Chương 240: Tham Lam
Nhân vật có tên trong chap:
1. Đao văn Trì: Cảnh Long Kim Điện quốc chủ/ Xa Lý tuyên úy sứ.
2. Cầm Sương: Chẩu Mường/ chúa Mường Thanh.
3. Phạ Xam Mứn: Chúa Mường Thanh trước khi họ Cầm chiếm được nơi này, đây không phải tên mà là danh hiệu, trong tiếng Thái có nghĩa là “người bền vững (hoặc có sức lực) bằng ba mươi (người đàn ông)”.
Lúc này ở phía tây thung lũng Mường Thanh.
Ngay bên bờ sông Nậm U, Đao văn Trì cưỡi trên lưng con voi lớn, ánh mắt đăm chiêu nhìn về phía mục tiêu cuối cùng trong chuyến chinh phạt của mình.
Những năm đó, sau khi bị người Hán đuổi đánh từ vùng đất rộng lớn màu mỡ ở Lĩnh Nam, người Thái cứ thế thiên di về phía tây và tây nam, đi mãi, đi mãi … tưởng như không bao giờ tìm được đường ra, cho đến khi thấy được chốn yên vui này.
Trong mắt đám người Thái chạy giặc, năm này qua năm khác băng qua từ quả đồi này đến ngọn núi nọ thì nơi đây chính là lòng thương vô ngần, là tịnh thổ họ hằng mong ước cũng là thần tích của thiên chủ ban cho con dân khốn khổ của thần.
Người Thái không ngại ngay tại chỗ vái lạy Thần Vương, gọi nơi đây là Mường Thanh, nghĩa là “xứ trời” hoặc hoa mỹ hơn là … “Thiên phủ chi quốc”.
Mảnh đất này màu mỡ như thế, đến mức họ Đao nhà hắn sau này đã chiếm được Chiềng Hung (Cảnh Hồng, thủ phủ của Xa Lý) có tới ba cái thung lũng không nhỏ hơn Mường Thanh nhưng mấy trăm năm vẫn thương nhớ miền tịnh thổ nảy.
Con voi của hắn từ trung quân lừng lững di chuyển dọc bờ sông tiến về phía tiền quân.
Hồng y quân của Cảnh Long Kim Điện quốc anh hùng đang dùng sắt và máu quét sạch những chướng ngại cuối cùng tiến vào trái tim của hết thảy người Thái.
Quân của hắn xuất chinh về phía đông từ cuối năm ngoái, đẩy từ bến Hun lên đến lũy Puổng Sai (nay là Pa Poung/ Lào) lại từ lũy Puổng Sai đẩy đến lũy Nàng Lương (nay là Pa Sá Lào/ Điện Biên).
Đập tan hết tuyến phòng thủ này đến lớp tường lũy khác, đầu năm nay quân của hắn đã tiến đến Prà Nậm (nay là Pa Nậm/ Điện Biên) đánh tan quân họ Cầm ở đây là có thể mở toang cánh cửa tiến vào Mường Thanh.
Prà Nậm, trong tiếng Thái có nghĩa là cửa sông, đây là một ngã ba sông nơi dòng Nậm Nưa hợp lưu với dòng Nậm Rốm.
Bờ nam ngã ba sông này có một bãi đất rộng chừng ba bốn dặm vuông, hai mặt tây và nam dựa núi, hai mặt đông và bắc nhìn ra sông, cũng là địa điểm hiểm trở cuối cùng trước khi tiến vào thung lũng Mường Thanh.
Vì vậy, quân Xa Lý chôn chân ở đây từ cuối tháng giêng đến giữa tháng hai vẫn không tiến thêm được bước nào.
Lần này động binh, ngoại trừ hai ngàn quân hộ vệ Chiềng Hung, Đao văn Trì đã đem theo tất cả những người hắn có thể điều động được ra trận.
Thân là nhất quốc chi chủ, dùng quân cả nước xâm nhập ngàn dặm đất địch vốn không phải là một quyết định sáng suốt, nhưng hắn không còn cách nào khác.
