Chương 111 : Trận Thanh Hà – Thanh Tiên
Phúc Luân ở tại phủ đệ Thanh Hà, lâu lâu lại gặp thư với lính viết hồi Kinh mà thấy phiền.
Hắn mấy bữa nay quên nghĩ tới việc tính ngày phụ thân vong mệnh, mà chú ý động tĩnh của bọn cường sĩ xung quanh.
Nguyễn Cửu Thông ở các vùng Cựu Dinh, Điện Bàn lệ cứ 3 đinh lấy 1 đinh, kẻ nào không có tiền nộp thì đều lấy làm binh mà đưa về Kinh, giả dụ làm người thường tới lao động, nhưng không qua mặt được tin tình báo của phủ Thái tử.
Tức giờ lực lượng của phe loạn tặc là 1,5 vạn quân, xác định kho thuốc súng nằm ngay phía Bắc thành Thủ Yểm (Phú Xuân) trước Ngọc Yến cho bắn đạn vào mà cháy to có phần là do dính vào kho thuốc súng ấy.
Thuyền của quân chúng không đông lắm, nhưng là tự ý bỏ tiền làm riêng, thuê người Tây Dương tới huấn luyện, mỗi thuyền lớn chứa khoảng 1 ngàn quân, 30 pháo các loại. Loại nhỏ chỉ khoảng 700 quân với 15 pháo.
Bao vây khắp Vương Đảo, toả khắp các nẻo về Thanh Hà. Phúc Luân chuẩn bị là việc đóng sẵn tàu cỡ lớn và vừa, đốc thúc luyện binh, ít có pháo nên tất thảy đầu là đúc lại, nhỏ hơn, song không cần bắn xa.
Dựng sẵn trận địa hoả thương ở hai bên rìa và phía Nam Thanh Hà, Thủ Yểm rút lui vì quân đông, bị bao vây sẵn không tấn công được. Chỉ có Thanh Hà hiện tại đang ở thế đất rộng mà thoáng, mới dễ dàng khởi binh.
Đang nghĩ suy thì một tên thái giám dẫn đoàn kiệu tới trước phủ Thanh Hà mà can gián hắn, trước sau vàng bạc châu báu tất thảy sáng loá đi :
– (Cúi lạy mà chào) Kính chào Thái tử ạ…
– Miễn lễ! Có việc chi mà tới đây rứa?
Đứng dậy mà phủi bộ áo quần, ngước nhìn bộ lễ phục của Phúc Luân : vân vũ trắng vàng xanh, tam sơn thuỷ ba ở dưới, con mão vàng với rực sắc màu ở giữa mà cực kỳ đẹp.
Màu áo là màu đỏ đậm tức phi sắc, hơi theo kiểu đỏ rượu vang Bourdoux. Thậm chí trên tay áo còn được thêu cả hạc lên, thứ này chỉ có Hoàng đế mới có chung.
Trên người mang đai ngọc có 18 phiến bọc vàng, phiến chính giữa khắc chạm kỳ lân, 4 phiến hai bên khắc hình hoa, còn lại khảm gương. Trên bàn là chiếc mũ Bình Thiên (sau gọi Bình Đính) khi mũ có một hình như bán hộp trên đầu, chạm khắc vàng xung quanh với hai cục ngọc phía trước.
Vũ Vương nghe danh Nữ Như giỏi vẽ tranh, nhờ hắn vẽ sao cho vừa ý ông. Hắn đương trước hiểu biết nhiều về phục quan triều Nguyễn, vẽ vời rất bựa. Thêm đầy đủ chi tiết như thời Nguyễn cho vừa lòng bá quan.
Đặc điểm của áo lễ nhà Nguyễn là cách điệu thêm hai cánh chuồn, màu xanh da trời nhẹ ra đằng sau. Khi đứng tạo vẻ uy nghiêm, bắt ép các quan ngồi phải ghế sang, ngồi ghế theo dạng tựa ngai điện Thái Hoà sau này. Còn không chỉ có thể quỳ lạy, đứng, ngồi ghế không tựa.
– Dạ… Thái tử, xưa nghe “Thọ ân vạn nhất, chung thân bất vong (ý chỉ nhận phần nhỏ ân nghĩa, suốt đời không quên)”. Ngài tước cao, há chừ ngài ngự đang bịnh (bệnh) nặng… Thái phó xin ngài về chăm lo, rõ đạo hiếu nghĩa lâu, chừ (giờ) phái bổn hạ quan xuống coi mà mong người lên kiệu, hồi Kinh.
