Chương 217: Tết Đến 1
Trời đất – hoặc ít nhất là trời đất Đại Việt ở cái thời đại này có bốn mùa xuân – hạ – thu – đông.
Xuân là mùa vạn vật nảy nở, hoa cỏ nhẹ nhàng đung đưa trong gió đua nhau khoe sắc, én về đầy trời chao liệng giữa trời tíu tít náo nhiệt.
Hạ là mùa phát triển ào ạt mà cuồng nhiệt, phượng đỏ rừng rực nhiệt tình đón nắng gắt, con chào mào ưỡn ngực tự đắc tắm rửa giữa cơn mưa rào.
Thu là mùa ngưng đọng thu hoạch, những chùm quả trĩu nặng vung vẩy trên cành cây mời gọi chim thú giúp mình rải rác mầm sống, chim thú cũng thuận thế mà tranh thủ tích trữ năng lượng trước khi mùa đông lạnh lẽo nghèo nàn sắp đến.
Đông là mùa ngơi nghỉ của sinh linh, của mưa thâm rả rích cả ngày đêm, khiến từng tán cây chán nản trụi lá, từng đàn chim tất tả kéo nhau di cư, ngóng chờ mùa xuân trở lại.
Tự xa xưa loài người cũng tuân theo chu trình hoạt động như vậy, việc canh tác nông nghiệp chú trọng xuân gieo trồng, hạ chăm sóc, thu ngắt hái, đông nghỉ ngơi.
Tết Hạ Nguyên hay Lễ Cơm Mới thường được tổ chức vào tầm giữa tháng mười âm lịch – ngay sau mùa thu hoạch – là vì lẽ ấy.
Ấy là truyền thống từ thời đại xa xưa có trình độ canh tác yếu kém, mỗi năm chỉ trồng được một vụ.
Thời thế đổi thay, bây giờ ngay cả ở xứ ôn đới như Đại Minh cũng có thể dễ dàng trồng được hai vụ lúa mỗi năm, xứ nhiệt đới gió mùa như Đại Việt càng không cần nói.
Điều này khiến con người dần dần không cần phải tuân theo cái quy luật chết tiệt của đất trời nữa.
Đông thì sao? Mọi người vẫn tranh thủ gieo cấy lúa Chiêm xuân, đặng tháng năm năm sau còn thu hoạch thêm một vụ.
Người thường đã thế, những kẻ đã cơ bản không phải nhìn sắc mặt lão tặc th … à nhầm, là hạo thiên … những kẻ cơ bản không phải nhìn sắc mặt hạo thiên kiếm cơm nữa như dân trấn Cẩm Giang lại càng càn quấy.
Vụ Mùa vừa rồi chúng khinh thường trồng lúa mà quay ra làm một vụ màu, một vụ rau, thu hoạch rất khá.
Chẳng qua chúng lấm lét mỗi hai năm mới dám làm trò đó một lần nên hạo thiên cũng chỉ có thể mắt nhắm mắt mở, đến khi chúng lần nữa cấy lúa Chiêm xuân thì cực kỳ nể mặt cho mười mấy ngày liền nhiệt độ tương đối ôn hòa, không có rét đậm rét hại gì, cùng với đó lại tiện tay vãi cho mấy trận mưa tương đối đẫm, vừa đủ ngập chân lúa, nông dân không cần phải dẫn quá nhiều nước vào ruộng.
Ngoại trừ mấy nhà cẩn thận tát bớt nước trong ruộng ra thì phần lớn nông hộ chẳng lao lực mấy nữa, vì ai nấy đều tất bật chuẩn bị cúng táo quân, hôm nay đã là hăm ba tết.
Trải qua mấy ngày mưa đẫm mấy ngày trời dường như cũng chưa làm vơi bớt lượng hơi nước trong không khí, mấy ngày nay sáng nào cũng tạo thành sương mù khiến người ta chẳng thấy gì ngoài một trượng.
Nếu là Lê Ý ở đây thì nó sẽ rất sẵn lòng phổ cập tri thức cho mọi người biết cái mùa đông rét mướt chết tiệt này là do gió mùa đông bắc được các rãnh hút gió ở miền núi phía bắc dẫn vào Đại Việt mang theo lượng lớn hơi ẩm tạo thành.
