Chương 215: Phóng Khoáng
Hưng Hóa.
Xa xa về phía tây thành Đông Kinh, trong đại doanh Bài Mộc (nay thuộc Tân Mai/ Mai Châu/ Hòa Bình) cũng đang có một thanh niên ngửa mặt lên trời rên rỉ.
– Lỗ rồi! Sớm biết bọn chúng phế vật như vậy ta nên kéo quân đến Mường Muổi gây áp lực một thời gian, biết đâu còn có thể ép chúng nhân nhượng thêm chút nữa!
Quân tây chinh của Lê Ê đã trở về cái thành trấn ven sông này được bốn năm ngày rồi.
Không giống như Mường La cách trạm hậu cần cấp một đến năm trăm dặm đường núi, Bài Mộc nằm ngay bên cạnh Đà Giang, thuyền tải lương từ Đông Kinh có thể vận chuyển quân nhu lên tiếp tế cho đại quân một cách dễ dàng mà tiết kiệm.
Vì vậy đại quân không cần quá nhiều phu phen theo hầu, đám dân phu theo quân đã được cho lên thuyền về xuôi quá nửa.
Tiết kiệm được lương thực nuôi dân phu cùng khấu hao dọc đường, quân nhu của đại quân đủ để Lê Ê thỏa mái hiện diện ở cái thành trấn cửa ngõ Hưng Hóa này đến hết tháng giêng năm sau.
Lê Ê ngồi gác chân lên chõng tre, vừa gặm chân ba ba vừa khinh bỉ nhìn Lê Thọ Vực.
– Không phóng khoáng! Đại trượng phu ở trên đời này lời nói phải chắc như đinh đóng cột, ai dạy mi thói đàn bà tiếc rẻ như thế?
Nói rồi lại liếc qua Lê Niệm đang thất thần nhìn ra ngoài, quan tâm hỏi.
– Niệm! Ăn đi chứ, ngồi thất thần làm gì?
Lê Niệm thán nhẹ một tiếng, rầu rĩ nói.
– Bác Khôi, bác Khả mới gửi thư đến chửi cháu không kịp vuốt mặt, trách cứ chuyện cháu dẫn quân tràn vào lũy Chiềng Đông là đưa thân vào nơi nguy hiểm, còn nói không đồng ý cho cháu sang năm theo ông Khuyển vào Thuận Hóa đánh người Chiêm. Cháu không được xuất chinh thì quân Phủng Thánh lại phải giao cho ông Tú, sầu chết mất!
Lê Ê không có vẻ gì là bất ngờ với quyết định này của mấy tên vô sỉ trong thành Đông Kinh, cười nói.
– Coi như mấy thằng đó có chút xíu tinh thần trách nhiệm. Lão già ta đồ là lần này về Đông Kinh bọn hắn sẽ ngay lập tức cưới cho mi ba bốn phòng tiểu thiếp. Ha hả … Ta đoán chừng là mi chưa đẻ được cho gia tộc dăm bảy đứa nhi tử, khiến dòng giống Toàn nghĩa Hầu phủ (tước hiệu của Lê Lai) con đàn cháu đống thì bọn hắn không thả mi ra chiến trường đâu!
Lê Niệm bực dọc nghiến răng nghiến lợi nói.
– Vậy thì hôm nay nạp thiếp, sang năm sinh con!
Đỗ Lam cực kỳ phá phong cảnh, ra vẻ ngạc nhiên chen lời vào nói.
– Mi định hạ thủ với con bé người Thái trong quân của mi á? Nó mới độ mười ba mười bốn tuổi, nhỏ thế mà mi cũng hạ thủ được à!
Lê Niệm vô lực chống chế.
– Mười lăm tuổi chín tháng, gần mười sáu rồi, chẳng qua thiếu dinh dưỡng nên trông hơi gầy thôi!
Lê Thọ Vực cười rất đểu, đồng tâm hiệp lực với Đỗ Lam.
– Kể cả đã mười sáu, với vóc dáng nhỏ gầy đó có thể sinh con được không? Mi không sợ vượt cạn không thành một xác hai mạng à! Lại nói, tình hình này tầm tháng năm tháng sáu năm sau là người Chiêm giong thuyền ra đánh Thuận Hóa rồi. Kể cả mi có khiến con bé đó mang thai đi chăng nữa thì cũng phải mười tháng sau mới sinh, chí ít cũng phải chờ đến tháng chín năm sau chú Khôi mới để mi ra trận, đến lúc đó cơm thiu trà lạnh còn đánh nhau cóc khô ý. Dẹp cái ý tưởng ngu xuẩn ấy đi!