– Hừ? Thủ Yểm thuyền bè bao vây, lính tráng thì đông, là có ý bao vây cướp ngôi hay chi? Với lại ai cho Phúc Loan tự xưng Thái phó? Tự dám xưng tôn à?!
Nói phát mà đứng lên, rút đao làm bọn đi hầu sợ hãi chạy ra xa. Riêng tên Thái giám cố nín mà nói thêm :
– Dạ… dạ… Toàn thần tôn lên cho, mà theo lệ thì các chúa vương bệnh ốm, tàu thuyền lính gác túc trực làm lệ ạ. Mong Thái tử hiểu cho, giờ làm vua thì vẫn lệ nớ mà làm, nhiều binh vẫn là để bảo vệ hoàng thất chơ làm chi mô?
Nghe không vừa lòng, mà cái mùi hôi của tên Thái giám càng làm Phúc Luân bực hơn. Hắn không chần chừ một chém bay đầu ra giữa sân, làm dân chúng kinh hãi mà chạy đi hết.
Hắn đây là đang sợ những điều mà Ngọc Yến lải nhải suốt ngày là thật, đang sợ chết mà như con lươn gặp muối xung quanh.
Cái mùi hôi của bọn Thái giám là do bọn chúng bị xẻo hai cái “châu” rất thốn, xong sống được mà không chết, thì lại hay bị són nước tiểu ra, hôi rình cả lên mà phải mang túi vải cho đỡ hôi.
Âu cũng là cực quá mới làm vậy, vì ở Nam Hà : Thái Giám không được coi là hạng quan lại, là hạng rác rưởi thua cả cung tần mỹ nữ.
Kiệu vàng Luân sai quân lính dọn vào trong, vợ con thì dăm ba bữa nữa cũng chạy hết về nơi đây. Lính quanh Thanh Hà cũng bắt đầu lộ diện, pháo chạy khắp nơi dồn về phía chúng, Hữu Ba đề xuất việc đặt bao cát xung quanh để hạn chế một chút khả năng tấn công, song Ngọc Yến không đồng ý, vì thế làm thế quá bị động.
Thêm nữa đó là việc thương tích cho người dân, phải mở rộng và chủ động đánh bọc đầu, hoặc chí ít là chủ động tiến công, hợp quân với thành Hóa Châu và các vùng lân cận. Việc chiến tranh là không tránh khỏi, lòng ai cũng nao núng lo sợ, vì lực lượng của Phúc Loan tính là đông chứ chẳng ít, lỡ thất bại thì lại như bị Đổng Trác đè bẹp vậy.
… Trương Như Tế chạy ngựa vào thăm Ngọc Yến trong Thanh Hà, thấy cảnh tá túc trong phủ đệ Thanh Hà một lúc 3 tên Cường, Yến, Luân thì phải nhịn cười, giả bộ mang đồ rách rưới vào quỳ lạy :
– Ngọc Yến! Cứu tao với!
Đỡ thằng bạn đứng dậy, chẳng hiểu cớ gì mà tên này lên tới đây với bộ dạng thảm hại, nhìn vết thương bầm tím mà lại thấy phiền hà.
– Bị cái chi ri thằng ngu? (Yến)
Lần đầu tiên, cái cảm giác và giác quan của người Hoa Lang, hay của kẻ làm nghề rèn làm hắn phản xạ lại với người trong làng. Nói gì mà bị người ta gán tội đập oan, xin nhờ tá túc giúp đỡ, không dám về làng gặp cha mẹ… Sao mà giả dối như thế? Giả dối hơn cả lúc gặp họ Hồ, hơn cả họ Nguyễn Khắc kia nữa.
Một tên bạn từ thuở nhỏ mà giờ lại thay đổi rồi, cái gì làm thay đổi tên này mãnh liệt như vậy? Song thì Ngọc Yến muốn coi còn có ý gì, xin cho một phòng thuê trọ ở gần đó, tối hắn lại cải trang thành lính gáng cầm súng mà đứng canh ven đường, coi có chuyện gì.
Lòng hắn đã đau nay càng đau hơn, ấy thế lại bí mật truyền tin, viết thư tín mà truyền bậy bạ cho người ven đường? Chặp dần hắn thấy người tương lai sống tri thức, nhưng thật lòng với nhau hơn là loại người bằng mặt không bằng lòng này, chẳng trách tri nhân tri diện bất tri tâm.
