhớ lại bát tự sinh thần của Bác Bình quận chúa từng nhìn thấy trên ngọc điệp hoàng gia, chậm rãi nói: “Năm Canh Ngọ, cầm tinh con ngựa, sinh tháng Đông (tháng 11 âm lịch) coi như đuôi ngựa, có một tỷ tỷ song sinh.”
Cái đĩa trong tay Trương Huyên rơi xuống đất, mà bản thân ông dường như không ý thức được.
Ông cứ ngẩn người ra như vậy, nhìn chằm chằm Tiết Bạch rất lâu, sau đó, ông dùng sức dụi đôi mắt già nua, dường như muốn cố gắng nhận diện.
Nhưng bức tranh năm đó thật sự không phải ông vẽ, lúc đó ông chỉ lo uống rượu, chưa từng nhìn kỹ đứa trẻ kia.
Ánh mắt Tiết Bạch kiên định, dường như đang nói cho Trương Huyên biết, không có ai lại đi mạo danh nhi tử của một nghịch tặc. Hắn là Trạng nguyên, Trung thư xá nhân, là người tâm phúc bên cạnh Thánh nhân và Quý phi, nếu như không phải thật, hắn không cần làm Lý Thiến.
Trong tình huống hiện tại, hắn không cần chứng cứ cũng có thể dùng rủi ro cực lớn khiến người khác tin tưởng thân thế do hắn thêu dệt.
Cuối cùng, Trương Huyên bỏ tay xuống.
Đôi mắt già nua của ông đã bị chính ông dụi cho đỏ hoe, sau đó, có giọt lệ đục ngầu chậm rãi chảy xuống.
“Lão hủ nghe nói, Lang quân bị lỡ tay đánh chết?”
“Không có.” Tiết Bạch nói: “Hạ giám và Trương tướng công đã bảo vệ ta.”
“Hạ giám hắn chưa từng nhắc tới việc này với ta và Ngô Đạo Tử.”
“Đó là lẽ đương nhiên.”
Trương Huyên vẫn không dám tin, nhưng không biết nên nghi ngờ từ đâu, lại nghĩ tới vị Thái tử đối đãi với ông có ơn năm xưa, tràn đầy tán thưởng gật gật đầu, nói: “Lang quân trổ mã thành nhất biểu nhân tài thế này, Điện hạ và Thái tử phi nhất định rất an lòng.”
“Ta thề phải bình oan chiêu tuyết cho Tam Thứ Nhân án.” Tiết Bạch nói: “Chỉ không biết đến lúc đó Trương công có thể xác thực thân phận cho ta hay không?”
Trương Huyên gật đầu liên tục, sau đó nói: “Bức tranh năm đó xác thực không phải do ta vẽ, mà là xuất phát từ đồ đệ của ta, Chu Phưởng.”
Tiết Bạch cười cười, nói: “Ta không nhớ nữa.”
“Lang quân lúc đó nhỏ như vậy, làm sao nhớ được? Đồ đệ kia của ta thiên tư hội họa siêu tuyệt, lúc đó tuy còn nhỏ tuổi, đã có thể mô phỏng được bảy thành họa kỹ của ta, hiện giờ càng là vượt qua ta rồi a.”
“Không biết hắn đang ở đâu?”
“Huynh trưởng hắn là Chu Hạo nhậm chức tướng ở Lũng Hữu, lập đại công trong trận chiến Thạch Bảo Thành, hiện giờ theo Ca Thư Hàn thu phục Cửu khúc Hoàng Hà. Chu Phưởng đầu năm đã đến Lũng Hữu thăm huynh trưởng rồi.”
“Lũng Hữu, Chu Phưởng.”
Tiết Bạch ghi nhớ việc này trong lòng, trầm ngâm nói: “Chỉ là, người đời cho rằng bức tranh kia xuất phát từ tay Trương công, năm đó người gặp ta cũng là Trương công. Đến lúc đó vẫn phải do Trương công ra mặt mới thỏa đáng.”
Trương Huyên lắc đầu nói: “Lang quân bây giờ muốn lật lại bản án sao?”
“Thời cơ còn chưa tới.”
“Ta đã già yếu, sống không được bao lâu nữa, lại làm sao có thể làm chứng cho Lang quân?”
Tiết Bạch nhìn sang, chỉ thấy Trương Huyên già nua lọm khọm, đã có vẻ khô kiệt, biết ông nói không phải lời hư, khẽ thở dài.
Hắn không muốn ép bức một lão giả như vậy, may mà hắn muốn chứng minh thân phận, vẫn còn cách khác để nghĩ.
“Vậy thì ta vẽ cho Lang quân thêm một bức tranh nữa?” Trương Huyên chậm rãi nói, “Liền đặt tên là ‘Quý Công Tử Dạ Du Đồ’ thế nào?”