Lê Ê lúc này vẻ mặt dầu mỡ chen vào.
– Tháng mười hai năm trước hành phòng sự tháng năm năm sau sinh con cũng không phải là không thể!
Lê Niệm như vớ được cọng rơm cứu mạng, khẩn thiết níu lấy.
– Lời ông Ê nói là thật chứ?
Lê Ê cười khằng khặc.
– Thật! Chẳng qua đứa trẻ sinh ra không phải con của mi mà thôi, há há …
Bọn Lê Thọ Vực, Đỗ Lam bảy tám người ngồi chung quanh nghe thế không kiêng kể gì cả cười ngặt nghẽo.
Ỉu xìu xuống, Lê Niệm chán nản cầm bình tông lên nốc một ngụm rượu rõ to, chỉ hận thời gian không thể tăng tốc gấp năm gấp mười, để hắn có thể thỏa mái vùng vẫy, không còn bị bọn chú bác kèm cặp nữa.
Thanh thiếu niên luôn luôn hy vọng bản thân mình có thể lớn lên nhanh hơn nữa. Trong tâm linh non nớt của chúng, thế giới của người trưởng thành luôn thú vị mà nhiều màu sắc hơn thế giới của bọn hắn nhiều.
Ngược lại, người trưởng thành bị xã hội đánh đập đủ rồi luôn hy vọng dòng thời gian có thể chảy ngược. Nếu có thể, bọn hắn còn thầm ước mình vĩnh viễn sống trong cái thời niên thiếu vô lo vô nghĩ.
Để cho thanh thuần, tươi mát của tuổi trẻ tưới nhuần tâm linh đã sai sần, sứt sẹo của bản thân.
Trung thực mà nói, nhân sinh – hay nói đúng hơn là nửa trước của nhân sinh – là một quá trình viết đầy một cuốn nhật ký.
Làm một việc, đi đến một nơi, nói một câu nói đều là viết thêm một vài chữ vào đó.
Theo đó mà xét, nửa đời người – bất kể tốt xấu, sang hèn, vinh nhục v.v. từ đầu đến đuôi chẳng qua là cố gắng viết đầy cuốn nhật ký đó mà thôi.
Có những người lịch duyệt phong phú, trải nghiệm phồn đa sớm khiến cuốn nhật ký của mình đầy ắp kỷ niệm vui buồn, sướng khổ.
Người khác tâm tư đơn thuần, lịch duyệt mỏng manh thì sẽ chậm chân hơn một chút.
Sau khi cuốn nhật ký đó được lấp đầy thì sẽ cố định tính cách của một người. Không bàn tốt xấu, những dòng chữ lấp đầy cuốn nhật ký đó nó nghiễm nhiên trở thành cơ sở để định hình tam quan của chủ thể.
Tam quan đó lại dẫn dắt, rọi đường chỉ lối cho con người ta suốt quãng đời còn lại.
Đó là lý do có những đứa trẻ mới mười lăm mười sáu đã rất rõ ràng bản thân muốn gì và phải làm như thế nào để đạt được ước muốn, lại có những người đã ba bốn mươi tuổi vẫn bạ đâu hay đấy làm việc không có phương lược rõ ràng.
Chu Kỳ Trấn rõ ràng không phải loại người thứ nhất, hắn còn bé tí đã được bà nội chỉ định làm Hoàng Đế, thủ phụ lo liệu quốc sự trong ngoài, bà nội quán xuyến triều đình sau trước.
Vậy nên sau này bà nội hoăng thệ, ba vị thủ phụ họ Dương lui về sau màn, hắn tuy có lòng muốn làm một đời minh quân nhưng không biết phải bắt đầu từ đâu.
Cuối cùng chỉ có cách mắt nhắm mắt mở thả xích cho Vương Chấn cắn càn, cốt là muốn khiến cho đám thần tử lo sợ mà giải tán bè phái cũ.