Đế quốc Đại Minh không phải cục đất, sau khi cùng người Mông Mao (Lộc Xuyên) và A Ngõa đánh thắng cuộc chiến với người Ngô, vương tộc ở Chiềng Hung cùng các mường trung thành tuy chiến thắng nhưng cũng phải trả giá bằng thiệt hại quá nặng nề.
Hiện tại, khắp Cảnh Long Kim Điện quốc lâm vào một trạng thái tường hòa quỷ dị, các mường có mâu thuẫn truyền kiếp với nhau không hẹn mà cùng gác lại mâu thuẫn.
Thằng ngu cũng nhìn ra tất cả bọn chúng đều đang chờ Đao văn Trì hắn giải tán Hồng y quân của Chiềng Hung.
Chỉ cần một ngày Chiềng Hung không còn duy trì số lượng lớn Hồng y quân, bọn chúng sẽ không hẹn mà cùng phát binh đến đánh, kiêu dũng thiện chiến như Đao văn Trì cũng không nhịn được tê rần cả da đầu.
Biết là như thế nhưng việc giải tán Hồng y quân là tất yếu.
Bản chất Hồng y quân là lực lượng động viên cấp thời chứ không phải quân nhân chuyên nghiệp, có nghĩa là chúng vẫn chưa thoát ly sản xuất. Khi có việc cần chinh chiến có thể trưng tập bọn chúng ba tháng, năm tháng hoặc lâu hơn nhưng rồi cũng sẽ phải giải tán cho chúng về bản mường, trở về cuộc sống bình thường mà canh tác.
Nếu trong xứ vô sự mà Chẩu Mường cố chấp duy trì Hồng y quân thì kết quả chỉ có một – binh biến. Một khi binh biến xảy ra, Đao văn Trì không dám tưởng tượng hậu quả.
Vậy nên lần này Đao văn Trì xua quân đông chinh không hoàn toàn vì nắm bắt được tin tức mà thương hội Vĩnh Xương rải ra.
Đúng! Mường Thanh rất hấp dẫn, đất tổ mà, chẳng qua hắn cũng đang cần chiến tranh.
Một cuộc chiến cho hắn một cái cớ duy trì Hồng y quân, một cuộc chiến trao cho hắn quyền trưng tập lực lượng của các mường ở xa, và hơn hết, một cuộc chiến giúp Chiềng Hung vượt qua nan quan trước mắt.
Vậy nên, ngay sau khi trở về Chiềng Hung, một mặt hắn cho các quân nghỉ ngơi hơn một tháng, mặt khác lại gửi thư, lấy cớ xuống chinh chiến ở tổ địa mà trưng tập Hồng y quân của tất cả các mường ở xa, những kẻ trong bụng ấp ủ tâm tư bất thiện.
Bọn phù nạm những mường này, dù trong bụng bất an nhưng đại nghĩa treo trên đầu, kẻ nào không nghe lệnh thì Chúa Thái có quyền đường đường chính chính hiệu triệu các mường vây diệt.
Bọn chúng, dù vạn lần không muốn vẫn phải trưng tập Hồng y quân nghe lệnh mà theo hầu Đao văn Trì đông chinh.
Chỉ không đến hai tháng sau khi khải hoàn trở về, Đao văn Trì hắn lại lần nữa đem Hồng y quân từ Mường Poung (nay thuộc huyện Mãnh Tịch/ Tây Song bản Nạp/ Vân Nam) men theo dòng Nậm Pấc (sông Nam Phak) xuôi xuống Nậm U tiến sang Siphoc ChauTai (mười sáu xứ Thái) mà không … theo cách gọi của xá Lạc Việt ở phía đông phải gọi là xứ Hưng Hóa mới đúng.
Xuống khỏi lưng voi, Đao văn Trì bệ vệ ngồi trên quả đồi đối diện lũy Prà Nậm, từ đây, hắn có thể bao quát toàn bộ tình hình chiến trận.
Nhìn quân các mường hết lớp này đến lớp khác tấn công lên tường lũy Prà Nậm rồi lại bị quân họ Cầm đẩy lùi, nét mặt Đao văn Trì không mảy may hiện lên chút nóng vội nào.