Nói đùa cái gì! Tiểu hầu gia nhà chúng ta thi vào ĐH KHXH Nhân văn thừa tới mười mấy điểm không phải là hư danh.
Lớp sương mù này là biểu hiện của việc hôm nay vẫn là một ngày trời đông trong vắt, đúng là khí trời cũng thuận theo giúp người ta thụ hưởng tâm tình tốt đẹp.
Từng bóng dáng vai u thịt bắp khóe miệng mang cười, vẻ mặt ngóng đợi đứng xếp hàng trước mấy chiếc lán nhỏ được dựng ngay trong bãi đất trống bên cạnh Hầu phủ, chờ đợi phòng tài vụ thương hội Vĩnh Xương gọi tên mình.
Tất cả bọn họ đều là công nhân trong công xưởng Vĩnh Xương cả, hôm nay bắt đầu được nghỉ tết Nguyên Đán hơn hai mươi ngày liền cuốc bộ bốn năm dặm lên thành Cẩm Giang quyết toán lương thưởng cuối năm.
Từ bốn năm năm nay, năm nào bọn họ cũng được cho nghỉ độ trên dưới hai chục ngày về tụ họp với gia đình cả.
Không những cho nghỉ, công xưởng Vĩnh Xương còn thưởng tết, gọi là “lương tháng mười ba”.
Những điều này, khi còn làm ở cục bách tác của triều đình bọn họ này chưa bao giờ dám mơ tới.
Lão già khó tính phòng tài vụ bình thường khắt khe soi mói từng công hôm nay cũng hiếm hoi có một ngày cực kỳ hòa đồng với mọi người.
Ai đến lĩnh lương thưởng lão cũng tươi cười đưa tiền cực kỳ dứt khoát, lại sai người cắt cho một cân rưỡi thịt lợn muối cùng một ống tre rượu nếp đem về, đây là phần thưởng riêng của Hầu gia.
Bọn công nhân mười người như một đều khẳng định thái độ của lão cứ đến ngày phát thưởng tết mỗi năm lại chuyển biến là nhờ vị quý nhân đang ngồi trong khu lều trướng đằng kia.
Mỗi người lĩnh lương thưởng đi ra đều chắp tay vái về phía khu lều trướng sặc sỡ đó một cái cực kỳ kính cẩn, ngoại trừ sang năm chăm chỉ hơn nữa, tỉ mỉ hơn nữa ra thì đây là cách duy nhất bọn họ có thể làm để bày tỏ lòng cảm kích với vị quý nhân này.
Bà Vân ra dáng chủ mẫu một thành, ung dung mà cao quý ngồi lần tràng hạt, bên ngoài khoác một chiếc áo choàng cổ may lông chồn đen óng năm kia Lê Ý đi Đại Hòa mua về, nghe đâu là hàng Liêu Đông hay Cao Ly gì đấy, là thượng hạng trong thượng hạng.
Đúng ra dùng lông hồ ly trắng sẽ càng lộ vẻ quyền quý bức người hơn nữa, hiềm một nỗi con cháu họ Lê cực kỳ tôn kính hồ ly, nghe đâu năm đó Thái Tổ dấy nghĩa được Bạch Hồ Thần nữ (1) tương trợ cho nên có điều kiêng kỵ.
Chung quanh bà Vân là đám nha hoàn phó dịch hầu phủ, ra vẻ nanh vuốt đầy đủ, dưới chân có mỹ tỳ ngồi quỳ bóp chân, cực kỳ vênh vang đắc ý.
Cách một lớp vải sa mỏng, bà Vân hài lòng tiếp nhận từng tên công nhân mang theo khuôn mặt tươi roi rói vái tạ mình.
Phạm Vân cực kỳ thụ hưởng loại cảnh tượng này, tựa như thường ngày tưới cây cho hoa vậy!
Những năm còn ở Lôi Dương, bà Vân có thể ngồi cả ngày ngồi xem từng xe lương thực đi vào kho lương nhà mình, loại hình ảnh đấy đem lại một cảm giác an toàn gần như ngưng thực đập thẳng vào mắt.