Sau thì nửa úp nửa mở thể hiện muốn dung dưỡng bọn Trần Tuần, Bùi Huân v.v. mấy người làm thủ phụ tương lai, khiến cho đám văn thần vô thức mà tụ lại chung quanh những người hắn chọn.
Trung thực mà nói, hắn cũng đâu muốn làm khó thần tử của mình làm gì, chẳng qua năng lực có hạn, buộc phải dùng hạ sách này thôi.
Đến lúc quyền lực của thủ phụ do mình cất nhắc vững chắc rồi lại tiếc gì một tên gia nô thiến hoạn.
Nhếch mép cười ý vị, Chu Kỳ Trấn khẽ nói với không khí.
– Cho gọi Hành nhân ty Trình Cảnh vào!
– Vâng!
Vương Chấn trên trán có sẹo, ứng một tiếng rồi cung kính lui ra, một lát sau đã thấy một trung niên, khí thế chững chạc ổn thỏa bước vào cung Càn Thanh.
Kẻ này chính là Hành nhân ty Hành nhân – Trình Cảnh, tháng sáu vừa rồi Chu Kỳ Trấn sai hắn đi sứ An Nam, tiếng là sang làm lễ tế An Nam Quốc Vương thực tế là muốn dò xét xem tình hình An Nam thế nào đặng còn an tâm động binh ở mặt bắc.
Cách xa long ỷ một đoạn đã cung kính vái xướng.
– Thần, Trình Cảnh khấu kiến Bệ hạ! Ngô hoàng vạn tuế!
Chu Kỳ Trấn mới mười bảy tuổi nhưng khí thế hạo hãn, ngồi trên long ỷ không nói gì tự có một cỗ phong thái không giận mà uy, lão chu gia hắn từ Thái Tổ – Chu Nguyên Chương trải qua các đời Thành Tổ, Nhân Tông, Tuyên Tông đến phiên hắn cũng chưa lầm mất đi huyết thống tốt đẹp này, để Trình Cảnh quỳ một lát mới đưa tay hư đỡ.
– Bình thân!
– Tạ Bệ hạ!
Chu Kỳ Trấn nghịch một cái lọ thủy tinh trong tay, mở nắp đưa lên mũi ngửi, một lát mới thỏa mãn nói.
– Chuyến đi An Nam lần này, khanh có gì muốn nói với Trẫm không?
Trình Cảnh ngẫm nghĩ một lát, châm chước nói.
– Về lại trị, triều đình An Nam dần dẫn nới lỏng áp chế với nho sinh sĩ phu, lần này thần sang phúng viếng đã thấy một số quan văn có tiếng nói hơn trước. Về võ bị, thần qua biên ải đúng lúc An Nam đang phát binh dẹp loạn, vì vậy việc binh bị các nơi đều vô cùng nghiêm chỉnh, chỉ là trấn quân dọc đường nhìn thấy cũng không có chút chểnh mảng nào, so với vệ sở quân triều ta, e là cũng không thua kém. Về dân sinh, lần này là lần thứ hai thần đi sứ, so với lần trước dân sinh An Nam phồn vinh hơn thấy rõ, chỉ riêng chợ ở thành đông Lê thành (Đông Kinh) đã có dấu hiệu bắt kịp chợ tây thành Quảng Châu.
Hắn chỉ đơn thuần mô tả sự thực, không cho chút nhận xét chủ quan nào của bản thân.
Chu Kỳ Trấn nghe Trình Cảnh tấu báo xong, hơi nhíu mày nói.
– Theo như lời khanh nói, hiện tại An Nam tuy có loạn nhưng cũng không đủ để Thiên triều thao tác cái gì?
Trình Cảnh chắp tay cung kính.
– Hồi Bệ hạ, chí ít trong tương lai gần là như thế. Phải biết chỉ riêng cấm quân nước ấy đã có sáu quân, quân số mỗi quân đều tương đương với một vệ của thiên triều ta. Tây bắc An Nam tuy có loạn nhưng trước sau điều động chưa tới một quân, kể cả có thất trận cũng chưa thể gọi là thương cân động cốt.
Mắt Chu Kỳ Trấn hơi ngưng, liệng cái lọ thủy tinh xuống án, lạnh giọng hỏi.