– Bẩm Chẩu Mường! Cầm Sương không bỏ trốn, quân Mường Thanh không tan rã, vẫn tiếp tục cố thủ ở lũy Prà Nậm, sáng nay quân ta đã công lên hai đợt, quân giặc trên lũy vẫn chưa núng thế chút nào!
Kẻ đang báo cáo là Cao Tử Dương, người Quế Lâm, Quảng Tây. Năm chính thống thứ 6 (1441) bị chinh chiêu theo quân của Vương Ký dẹp loạn Lộc Xuyên, lần đó tiền quân của người Ngô bị quân Mông Mao đánh cho tan tác, thằng này cũng lẫn vào trong đám tàn quân, không hiểu sao lại dạt xuống đô thành Chiềng Hung của Cảnh Long Kim Điện quốc.
Rốt cuộc trong bụng cũng có vài con chữ, Cao Tử Dương bèn giúp quý tộc người Thái xây chùa mà được tiến cử, được Đao văn Trì cho đi quản lý chợ phiên ở Chiềng Hung mà lập chút công trạng, vì thế rất được tông tộc họ Đao coi trọng, thậm chí còn có tin đồn có vị quý nhân Đao thị muốn gả con gái cho hắn, nếu thành việc hôn sự này địa vị của hắn ở Chiềng Hung lại càng hồng phát.
Cao Tử Dương lần này theo quân là muốn kiếm chút chiến công dắt hông. Người Thái sùng bái vũ lực, muốn trèo cao cửa nhà quý nhân không có chút quân công không được, vì mối hôn sự này, một thân nho sinh như hắn cũng giắt đầu lâu lên lưng quần ra trận.
Đao văn Trì không để ý đến thằng này, hơi nheo mắt tiếp tục chăm chút quan sát trận chiến trên tường lũy.
Lần này hắn chỉ đem theo sáu ngàn quân Chiềng Hung, hai phần ba trong số đó là Hồng y quân, chỉ có hai ngàn tinh binh thân tín. Phần còn lại của đại quân hơn hai vạn người là quân của các mường ở xa.
Từ Mường Vang, Mường Ten ở phía bắc, Mường Bang, Mường Him ở phía đông, đến mường Pa, Mường Té ở phía nam v.v.
Rặt một lò đều là những kẻ trong bụng ôm tâm tư bất chính.
Hơi nghiêng đầu, Đao văn Trì khẽ hỏi tả hữu.
– Tối qua A Luân có thực hiện kế hoạch dụ địch như đã bàn không?
Minh văn Phúc, phù nạm Mường Bang (nay là Dịch Võ Trấn/ h. Mãnh Lạp/ Tây Song Bản Nạp/ Vân Nam) trầm tiếng nói.
– Cầm Sương dường như không trúng kế của chúng ta, chỉ sai người cầm không đến một ngàn quân cướp trại thôi, ta vừa bắt vừa giết vừa trôi sông không quá bốn trăm, số còn lại bươi được sang bờ bên kia chạy mất, quân ta đuổi không kịp. Phải chi tảng sáng hôm nay đích thân Cầm Sương dẫn quân vượt sông cắn mồi thì còn có cơ hội mượn thế truy kích đánh thẳng lên tường lũy, đáng tiếc, thằng này quá cẩn thận rồi!
Cao Tử Dương phe phẩy quạt lông, bày ra một bộ truyền nhân của Gia Cát Lượng cười nhạt.
– Cầm Sương là phường chuột nhắt thôi! Theo tại hạ được biết, thằng này năm đó bị chú ruột đuổi ra khỏi Mường Thanh, trốn chui trốn nhủi, mãi đến khi chú hắn đầu bị lừa đá khiêu khích quyền uy của An Nam quốc vương, bị người Lạc xâu như ếch đem về dưới xuôi tế thái miếu Cầm Sương mới dám lần mò trở về Mường Thanh lấy lại quyền lực. Vừa lên vị trí Chẩu Mường đã xuống nước thỏa hiệp với phù nạm các mường trước kia bị cha chú hắn khuất phục. Loại người này âm hiểm mà nhát gan, đối mặt với đại quân Cảnh Long ta dù có thấy cơ hội mười mươi hẳn là cũng không dám mạo hiểm. Ta bày ra kế đó khác chi liếc mắt đưa tình với người mù cơ chứ!