Cận hổ dị phòng, cận nhân nan phòng (Gần hổ thì dễ phòng, gần người thì khó phòng). Ấy càng thân thích càng phải đề phòng, không được quá chủ quan, ấy cũng chính là nhân tâm cách bì, phục diện nan tri quá đi mà… Hắn chưa muốn vạch mặt tên này ra, để coi thực nữa như gì để níu kéo, chứ điểu thương trên tay vốn sẵn đạn mà bắn rồi.
Hai bên cứ thủ thế như này cũng không hay lắm, âu rồi thì Trương Phúc Loan cũng chịu không nổi, nghe mật báo về việc Thái tử chém đầu tùy tùng tới rước, sáng mới ngày Tân Mão (4 tháng 7) đã bắc loa lớn hô khắp nơi rồi :
– Thái tử Nguyễn Phúc Luân, Hoàng phụ bất hồi lai, bách thiện hiếu vi tiên (trăm điều thiện lấy hiếu đứng đầu) bách ác dâm vi thủ (trăm điều ác dâm đứng đầu)! Ham chơi kỷ nhật (mấy ngày) không đoái hoài hoàng thất, gian dâm ở Thanh Hà. Tự ý tụ quân cùng loạn thần mưu đánh cướp ngôi phụ hoàng bổn thân, phản thần tặc tử, thiên lý nan dung (đạo trời không tha)! Nội 2 canh giờ (tức khoảng 4 tiếng) phải giải giáp quân binh, đầu hàng về rõ đạo hiếu, không thì triều quân xuống đánh, chớ ấy mệnh không giữ, lãng tử hồi đầu (kẻ lầm đường quay đầu) kim bất hoán! (vàng không thế được!)
Toàn bộ quân đội được tập trung bao vây Thanh Hà, thuyền bè thì tiến vào liên tục. Mới tờ mờ sáng mà Phúc Luân cùng mấy em, quyền thân bàn bạc rõ nhiều thứ : nên đánh hay không đánh? Tuy chuẩn bị quân đã xong nhưng cố thủ ở nơi đây cũng quá cục bộ quá rồi. Chạy rút về thành Hóa Châu mà thủ thì đỡ hại dân, thành trì kiên cố hơn chứ?
– Không được! (Yến) Xưa ngụy Hồ (tức nhà Hồ) trọng dụng thành mà thủ, giặc Minh tuy đánh không lại nhưng đánh lâu cũng thất thủ, quá dựa vào thành trì thì cũng sẽ chết. Lối đánh là phải phủ đầu, tức thời và quyết đoán mới mong phá thế được.
– (Hữu Ba) Ta đồng ý! Chưa kể còn hợp quân Hóa Châu, quân từ Triều Sơn Tây mà hạp đánh, từ Ái Tử thì đánh ra lũy Trấn Ninh, hạp sức chống giữ mạn Bắc khỏi quân Trịnh!
Cái đám ấy cứ bàn bạc như vậy, không để ý có người trong góc ngồi tu rượu làm vui… Thực Phúc Luân đang bàn bạc nhưng lòng cũng nôn nao với thằng em Cường, vì phụ thân mất mà không được gặp là đạo bất hiếu, giờ thế khó sử, trọn đạo hiếu thì mất cơ đồ, đành chọn cơ đồ mà sau làm lễ.
– Thôi không nói chi nữa! Lần này kéo pháo ra, nhắm thẳng Thanh Tiên mà bắn, Nam Thanh bên mạn Tây chưa có pháo chỉa vào thì thôi. Ở phía Nam, chất sẵn đợi gió mà thả trôi thuyền lửa, chặn đầu quân của chúng lại. Đánh nhanh thắng nhanh, lấy ít địch nhiều, chúng cậy trường trận ta cậy đoản binh, kỵ binh chúng nhiều thì phải lấy dĩ đoản chế trường, kế ấy Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn đánh giặc Mông – Nguyên đã dạy răn! Phải tranh thủ áp sát, không để cho chúng lợi dụng lợi thế hỏa lực trước!
Bàn bạc xong như thế, đến lúc khoảng canh 5 thì chúng chuẩn… Cửu Thông dẫn khoảng 5 ngàn quân tiến về hướng Thanh Tiên, đoàn thủy quân của Hữu Ca cũng đương lúc tới. Bắt loa yêu cầu Thái tử trở về Thủ Yểm ngay lập tức, không được chậm trễ mà giải tán binh, không được làm binh biến.