– Trẫm nghe nói An Nam tiếm ban niên hiệu, trộm tế nam giao, học theo gương cũ Triệu Đà thực hành cái gì mà “ngoại vương nội đế” bắt các nước chung quanh như Chiêm Thành, Vạn Tượng thần phục, so với Lộc Xuyên, Mông Cổ còn quá quắt. Chuyện này có thật không?
Trình Cảnh sắp không chịu được khí thế của Chu Kỳ Trấn, dứt khoát quỳ mọp xuống, dập đầu nói.
– An Nam cố nhiên là lòng lang dạ thú, nhưng so với những kẻ trước nay chưa từng dám tiếm xưng niên hiệu, chưa từng dám trộm tế Nam giao lại tự xưng là thi hành chính sách “sự đại” một lòng thờ nước lớn, coi thiên triều như cha mẹ mà sau lưng thì không ngừng ăn mòn cương thổ thiên triều, ngay khi Mông Cổ khôi phục thì thái độ nửa vời thì khá hơn nhiều ạ!
– Khanh đang nói đến Triều Tiên?
Trình Cảnh trực tiếp thừa nhận.
– Dạ! Thần mới về đã nghe tin Thoát Thoát Bất Hoa gửi quốc thư cho Triều Tiên vương, tự xưng là Đại Nguyên Hoàng đế, gọi Triều Tiên vương là Cao Ly vương, từ đó đến nay chưa thấy Triều Tiên vương sai sứ thần sang phân trần, cũng không biết “đệ nhất chư hầu” của thiên triều phúc đáp chủ cũ như thế nào! So với đó An Nam thì sao? An Nam tuy là xưa nay noi gương Triệu Đà tiếm xưng Đế hiệu nhưng vẫn luôn giữ đạo thờ nước lớn. Từ thời Thái Tổ đến nay đối với cương thổ, con dân Thiên triều chưa bao giờ dám xâm phạm nửa phần. Cứ công tâm mà xét ai lòng lang dạ thú trên thực tế, ai lòng lang dạ thú trên mõm nhìn qua biết ngay.
Chu Kỳ Trấn ngạc nhiên ngẩng đầu lên nhìn Trình Cảnh thật kỹ, từ khi nào sứ thần Thiên triều từ An Nam trở về lại hết lời bảo vệ “đệ nhị phiên thuộc” của triều đình đến mức này.
Hắn chỉ hơi nhướng mày lên.
– Thật vậy sao?
Trình Cảnh dứt khoát lại dập đầu, nói.
– Đương nhiên là giả, Bệ hạ! Cái miệng của hạ thần bị người An Nam đút đầy rồi, dù ít dù nhiều cũng phải nói giúp bọn chúng vài câu!
Chu Kỳ Trấn cũng không nổi giận ngay, xua tay ra hiệu thằng này nói tiếp.
– Bệ hạ tha cho hạ thần nói thẳng, Đại Minh ta mấy năm qua đốt quá nhiều tiền vào chinh chiến Lộc Xuyên, đầu năm nay người Mông Cổ lại ngóc đầu trở lại, lần lượt Cáp Mật vệ cùng Ngột Lương Cáp tam vệ trước sau đều trở giáo đầu nhập Mông Cổ. Năm ngoái, Thoát Thoát Bất Hoa đã chinh phạt thành công Hải Tây Nữ Chân, bắt được hơn hai vạn trai tráng. Cộng với lực lượng sẵn có ở Đông Mông Cổ, chỉ riêng quân trực tiếp thuộc chỉ huy của Thoát Thoát Bất Hoa đã có ít nhất năm vạn kỵ. Bệ hạ! So với lũ sói đói nhà Bột Nhi Chỉ Cân (1) loại tôm tép nhãi nhép như An Nam lại đáng là gì?
Người ta thường cho rằng thời đại này Đại Hãn Mông Cổ chỉ là con rối cho người Ngõa Lạt (bộ tộc Oriat) thực tế thì không đơn giản như vậy.
Dưới thời Đại Hãn Thoát Thoát Bất Hoa, do mâu thuẫn giữa quý tộc miền đông Mông Cổ cùng người Ngõa Lạt mà thực tế Mông Cổ được chia làm hai phần chủ yếu, một là Đông Mông Cổ do con cháu Thành Cát Tư Hãn cai trị (với sự ủng hộ của hàng quý tộc) hai là Tây Mông Cổ do bộ tộc Ngõa Lạt cai trị.