Tiết Bạch có chút ngạc nhiên vui mừng, hành lễ nói: “Đa tạ Trương công.”
“Mời Lang quân ngồi, để ta nhìn kỹ.”
…
Ngồi một cái là đến tận trời sáng, mà Trương Huyên vẫn chưa có điệu bộ động bút, đôi mắt già nua của ông vằn đầy tia máu, nhưng vẫn nhìn chằm chằm Tiết Bạch, mãi đến khi khắc sâu khuôn mặt hắn vào trong não, lại bảo Tiết Bạch đi lại trước mặt ông.
Mãi đến giữa trưa, huynh đệ họ Điêu nấu mì nước, Trương Huyên lại không chịu ăn, mà trở lại tiểu lâu, mài mực pha màu, trải rộng trường quyển, vung bút hạ nét.
Cả đời ông đều vẽ tranh cho quyền quý, hiện giờ vẽ vẫn là quý công tử.
Nhưng khác biệt ở chỗ, giờ phút này, thứ Trương Huyên chú trọng muốn vẽ ra không phải là sự phú lệ đường hoàng của quá khứ, mà là sự kiên định giữa trán Tiết Bạch, quyết tâm bình oan chiêu tuyết đó, thậm chí là thứ gì đó rộng lớn hơn trong lòng hắn.
Ông từng vẽ Thánh nhân, còn vẽ rất nhiều lần, vẽ “Thánh Nhân Đấu Kê Xạ Điểu Đồ” “Thánh Nhân Nạp Lương Đồ” (hóng mát) “Thánh Nhân Kích Ngô Đồng Đồ” (gõ nhịp vào thân cây) Thánh nhân dưới ngòi bút của ông nổi bật sự tiêu sái, nhưng lại hiếm có cái khí thế… thỉ chí vu xã tắc (chí hướng đặt ở xã tắc) kia.
Hồi lâu, Trương Huyên vẽ xong cảnh vật và người, duy chỉ có đôi mắt người trong tranh vẫn chưa điểm lên.
Ông nhìn Tiết Bạch, đưa tay ra, tay cầm bút vẽ hơi run rẩy, từ từ hạ xuống.
~~
Một bức tranh dài được từ từ cuộn lại, dùng dây buộc chặt.
Trương Huyên trịnh trọng giao nó vào tay Tiết Bạch, nói: “Trên đề tựa có bút tích chứng thực của lão hủ, Lang quân trước khi có thể đảm bảo an toàn, vạn lần không thể tùy tiện cho người khác xem, nếu không ắt có họa sát thân.”
“Trương công yên tâm.”
“Lang quân mời về nhanh cho, Thất Tịch Thánh nhân chắc chắn sẽ bày ngự yến. Lang quân giờ mà vội vã trở về Ly Sơn, thì thời gian cũng vừa suýt soát.”
“Vãn bối sẽ phái người tới đón Trương công…”
“Lão hủ đã là tàn niên, khẩn cầu Lang quân để lão hủ hưởng chút tự tại cuối cùng nơi sơn dã này đi.”
Tiết Bạch hết cách, đành phải nói: “Vậy thì, ngày khác lại đến thăm.”
Trương Huyên mỉm cười tiễn đưa, đợi Tiết Bạch vừa đi, ông liền chán nản ngồi phịch xuống sập.
Chỉ có bản thân ông biết, hiện giờ vẽ thêm một bức tranh, phải tiêu hao bao nhiêu nguyên khí của ông.
Một mình nghỉ ngơi hơn nửa ngày, bỗng nghe dưới núi truyền đến tiếng động, Trương Huyên vịn tường ra khỏi hang động, nhìn xuống núi, lại thấy có người đang chậm rãi đi về phía này, đã ra khỏi rừng cây.
Ông nhận ra một người trong đó là Phụ Tốc Lâm.
Đều là người ở lâu trong cung, cũng coi như hiểu biết lẫn nhau. Trương Huyên biết Phụ Tốc Lâm mặt ngoài trung lương, thực chất tham bỉ, chuyến này tới e là đã phát giác ra điều gì.
Ông bèn chống gậy xoay người, gắng gượng chống đỡ thân xác già nua tàn tạ, bưng mực nước và đan thanh chưa dùng hết lên, tạt thẳng vào bức bích họa Ngô Đạo Tử để lại trên tường.
(Đan (Chu sa): Một loại khoáng vật màu đỏ tươi; Thanh (Thạch thanh/Thạch đại): Một loại khoáng vật màu xanh lam hoặc xanh lục)
Mực nước trong khoảnh khắc hủy hoại những bức tranh kia đến mức không còn ra hình thù gì.
Đốt đàn nấu hạc.
Thời không giao thoa, Tiết Bạch cũng từng vì bảo vệ người khác mà làm chuyện hủy hoại thư họa như thế này vậy…