Chương 117 : Thong dong
Để mà nói thì ai nấy cũng sợ hãi, thuyền xuất cảng cái là đi ra đại hải ngay lập tức, nghe nói biển Đông Hải như quái thú, thuyền bè chạy ra xa cái gặp gió to, đá san hô mà mắc kẹt, chìm tàu rất đông. Cũng đơn giản là vì thời này vẽ bản đồ chưa đồ tốt, gặp mấy đảo như này toàn bộ là chấm chấm chấm chứ chẳng ra hình thù gì cả. Ngay cả bản đồ thực tế sau này mới có.
Số lượng binh lính đi theo là đang là quân vét của nhân dân, về cơ chế đàng Trong phân ra ba hạng quân, đứng đầu là Vũ lâm quân gồm tập hợp Tả vệ và Hữu vệ, bảo vệ kinh thành và phủ chúa. Trong toàn là con cháu các võ quan, người thân cận và những người thuộc huyện Tống Sơn, Thanh Hoa mới được tuyển vào. Kể từ khi lực lượng Phúc Luân khởi nghĩa chống trả, thì lực lượng này chỉ còn vài tên như hắn và thân thích của Phúc Luân.
Tiếp là Chánh quy quân, đóng theo ở các dinh, cơ phủ huyện, nhưng số lượng không thống nhất, những chức vụ quan trọng đều phải do người Thanh Hoa đảm nhận. Mà hiện tại thiếu người tới mức phải bỏ lệ đó đi, sai mỗi phủ 5 ngàn quân, 1 huyện 2 ngàn quân, nếu chiến tranh lên cao thì tăng thêm số lượng. Đồng thời bỏ lệ chỉ có người Thanh Hoa giữ trọng chức, cho phép những người được tài giỏi lên làm.
Lực lượng tạm binh hay còn gọi là thổ binh thì không có lương, chỉ được miễn một số loại thuế và là lực lượng đông nhất, khả năng thao luyện kém và thiếu kỷ luật. Đương lúc Nguyễn Hữu Đông vì cớ ấy mà viết sách luyện binh, huấn luyện binh sĩ lại mà có lực lượng tinh nhuệ. Thay việc miễn thuế bằng việc trả lương, nhiệm vụ từ canh phòng, chốt trạm không được trả lương làm chúng thành những cục tạ tài chính, nay trả lương cho.
Còn việc chiêu mộ là theo thời Hồng Đức đế, tức Hậu Lê Thánh Tông : 3 năm 1 tiểu điển, 6 năm 1 đại điển, đầu năm thì kê khai xét tuyển số dân của mỗi huyện mà xung vào. Nay thiếu quá thì làm mộc bài nộp lại cho triều đình, thấy ai đầy đủ thì kêu đi chứ không theo lệ đó nữa.
Dân đinh chia làm 8 hạng: tráng, quân, dân, lão, tật, cố, cùng, đào vong. Tráng là người khỏe mạnh để sung vào quân đội, quân là hạng ở nhà làm ruộng, khi cần mới gọi vào lính.
Tất cả dân thuộc loại tráng từ 18 – 59 tuổi đều nằm trong diện điều động. Ai trốn tránh hoặc người tuyển mộ mà tuyển người không đủ tiêu chuẩn đều sẽ bị chém, nay chỉnh lại phạt tiền 50 quan, hạn chế những điển chế chém đầu, chặt tay lại, ý ấy là của Vũ Văn Trung đề xuất ra.
Giờ trên thuyền, lâu lâu các thuyền neo đậu lại thì Hữu Công lại bắt ra luyện binh, luyện võ. Hai huynh đệ có đánh nhau qua lại, tỷ thí, Ngọc Yến giờ từ khi luyện được Phật quyền, tính tình tịnh tâm và duy trì được hơi thở nhiều hơn, ngày nào cũng chạy bộ đu xà nâng tạ các kiểu, song việc tim bẩm sinh vẫn không cứu được.
Đánh thực chiến có mấy đòn trảo bụng, trảo sườn rồi chéo chân làm Hữu Công cũng bất ngờ, vì trước luyện võ với thằng cu này khi nào cũng thấy tập tí là mệt, đánh thì né chỗ hiểm yếu ra, nhưng giờ… À mới nói xong thì đã thấy Ngọc Yến bảo dừng vì thở không nổi.