Cũng vì thế mà Phạm Vân đối xử với đám tá điền đến nộp tô rất tốt, cứ đến ngày nộp tô là lại sai người chuẩn bị một ít bánh nướng, rượu gạo làm lộc rơi lộc vãi, phần quà tuy nhỏ nhưng tấm lòng lớn không ngoài như vậy.
Mấy năm sau đám tá điền mắm môi mang nhà mang người đi theo lệnh Lê Khôi vào huyện Lạc Thủy khai hoang, chấp nhận khó khăn vất vả xây thôn dựng làng chung quanh thành Cẩm Giang một phần không nhỏ là ở mấy cái bánh nướng không đáng tiền của bà Vân.
Từ khi chuyển đến Cẩm Giang, ngay năm đầu tiên Lê Khôi không biết nghe lời ai cho rằng đám tá điền theo mình chuyển nhà đi xa khó khăn thiếu thốn, liền ra lệnh sáu năm tới thu một nửa tô, lại nói số ruộng còn lại đều là ruộng của thân binh của lão, vuốt trán ra lệnh mười năm liền không thu một đồng tiền lệ nào!
Bà Vân tưởng như mình sắp phát rồ! Tuy nhiên nhìn đám tá điền khăn gói theo nhà mình đi khai hoang dựng lán trại tản mát xa xa bên ngoài thành trấn bà lại phải miễn cưỡng nén xuống.
Bà biết, miễn cưỡng thu tô hai ba phần mười thu hoạch lên đám tá điền này nghĩa là ép chúng vào chỗ chết.
Đến tận hôm nay – năm sáu năm sau ngày bắt đầu khai hoang – làng mạc, thôn xóm của đám tá điền mới gọi là tương đối tươm tất, đời sống mới tạm gọi là tương đối no đủ mà thôi.
So sánh với đời sống hơn nghìn quân hộ trong thành tuy không nói là trên trời dưới đất nhưng vẫn còn có điều thiếu thốn, đám thân binh của Lê Khôi thi thoảng có thể thay phiên đi làm hộ vệ thương hội kiếm thêm chút đỉnh, không thể so sánh được.
Vì lẽ ấy, năm đó dù muốn hay không Phạm Vân cũng phải chấp nhận tạm thời từ bỏ thú vui cao nhã – ngồi nhìn người ta chuyển thóc vào kho.
Đối với loại địa chủ từ trong trứng như bà Vân, đây là tra tấn tâm lý tàn khốc đến mức nào kia chứ!
Vì chuyện này mà Phạm Vân buồn rười rượi không thiết ăn uống mất mấy ngày, thằng quý tử thấy mẹ buồn, liền chui vào lòng mẹ nói:
“Từ nay đám công nhân này sẽ là mỏ vàng của nhà ta, nâng cao đời sống của chúng một cách vừa đủ chính là đảm bảo cái mỏ vàng này không bao giờ cạn!”
Bà Vân chỉ cười yếu ớt xoa đầu con, cái gì mà mỏ vàng không bao giờ cạn kia chứ?
Không trách bà Vân được, thời đại này người ta vẫn coi nông canh mới là gốc rễ của quốc gia.
Tư tưởng này với người Lạc Việt lại càng nặng nề, những chuyện buôn bán từng bị coi là không chính đáng, thi thoảng vẫn có ngự sử công khai chỉ trích nặng nề!
Thế nên bà Vân không coi lời Lê Ý là đúng, chẳng qua con nhỏ nhà mình biết thay bố đang xa nhà an ủi mẹ, trong lòng cũng rất vui vẻ!
Ấy vậy mà đến cuối năm đó chia lãi của thương hội Vĩnh Xương, số tiền bà Vân chính tay đếm đem về nhà đủ mua số lúa gấp hai nguồn thu từ tô hằng năm, bà Vân liền biết hóa ra hôm đó thằng con mình nó nói thật.
Từ đó, bà liền đối xử với đám công nhân như là tá điền đến nộp tô vào kho hằng năm vậy, năm thì bánh trái, năm thì thịt rượu.