Minh văn Đức khó chịu thằng chó Ngô này lâu rồi, hừ một tiếng chửi thẳng.
– Mày thì biết gì về chuyện chinh chiến? Đứng dưới góc độ người cầm quân, hành động của Cầm Sương mới là chính xác, có thể ung dung thủ thắng mà lại cầu thắng trong chỗ hiểm là hành vi của loại văn nhân cả đời chưa giết qua con gà nhép mà thôi. Về việc trì hạ, kẻ này vừa lên làm Chẩu Mường một mặt thì ôn dưỡng lực lượng, mặt khác thì xoa dịu chư hầu, chỉ dùng vài ba năm mà dọn dẹp được mớ hỗn độn cha chú để lại, há lại là loại hủ nho như mày có thể lạm bàn?
Phù nạm Mường Pa (nay là thị trấn Mãnh Phủng/ h. Mãnh Tịch/ Tây Song Bản Nạp/ Vân Nam) – Long Dụ thấy bầu không khí hơi căng thẳng, đánh trống lảng chắp tay với Đao văn Trì.
– Chẩu Mường, Cầm Sương quyết tâm dựa lũy tử thủ không ra, chúng ta nên làm thế nào?
Đao văn Trì ý vị thâm trường nói.
– Có một điều a Đức nói đúng nhưng chưa đủ!
Minh văn Đức khom lưng vái.
– Xin Chẩu Mường dạy ta!
– Cầm Sương tuy cũng coi là nhanh nhẹn tháo vát, biết tiến thối đấy. Chẳng qua mớ hỗn độn cha chú hắn để lại quá khổng lồ, không phải vài ba năm có thể chải vuốt êm xuôi hết được. Siphoc ChauTai (mười sáu xứ Thái) tuy lớn, vét hết sức cũng được ba bốn vạn người có thể cầm vũ khí nhưng đồng khí liên chi với Mường Thanh lại được mấy nhà? Trải qua cuộc chiến với triều đình người Lạc, tổn thất của các mường phìa, mường luông sao mà lớn lao …
Nói đến đây, hắn chợt nở nụ cười nhợt nhạt.
– Đối mặt với thiệt hại to lớn cả về người và của, tâm tư của đám quan khun, phù nạm sao mà hỗn loạn. Trước mắt tình thế như vậy, thử hỏi Mường Thanh có thể dựa lưng vào đâu? Không có quân tiếp viện đáng kể, Mường Thanh lại có thể đấu trí đấu dũng với chúng ta đến lúc nào?
Long Dụ nghe thế hơi kích động, hắn vốn là họ hàng xa của Phạ Xam Mứn – Long Triệu, nếu chiếm công đầu chinh chiến Mường Thanh có thể danh chính ngôn thuận sử dụng danh nghĩa người kế thừa đại nhân Long Triệu mà xin ăn lộc chí ít một phần năm cái thung lũng này, thuận lợi hơn nữa có thể mơ đến một phần ba.
Nghĩ đến đây hắn liền quỳ một gối xuống, thống thiết nói.
– Quân Mường Pa xưa nay chưa bao giờ lẩn trốn chiến chinh, trận công thành chiến này xin Chẩu Mường để cho chúng ta được đổ máu vì đại nghiệp tộc ta!
Bọn phù nạm các mường khác sao lại có thể để Mường Pa cướp miếng bánh này một mình được.
Không may, mà không … may mắn mà quân Mường Pa thực sự phá được lũy Prà Nậm thì đến hồi chia của bọn hắn sao có ý tứ mở miệng chứ!
Đồng loạt quỳ một chân xin chiến.
Đao văn Trì thấy bọn này tích cực như thế, khóe miệng hơi nhếch, xua tay nói.
– Mường Pa cùng Mường Bang chủ công, các mường khác hết sức hỗ trợ, quân của ai lên được tường lũy trước tiên thưởng một phần mười Mường Thanh, quân của ai phá được lũy này thưởng ba phần mười!
Long Dụ cùng Minh văn Phúc bốn mắt nhìn nhau, đều thấy trong mắt đối phương hừng hực ngọn lửa gọi là … tham lam!