Hữu Công cụt hết cả hứng, vốn hắn định xin nhà họ Châu cho cưới con gái nhà ấy, nhưng chưa kịp thì Nguyễn Hữu Ba với chiến trận Thanh Hà mà bay mất tiêu. Rồi lại đến tang của bậc quân vương, như này thì sao mà chịu được? Ấy còn đi ra biển như này, chối thì lại không xong, đành xa người thương…
– Má…! Huynh cái chi mà cứ ngẩn ngơ lên trời rứa? Nhớ ai à?
Ngọc Yến ngồi xuống mà coi tên sư huynh đang nghĩ cái gì, thẩn thờ cả ra, vô tri vô đạo cả đoạn đường. Định nói mà tự dưng Hữu Công hộc nôn do say biển, phải ra nôn thóc nôn tháo cả đống đồ ra.
Mà nói đến thuyền theo kiểu Tây Dương đi đại hải sướng thật, như với đi tiểu lộ như truyền thống thì hơn nhiều, nhưng vì thế mà người ta sợ hơn, chặp rồi mới thấy hết sợ. Thuyền bon bon, dựa theo những dụng cụ học hỏi từ Tây Dương, sáng thì nhìn mắt trời và độ nghiêng tính toán hướng đi chuẩn, tối thì tính qua các vì sao và canh giờ.
Đợi sư huynh bình ổn lại, lau mặt mày mà chọc qua. Hữu Công rồi mới đáp lại cho tên nghịch tử kia vài điều :
– Mi biết Châu Thị Tự Linh khôn (không)? Chời (Trời) ơi! Con gái mô mà đẹp rứa hạ (hả)? Hiền diệu mô còn giỏi vũ (võ) nữa chơ…
– Ha ha, Châu Thị Đeo chơ chi? Trúng độc lần bơ hóa điên thành cái dạng nớ đỏ!
– (Trừng mắt to mồm lên) Mạ cái thằng ni? Ăn nói mất dậy (dạy) hả mầy (mày)!? Biết chi mô mà nói? Con gái họ tên tục rứa chơ coi tên húy đẹp rứa mà? Mi chừ (giờ) không biết chi hết thì đọc tên đẹp đi, tục vứt mô rồi. Không biết thì đừng xàm ngôn ra!
– Chu choa eng (anh) ơi! Hồi trước em cứu con nhỏ nớ mà? Tự Linh nghĩa là giống con chó trung thành, em đặt nốt, ha ha ha! Ban đầu mô dữ như chó cái có chửa rứa!
– Chó cái có “chửa”? Chửa là mệ chi?
– Ờ… bầu.
– A cái đ* rứa mi nói sư huynh mi là chó à!?
Hữu Công đứng dậy đập hắn mấy cú đau điếng, rồi bực tức chạy ra mũi tàu đứng. Nhưng nói thế thì chẳng phải hai người đó làm chuyện gì bậy rồi ư? Ngọc Yến tự nhận ra việc ấy, đứng ra mũi tàu mà vỗ về thằng sư huynh của mình.
Tam cương ngũ thường 三綱五常, ban đầu Tam cương là thờ vua, thờ cha, thờ vợ chồng với nhau. Chặp dần không rõ sao mà dần chuyển thành vua, thầy, cha. Cớ ấy là để đề cao vai trò của người giáo viên trong cuộc sống, lớn hơn cả bậc cha mẹ, chẳng có lý gì mà hắn có ý manh nhe loại bỏ hoàn toàn Nho giáo ra cả. Vì sự mai một của Nho giáo và những giá trị của nó, mà tương lai học sinh cãi chửi thầy cô, cha mẹ chửi chiết giáo viên là hoàn toàn mất dạy, vô học.
Còn Ngũ thường với Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín thì ai cũng biết rồi. Song những vị thần còn có sai sót, không thể toàn diện đạo ấy được, người thường cũng không thoát nổi, việc tạm ngừng phát triển chữ Nôm mà tập trung phát triển chữ Cơ là để dần phổ cập được Trí, Tín, Nghĩa, Nhân còn Lễ thì người có hay không cũng tùy gia cảnh.
Mà thực ra ban đầu Ngũ Thường chỉ có đúng Tứ thường, sau Đổng Trọng Thư 董仲舒 là một chính trị gia thời Tây Hán mới kế thừa mà thêm vào vấn đề Tín. Hoàn thiện học thuyết Nho giáo, nhưng dần Nho giáo dần suy yếu, trở thành hệ tư tưởng chính trị phụ thuộc vào việc bảo tồn mà ít phát triển thêm.