Nói không ngoa, kẻ nào gây khó dễ cho đám công nhân chính là kẻ thù không đội trời chung với chủ mẫu thành Cẩm Giang.
Cứ dăm bữa nửa tháng lại đích thân xuống công xưởng kiểm tra, muốn đảm bảo mấy cái mỏ vàng biết đi này có được cuộc sống tốt – hoặc ít nhất là tốt hơn công tượng nhà người khác.
Những ngày lễ tết còn sai người dựng trướng bồng đích thân giám sát, coi trọng không lời nào tả hết được.
Nhờ vào đó dù cha con Lê Khôi, Lê Ý rặt một lò đều là phủi tay chưởng quỹ, công phu đem con bỏ chợ con so với bố còn thông thạo nhưng năm năm trời dưới công xưởng chưa nổi lên họa gì lớn.
Những công nhân đã biên nhận lương thưởng xong xuôi thì thích ý mượn thời tiết tốt lành hiếm có này dạo bước trên con đường bên lề lát đá xanh, lòng đường lót gạch đỏ, từng đôi chân thô ráp đưa chủ nhân mình dạo khắp thành Cẩm Giang.
Có người xuyên qua từng con phố ồn ã thụ hưởng náo nhiệt ngày giáp tết, có người thản nhiên ngồi trong hàng ăn ven đường nào đấy chậm rãi nhấm nháp từng miếng bánh trôi nhân đỗ xanh dừa bào béo ngậy, có người tự đắc ngồi trong hàng nước túm năm tụm ba nói chuyện rôm rả v.v.
Số khác thì tranh thủ dạo quanh một vòng hàng quán, mua một ít quà bánh cho con nhỏ, vải vóc cho vợ hiền, rượu ngon vôi tốt cho cha mẹ già v.v. Đặc biệt là ai cũng mua dao rựa, nông cụ.
Sắt ở Cẩm Giang rất rẻ, sự thực này dẫn đến nghề sắt ở nơi này đặc biệt phồn vinh, tòa thành này đếm đi đếm lại cũng chỉ có hơn ngàn hộ nhưng có đến hơn hai mươi tiệm đồ sắt, mỗi tiệm đều có mười mấy thợ sắt ngày đêm đoán tạo.
Nguyên liệu rẻ, nhân công sẵn có khiến cho đồ gia dụng, nông cụ ở đây chất lượng không chỉ tốt hơn mà giá thành cũng chỉ có giá bằng một nửa, thậm chí một phần ba ở Kinh Lộ.
Mua đồ gia dụng, nông cụ Cẩm Giang về quê không dùng cũng có thể bán sang tay cho họ hàng, chòm xóm. Người đi xa về mua đồ tốt mà, vừa kiếm được một món lợi nhỏ, vừa thắt chặt tình làng nghĩa xóm.
Mỗi lần lưng gánh nách kẹp quà bánh, đồ gia dụng nghênh ngang về nhà đứng giữa vòng tay chào đón của gia đình, làng xóm là trong lòng bọn họ đều nổi lên một loại tâm tình khó tả.
Bên bến tàu chen chúc đầy là những người đã mua bán xong xuôi nóng lòng lên thuyền về nhà sớm.
Mỗi năm công xưởng đều cho bọn công nhân đi nhờ thuyền chở hàng về quê, bất kể nhà ở Kinh Lộ hay Hải Tây đều có thuyền chở về đến tận Trấn thành, Lộ thành.
Nói đùa cái gì, ở thị trường trong nước, thương hội Vĩnh Xương có cửa hàng đến tận cấp huyện, không lớn thì nhỏ đều phải có một cái.
Đây là ý của Lê Nguyên Long, Lê Ý đồ là năm đó tên này cảm thấy Nhập nội Kiểm sát ty là chưa đủ, có âm mưu biến mấy cửa hàng này thành xúc tu của Hoàng Đế thám thính tình hình cả nước.
Cứ nhìn thái độ của tên này đối với huân quý ngay sau khi hệ thống cửa hàng cấp huyện vừa kiện toàn là biết, Lê Nguyên long hẳn là tự tin chỉ cần gió thổi cỏ lay hay có đứa nào phất cờ làm loạn gì hắn đều nắm rõ.
