Chương 213: Cởi Mở
Về đến Hầu phủ bà Vân vẫn chưa hết bần thần, ngay cả con Trump thông thường thích nhất cắn gấu quần bà Vân từ chiều tới giờ cũng biết điều kiếm một góc xa xa mà nằm.
Mãi đến khi trời đã nhá nhem tối, dường như thấy chủ lặng thinh lâu quá, nó bẽn lẽn đến gần liếm liếm cẳng chân bà chủ xem có còn cử động không.
Cuối cùng lại bị bà Vân dùng hài đánh cho một cái kêu oăng oẳng chạy ra ngoài.
Vừa tức vừa buồn cười dùng khăn tay lau bãi nước miếng trên cẳng chân.
Tự nghĩ bản thân một giới nữ lưu, lo tính những chuyện miếu đường này làm gì, bà Vân mới thôi không suy tư nữa.
…
Ở Đông Kinh, đám người phải lo chuyện đại sự trong mắt bà Vân hiện tại đang châu đầu ghé tai vào với nhau.
– …
– Tin chuẩn không?
Lê Thụ không tỏ vẻ gì, nghiêm túc hỏi Lê Khôi.
Lê Khôi lủm miếng bánh hoa quế bỏ vào miệng thỏa mái.
– Người của Nhập nội Kiểm sát ty ở Hưng Hóa liều chết báo về, hẳn là có tám chín phần mười sự thực!
Trịnh Khắc Phục không tin lắm bỉ bôi nói.
– Kẻ này lại dũng mãnh như vậy?
Lê Khôi nhún vai.
– Đao văn Trì đích thân dẫn quân xông trận, quân Mường Thanh trên tường lũy Puổng Sai (nay là Pa Poung/ Lào) bị quân Xa Lý xé toạc đội hình tràn vào phải bỏ lũy mà chạy. Nếu không phải Cầm Thịnh ở Nàng Lương (nay là Pa Sá Lào/ Điện Biên) dũng cảm đương đêm kéo mấy ngàn quân băng hơn mười dặm đường suối xuống tiếp viện giữa đường thì Cầm Lý chỉ có chạy vào trúm. Ngay cả người của Nhập nội Kiểm sát ty gài ở bên Cầm Thịnh cũng phải rút kiếm ra ác chiến là đủ hiểu.
Lê Sao lúc này mới chen mồm vào, lo lắng hỏi.
– Người của chúng ta có sao không?
– Bị người dùng trọng đao đánh bay, gãy mất hai cái xương sườn.
Trịnh Khả chả quan tâm đến mấy chuyện lông gà vỏ tỏi này, nhíu mày.
– Không phải Lê Ê nói quân Mường Thanh thủ lũy khá tốt à? Mượn thế trên cao cứ cung nỏ, gỗ đá táng xuống quân Xa Lý chịu sao thấu! Hay là Lê Ê tấn công bất lực sợ tội hư báo quân tình?
Lê Khôi cười nói.
– Trấn man tướng quân không báo cáo láo đâu! Quân Mường Thanh đánh trận này đứa nào đứa nấy đều dùng cung cứng nỏ mạnh trút tên xuống như mưa, theo lẽ thường thì người làm bằng sắt cũng phải sợ. Sự thực đúng là như thế, ban đầu quân Xa Lý mất hai ba trăm người vẫn chưa làm gì nổi quân Mường Thanh liền sợ hãi mà rút lui. Mãi đến khi Đao văn Trì đích thân dẫn đầu thân binh trèo lên lũy thì chúng mới vỡ trận.
Trịnh Khả trầm ngâm một lát không ăn nhập gì khẽ nói.
– Xem ra sắp tới gầy dựng tân quân không thể từ bỏ hẳn các thức vũ khí lạnh, tỉ như đao thuẫn thủ, câu liêm thủ vẫn phải giữ lại.
Mất một lúc Lê Khôi mới nghe ra ý của Trịnh Khả.