Sự suy đồi đạo đức ở Trung Hoa là một thứ mà Ngọc Yến từng đọc qua, Khang Hữu Vy 康有為 là một nhà Nho học của Trung Hoa đã cố gắng phát triển Nho giáo và tính Ngũ thường theo lối hiện đại nhưng quá muộn, những người Lỗ Tấn, Tôn Trung Sơn và Phong trào Ngũ Tứ đã đánh bại và làm nó suy kém đi.
Riêng ở Việt Nam, hay chí ít là ở Nam Hà : Tam cương còn hai cương phụ là anh chị em ruột, huynh đệ đồng môn. Nói thế mà tự nhắc mình tới tôn trọng sư huynh, áp dụng cái Nhân trong Nhân đạo, cũng đây lý do hắn giữ cơ chế học Tam tự kinh, Minh tâm bảo giám để mong làm nên phép tắc con người Việt Nam hiện đại.
Tới gần bên, vỗ vai một tí rồi an ủi mà xin lỗi :
– Huynh à, đệ xin lỗi! Thỉnh vấn hậu thiên khả dĩ tả nhĩ đích gia phả? (Cho xin ngày sau được viết vào gia phả anh, tức viết tên vợ và con cái vào)
– Hừ!? Nói thì hay lắm, chừ (giờ) định nhờ chú em xin xỏ họ nhà gái cho, chơ không bị chửi chết đây này.
Có bầu trước khi cưới là đại kỵ ở thời này, kiếp trước họ Hoàng Ngọc có mấy người như vậy đều bị trong họ nghi kỵ, cho là dâm ô không phải đạo hay. Thậm chí như trong họ thời này có nhiều người từ mặt, tỏ ý không đi đám cưới vì bị ô nhục gia tộc, thanh danh của bản thân. Ngọc Yến đáp :
– Chà là…! Nước đới (tiểu) em uống súc luôn chơ sợ chi? Của con eng (anh) là em làm tất, tạ tội!
Tục ở một số làng quê khi trẻ em còn nhỏ đái ra, thì đem mà súc miệng, có người súc xong còn uống luôn. Một số giáo sĩ phương Tây ghi chép lại, rồi người Tàu sang coi mà man di, mọi rợ hóa đi. Như ở Trung Hoa có món trứng luộc nước tiểu tiểu đồng (bé trai) thì không sao vì không ăn lớp vỏ, còn đây là uống???
Có bao thì khi người mẹ mới đẻ, cơ thể yếu ớt, hai tuần đó phải uống nước tiểu của con mình mới khỏe lại được. Đàn ông uống súc thì răng khỏe mạnh, uống vào thì đỡ bệnh tật. Ấy là một bài thuốc Nam đang dần thất truyền, bị coi là man di mọi rợ.
Thực nói như thế có phần buồn lòng, song làm Hữu Công phấn chấn lên hẳn.
Trở về dòng suy nghĩ, người Hoa thường gọi tục nhuộm răng là man di mọi rợ, còn không biết vì sao răng người Việt lại đen mà cho là bẩm sinh mà có. Hàm răng được coi là biểu hiện của sự thùy mị nết na, về sự nghiêm chỉnh của người Việt với nhau, và thường giới giàu hay nghèo cũng làm. Chỉ là nhuộm lớp nhựa cánh kiến, rồi trộn bột cánh kiến với phèn đen, trộn thêm là trầu mà bôi khi ngủ. Tầm 2 ngày là đen.
Sau còn đốt vỏ dừa già, đem mà trát lên răng, giữ độ đen cho răng. Có thể ở Nam Hà thì tục ấy dần mất đi, thay vào đó là tục uống và súc nước tiểu trẻ con mới sinh để bảo vệ răng, vì xứ Thuận Hóa là có sự giao thoa giữa Việt – Chiêm, khả thi là dân ở với người Chiêm Thành lâu rồi bỏ tục ấy đi…
Đang cảnh ấy mà nhìn ống nhòm từ xa, đang thấy một chiến thuyền của quân Đông Ấn Hà Lan đang mắc kẹt tại một bãi đá ở Hoàng Sa, đi cũng đã 2 ngày thì chắc chắn đã tới rồi, mà quân Hà Lan đang chống chọi với đoàn thuyền có treo của cờ Nguyễn, nhìn qua chắc là đoàn Hải đội Trường Sa…