Chỉ là hắn không tính được là người ta chưa động binh thì hắn đã chết trên bụng đàn bà.
Ô nhục!
Quay lại chuyện đưa đón đám công nhân, thuyền đưa chúng về đến tận lộ, trấn rồi sẽ quay đầu về, ăn tết xong xuôi cứ đến mười hai tháng giêng hằng năm thương hội lại cho thuyền đến đúng chỗ cũ đón chúng trở lại.
Cái gì? Thương hội có sợ bọn chúng một đi không trở lại nữa không á?
Trò cười!
Khắp Đại Việt này nơi nào có thể cung cấp môi trường làm việc, điều kiện lương thưởng tốt hơn công xưởng Vĩnh Xương?
Còn các nhà khác lén lút đào chân tường ư?
Ha hả! … đừng chọc cười người ta một cách thô thiển như thế!
Tin rằng với mức độ cởi mở của Lê Khôi cùng Trịnh Khả đối với đám gián điệp của mấy nhà đó.
Ngoại trừ những bí mật ở mức độ cao về công nghệ, những thứ khác – giả như hệ thống sản xuất, hệ thống quản lý, mô hình công nhân – công xưởng Vĩnh Xương đều để cho họ tham khảo thỏa mái.
Chả lẽ lại có kẻ phát rồ đến mức tuyên chiến công khai với Hoàng gia tông tộc cùng gần hai mươi nhà huân quý hùng mạnh khác như vậy!
Tin rằng trên đời này không có kẻ thiểu năng đến mức đó lại có thể sống qua ba chương trên triều đường Lê Sơ tanh máu này.
– Đến rồi, thuyền lớn đến rồi!
Không biết là ai tinh mắt nhanh mồm hét lớn, gần ngàn tên công nhân bên bến sông ai nấy vội vàng kiểm tra, gói ghém đồ đạc lên thuyền về nhà ăn tết.
Chú thích:
(1) Hồ Ly Phu nhân (狐狸夫人) hay Bạch Hồ Thần nữ(白狐神女) là một nữ thần hộ quốc nhà Lê.
Tương truyền năm đó Thái Tổ mới dấy nghĩa, quân yếu lương ít nhiều phen thất thế thua chạy.
Một lần vua chạy giặc, đương không biết trốn đường nào thì thấy xác một cô gái chết ven đường. Nhà vua lấy gươm đào mộ chôn xác cô gái và cầu khấn linh hồn người chết phù hộ cho mình tai qua nạn khỏi.
Vừa khấn xong thì giặc tràn tới, nhà vua thấy một cái thân cây rỗng bèn nấp vào đó.
Chó săn của giặc ngửi thấy mùi đứng trước thân cây ấy sủa inh ỏi. Giặc nghi ngờ bèn phóng giáo đâm xuyên thân cây trúng đùi vua, vua nhanh trí nhịn đau lấy áo lau vết máu trên mũi giáo. Giặc định phóng giáo vào nữa thì thình lình có một con cáo trắng từ sau gốc cây phóng ra, đàn chó cứ thế đuổi theo con cáo và sủa ầm ý.
Giặc cho rằng chó theo mùi cáo không ngờ có người nấp trong thân cây nữa.
Nhà vua thoát nạn cho rằng linh hồn người con gái ấy hiển linh hóa thành con cáo trắng cứu mình bèn đến mộ vái lạy tạ ơn.
Ngày sau đánh tan giặc lên ngôi vua, nhớ ơn cũ vua sắc phong bà là Hồ Ly phu nhân, hay Bạch hồ thần nữ.
Ảnh nền của truyện tác cũng lấy cảm hứng từ câu chuyện này, mô tả một con cáo (đại diện cho Lê Ý – con cháu nhà Lê) được Bạch Hồ Thần nữ nâng đỡ, che chở. Còn cái bóng con cáo già ở phía sau kia … đương nhiên là đại diện cho anh linh Thái Tổ Cao Hoàng Đế – Lê Lợi.