Tân quân xây dựng theo mô hình quân Phủng Thánh có sức tấn công cực kỳ khủng khiếp, chư vị đại lão ở đây không ai có dị nghị gì, duy chỉ có phòng thủ là hơi mong manh một chút, trong lúc tác chiến luôn cần trọng binh bảo vệ.
Cầm Sương lại không biết điều đó, quân Mường Thanh từ Mường La trở về rút kinh nghiệm từ cuộc chiến công thủ với quân triều đình liền đi đến kết luận “tuyệt đại đa số thương vong gây ra được trong công thủ chiến đều đến từ vũ khí tầm xa”.
Vì vậy khi cắt cử quân thủ lũy Puổng Sai hắn bố trí quân ở đây phần lớn là xạ thủ cung nỏ cả.
Chẳng qua quân Xa Lý không giống quân triều đình, Đao văn Trì xông trận như con hổ điên, quân Xa Lý theo hắn như bầy chó dại, người trước ngã xuống người sau nối bước ào ào trèo thang xông lên.
Chết và bị thương hơn ngàn người vẫn không chút nào sợ sệt, cung nỏ, gỗ đá cũng không kịp chế áp bọn chúng.
Do thiếu hụt trọng binh ở trước mặt che chở, thổ binh Mường Thanh lưu thủ Puổng Sai mất mặt lũy liền không còn khả năng tổ chức kháng cự hiệu quả.
Giả như quân Mường Thanh ở đây có một nửa là đao thuẫn thủ, nói như thế nào cũng phải kiên thủ được một canh giờ chờ quân của Cầm Thịnh đến cứu.
Đến lúc đó một trong một ngoài hình thành thế ỷ dốc hỗ trợ cho nhau, thắng phụ như thế nào vẫn còn khó nói.
Mắt đảo quanh mấy vòng, Lê Khôi cũng gật đầu nói.
– Mỗi một doanh mười hai cơ chí ít có bốn cơ đao thuẫn thủ cùng câu liêm.
Trịnh Khả cân nhắc một lát, lắc đầu nói.
– Chưa đủ, trọng binh không tập hợp đủ số lượng không có sức nặng trên chiến trường. Muốn giữ vững một tuyến cần ít nhất sáu cơ, nếu không thì biên chế hẳn hai doanh thành một sư (1) do một tổng quản thống nhất chỉ huy. Chỉ có gắn kết với nhau cùng tiến thối mới có thể phát huy tối đa sức mạnh của hỏa khí.
Trịnh Khả phân tích có lý có cứ, cả bọn năm sáu lão già không hẹn mà cùng gật đầu cho là phải.
Nhà Lê Sơ có một đặc điểm khác hẳn với các triều đại khác trong lịch sử, đó là không ngần ngại điều gì. Bất kể là quân sự hay chính sự, chỉ cần nó đủ tốt là có thể học theo mà sử dụng.
Trước từ Lê Lợi, Lê Nguyên Long đến đời Lê Bang Cơ, Lê Tư Thành sau này đều là người thực dụng.
Thái Tổ Lê Lợi năm đó vì ổn định mười sáu châu Thái không ngại phong cho Xa Khả Sâm chức Nhập nội Tư không kiêm Đồng Bình chương sự – là điều trước đó chưa từng có.
Đến thời Thái Tông, vua cũng chả ngần ngại gì sai Lương Đăng bắt chước y xì lễ nhạc nhà Minh, đơn giản là vì nó sẵn có lại tiện dụng chứ không cố chấp ngồi chờ Nguyễn Trãi khôi phục lễ nhạc cổ từ thời Lý – Trần.
Nhìn chung, chỉ cần có lợi, ngay cả đội một thằng nhóc họ Trần không một tấc công lên đầu làm chủ (Trần Cảo) họ Lê cũng làm được.
Chịu loại tư tưởng này thúc đẩy, nhà Lê Sơ giành lại giang sơn từ tay người Ngô chưa lâu đã có thể nhanh chóng lần nữa ngưng kết sức mạnh quốc gia, lại dựa vào đó đẩy mạnh quá trình trung ương tập quyền hơn nữa.