Hai bộ phận này thừa hành quy tắc “Quân thần dị xử, thường bất tương kiến” nghĩa là Ngõa Lạt tôn Đại Hãn Đông Mông Cổ làm chủ, tuy nhiên thường thì ai lo việc người nấy, không có việc thì không cần gặp nhau.
Nếu có đại sự gì, giả dụ như chiến tranh với nhà Minh hoặc mâu thuẫn nội bộ thì hai bên sẽ hội minh với nhau, thương thảo công việc đối nội đối ngoại.
Nhờ hệ thống này mà Thoát Thoát Bất Hoa có không gian để dần dần lấy lại quyền lực của một đại hãn chân chính – ít nhất ở Đông Mông Cổ là như vậy.
Trong lịch sử, mọi chuyện chỉ thay đổi từ sau năm 1451, khi Thoát Thoát Bất Hoa hội minh cùng Dã Tiên về việc lập Thái Tử.
Dã Tiên ủng hộ Đích trưởng tử của Thoát Thoát Bất Hoa, đồng thời là cháu ngoại trai của mình – Dã Tiên Mãnh Khả làm Thái Tử.
Thoát Thoát Bất Hoa không đồng ý, hai người tan rã trong không vui.
Ngay sau đó Thoát Thoát Bất Hoa chủ động triệu tập kỵ binh tấn công Ngõa Lạt. Dã Tiên bèn dùng ngôi vị Đại Hãn dụ dỗ em trai của Thoát Thoát Bất Hoa là A Cát Ba Nhĩ Tế làm phản, giữa trận tiền đem quân liên hợp với quân Ngõa Lạt đánh kẹp trung quân của Thoát Thoát Bất Hoa, trung quân liền tan vỡ.
Thế là Thoát Thoát Bất Hoa thua chạy, phải trốn đến chỗ cha vợ cũ là Sa Bất Đan – thủ lĩnh bộ tộc Khoa Nhĩ Thấm.
Sa Bất Đan nhớ mối hận trước kia Thoát Thoát Bất Hoa bỏ con gái mình để cưới chị gái Dã Tiên liền sai người giết Thoát Thoát Bất Hoa, năm đó Thoát Thoát Bất Hoa ba mươi bảy tuổi.
Sau trận chiến, Dã Tiên vốn còn muốn nhân cơ hội cướp ngôi Đại Hãn, hiềm một nỗi hàng quý tộc đều đứng ra phản đối, hắn bất đắc dĩ phải nhường ngôi Đại hãn cho A Cát Ba Nhĩ Tế.
Hai năm sau (1453) liệu thời cơ đã chín muồi, Dã Tiên lại dụ A Cát Ba Nhĩ Tế đến một bữa tiệc mừng công rồi giết đi, bị giết cùng với A Cát Ba Nhĩ Tế còn có phần lớn thành viên cốt cán nhà Bột Nhi Chỉ Cân cùng hàng quý tộc trung thành với gia tộc Hoàng kim.
Sau khi đã dọn dẹp xong gia tộc Hoàng kim, Dã Tiên tự xưng là Khả Hãn, là vị Đại hãn đầu tiên suốt mấy trăm năm qua không phải là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn.
Lại lan man rồi.
Tóm lại, trong mắt nhà Minh hiện nay, sự nổi lên của một vị Đại Hãn thực quyền mang dòng máu Thành Cát Tư Hãn không phải là chuyện đùa, đề cao đến mức nào cũng là không đủ.
Chu Kỳ Trấn nghe Trình Cảnh trình bày cũng cười, chỉ là trong tiếng cười không có chút nhiệt độ nào.
– Đúng vậy! Tầm nhìn nên phóng khoáng một chút, Thiên triều ta có cương thổ mênh mông bát ngát, có ức vạn con dân, ngay cả những loại hung thú ăn thịt người không nhả xương như Mông Cổ, Ngõa Lạt, Triều Tiên v.v. còn không sợ, An Nam tuy lòng lang dạ sói, nhưng so với những thứ dữ kia lại đáng là gì! Há há …
Chú thích:
(1) Bột Nhi Chỉ Cân thị là dòng họ Hoàng kim của người Mông Cổ, con cháu của Thành Cát Tư Hãn.