Trước thời Lê Sơ, kể cả dưới thời Thục Phán làm chủ nước Âu – Lạc, hình thái chính trị ở mảnh đất này luôn luôn là một hệ thống nửa trung ương tập quyền.
Cường hào các vùng tuy thừa nhận sắc phong ra làm quan cho triều đình nhưng quyền lực của chúng ở địa phương vẫn cực kỳ to lớn.
Đến mức các chức sắc ở làng, xã, lộ, trấn gần như là cha truyền con nối, triều đình chỉ có mỗi việc ưng thuận, thừa nhận sự thực này mà thôi.
Thứ quyền lực to lớn đó cho phép các thế lực địa phương gần như không phải chịu bất cứ ước thúc chắc chắn nào từ trung ương.
Đó là lý do sau khi Triệu Đà mua chuộc được các thủ lĩnh địa phương thì An Dương Vương năm đó thất thế.
Càng là lý do mà Dương Diên Nghệ có thể ngồi im bó gối nhìn Khúc Thừa Mỹ bị quân Nam Hán bắt về Phiên Ngung.
Có lẽ, nếu không có cuộc xâm lăng của người Ngô, hình thái chính trị của người Lạc Việt sẽ tồn tại như thế cho đến muôn đời sau.
May thay … à nhầm … rủi thay, Chu Đệ lại làm trái lời răn của Chu Nguyên Chương mà phát binh chinh phạt An Nam, cắt đất làm quận huyện.
Dưới chính sách cai trị của nhà Minh, triều đình Yên Kinh có một loại cố chấp rất lớn với việc thực sự chưởng khống địa phương, vừa đặt được ách cai trị lên thừa tuyên Giao Chỉ đã rất tích cực đả kích đám thế gia vọng tộc trong nước.
Quyền lực của các thế lực địa phương cũng vì thế mà suy yếu nghiêm trọng.
Chính Thái Tổ họ Lê cũng là một nạn nhân của chính sách này, ngài từng cảm khái nói.
“Trẫm trước gặp lúc loạn ly, nương mình ở Lam Sơn, vốn chỉ mong giữ toàn được tính mệnh mà thôi! Ban đầu cũng không có lòng muốn lấy thiên hạ. Đến khi quân giặc càng ngày càng tàn ác, dân không sao sống nổi! Bao nhiêu người trí thức đều bị chúng hãm hại. Trẫm đã chịu khánh kiệt cả gia tài để thờ phụng chúng! Vậy mà chúng vẫn đem lòng muốn hại Trẫm, không chịu buông tha! Việc khởi nghĩa, thực cũng là bất đắc dĩ mà Trẫm phải làm!” (2)
Chính sách khắc nghiệt như thế khiến các thế lực địa phương không còn cách nào khác ngoài phản kháng, mà lúc đó nhà Minh thế lớn, lớp sau kế lớp trước vùng lên đều bị đàn áp cả.
Đến ngày giải phóng, Thái Tổ họ Lê tinh ý nhận ra tổn thất to lớn của các thế lực địa phương, đời nào bỏ qua cơ hội?
Người không chút ngần ngại nào học theo mô hình trung ương tập quyền của nhà Minh!
Thế là đức Thái Tổ trước thì giải tán các quân khởi nghĩa về làm nông dân, sau thì tay cầm năm vạn tinh binh mà áp đặt thể chế, kẻ nào còn tơ tưởng đến cái trò cắt đất phân phong, lá mặt lá trái làm thổ Hoàng Đế thì cứ nhìn gương Trần Nguyên Hãn.
Thái độ cứng rắn của Lê Lợi đối với vấn đề tập quyền đã tạo ra một quốc gia hùng mạnh chưa từng có – ít nhất là trên phương diện hành chính cùng quân sự.
Chỉ mười lăm năm mà quốc cảnh cơ bản an bình, không thấy anh hùng thiên hạ nổi lên chọc trời khuấy nước nhan nhản như xưa nữa.
Để cho có so sánh, dưới thời Hồ – kể cả khi Hồ Quý Ly không gắt gao tiến hành trung ương tập quyền – thiên hạ cứ vài bữa lại có người muốn bôn tẩu thực hành cái gì mà “phù Trần diệt Hồ” đến mức Chu Đệ ở ngoài vạn dặm cũng ngửi thấy mùi ngon, không nhịn được mà “chung lưng đấu cật” giúp cho chúng hoàn thành sự nghiệp vĩ đại ấy.
Chẳng qua là sau khi thực hiện xong lão “quên” không đưa con cháu họ Trần lên ngôi thôi, bọn mi đừng hiểu nhầm ý tốt của Chu gia lão tứ.
Vậy mà đến thời Lê Sơ – kể cả khi cha con Lê Lợi, Lê Nguyên Long thề sống chết tước đoạt quyền tự trị ở các địa phương – lại không thấy có bao nhiêu người dám nổi lên sử dụng chiêu bài “phù Trần” nữa.
Năm thì mười họa xuất hiện đi chăng nữa cũng chỉ là loại lìu tìu cấp bậc tù trưởng, xã trưởng gì đấy.
Nói cách khác, chỉ trong mười lăm năm, đã không còn bao nhiêu người đi hoài niệm những “khuôn vàng thước ngọc” của thời đại cũ.
Còn cả gan làm loạn chỉ còn đám kimi ở biên viễn, cậy địa thế núi cao thung sâu mà ngoan cố chống cự thôi.
Từ đây, một quốc gia hoàn toàn thống nhất trên cả danh nghĩa lẫn thực tế ra đời.
Đương nhiên, dù ít dù nhiều các thế lực địa phương vẫn còn một chút ảnh hưởng, tục lệ mấy ngàn năm mà, đâu phải nói dẹp là dẹp ngay được.
Chẳng qua là bị áp súc đến mức chỉ còn lốm đốm trong làng xã, kể cả có lòng không thích họ Lê cầm quyền thì ngoài mặt vẫn phải tuân phục ý chí của triều đình, cùng lắm làm một chút chuyện trấm trộm chung quanh quê quán nhà mình thôi, không đáng để lo.
So với thời đại có những gia tộc hùng mạnh quát tháo phong vân cả châu như thời Lý – Trần ngày trước đã là cực kỳ khác biệt rồi.
Nào phải tự nhiên tám năm trước phù tạo châu Ngọc Ma là Cầm Quý không phục triều đình, họ Lê điều động trấn quân một lộ (Nghệ An) đi đánh dẹp đã được hơn hai vạn người.
Loại năng lực động viên đó đều là nhờ thể chế trung ương tập quyền tương đối hoàn chỉnh mà Lê Lợi không ngại cái mới học tập từ nhà Minh cả.
Quyền lực Hoàng Đế đến mức đó, bất kể là thời kỳ thịnh trị của họ Lý, họ Trần cũng chưa bao giờ dám mảy may mơ tới vậy!
Chú thích:
(1) Binh chế nhà Chu quy định đơn vị độc lập lớn nhất của quân đội là “quân” mỗi “quân” có 12.500 lính, thiên tử có sáu đạo “quân” hết thảy 75.000 lính.
Lực lượng quân sự trên bộ của các quốc gia hệ Sinosphere được gọi là “lục quân” (sáu đạo quân) là vì lẽ ấy.
Mỗi “quân” lại chia thành 5 đơn vị nhỏ hơn, gọi là “sư”.
Ban đầu thì mỗi “sư” theo đúng biên chế sẽ có 2500 lính, thế nhưng vật đổi sao dời, từ sau thời Chu đơn vị “sư” thường dùng để chỉ các đơn vị độc lập có quân số dưới 10.000 người.
Ở đây ý của Trịnh Khả muốn xây dựng một sư gồm 3 doanh, quân số khoảng 4.000 lính.
(2) Lam Sơn thực lục.