…
Dựng chòi mà để lính canh, quân triều đình tạm thời án binh bất động. Thiết nghĩ Thanh Hà có trời cũng không làm ra được nhiều pháo đến thế, chuẩn bị cũng không được bao nhiêu với thời gian ngắn, hiện tại với khoảng gần trăm pháo trong tay, 15 chiến thuyền cũng là huy động lực lượng tối đa của một trận đánh Cao Miên khi xưa của Cửu Thông rồi, chắc chắn là Phúc Luân phải sợ.
Gốc chẳng thèm để ý mà tụ quân chỉ để kiềm chế Phúc Luân, kể từ khi Phúc Luân ngày càng bành trướng và vô kiểm soát, thì thấy càng ngày càng nguy hiểm. Đưa tên Thanh Hà công vào Quy Nhơn là tốn thời gian của hắn, đi về có kế mời vào thành xem bệnh hay giúp mà cũng không chịu, có lẽ đều đã rõ mặt nhau rồi.
… Bất chợt từ phía Thanh Hà nổ pháo đùng đùng về phía Thanh Tiên, làm Cửu Thông và thuộc tướng cũng bất ngờ. Thanh Tiên gốc đúng ra là phải dời dần về phía bờ sông Hương, song do cái tên Ngọc Yến mà chặn luôn việc ấy, người ta chưa kịp khai khẩn là hắn đã trọng dụng đất hoang ven sông chưa ai khai hoang.
Cửu Thông kêu Đỗ Văn Tâm 杜文心 thổi tù và ra hiệu cho toàn quân đánh ngay lập tức, quá liều mạng đối với tên như hắn. Ấy chưa kịp tiến quân thì pháo lại bắn tiếp, làm Cửu Thông không kịp trở tay. Là vì pháo của quân Thanh Hà là pháo cỡ nhỏ, đút và nạp đạn nhanh hơn, tuy còn hấp ta hấp tấp không đều, nhưng sẽ nhanh hơn so với pháo cỡ đại.
Một viên bắn thì gần, lính chạy mà hắn cầm Ô Long đao lên một chém đứt đôi viên đạn đá. Hò hét quân sĩ xông lên liên hồi, đoàn người đầu tiên cầm khiên và thương, toán sau cầm đao, sau nữa là điểu thương mà xông lên, quyết bắt sống cho được phản tặc.
Không thấy bên Thanh Hà hó hé gì mà tưởng là hay, song lính đi không cẩn thận nhìn đường vì trời tối, mắc phải dây ngòi đấu với hỏa khí, làm nổ và cháy lan cả hàng đầu, tạm thời cắt đứt đường tiến của quân chúng trên bộ, mà cháy nhanh chóng lan ra cả bờ Đông, chỉ riêng Thanh Hà có đào kênh bờ đá nên cháy tới cũng chưa sợ.
Nhân hàng ngũ rối loạn mà bên lính Thanh Hà điều động ra bắn tên và điểu thương liên tục, tiếp tục đẩy lùi hướng tấn công chính của quân triều đình. Chiến loạn làm người dân tỉnh cả lên, lính túc trực phải trấn an người dân, không tiến hành di tản được vì vấn đề bị bao vây của thành cảng.
Nguyễn Hữu Ba theo kế hỏa thuyền, đợi quân địch tiến vào trong Thanh Hà khá sâu, chuẩn bị cập cảng thì mới thả thuyền từ phía sau cháy tới. Lý do là vì thế mới thuận hướng dòng chảy sông Hương, và gió cũng đang thuận theo chiều ấy, như thế thuyền chạy mới nhanh mà tiến về phía địch được.
Thuyền địch chạy là khoảng 5 thuyền Đại Hiệu, còn 10 thuyền nhỏ tháp tùng. Thấy thuyền lửa từ các bờ bị đẩy ra mà chạy tới thì ra sức dập, song vẫn bị dính vào mà cháy vài thuyền, mỗi đầu hỏa thuyền đều có miếng gỗ vót nhọn, nhiều gai chỉa về trước để khi đâm vào thì khỏi đẩy ra, cháy lan vào trong hết.
Hữu Ca mặc bọn lính chữa cháy, ra lệnh cho bắn pháo vào hai bên bờ mà chống trả lại pháo Thanh Hà bắn vốn nhanh nhưng ít sát thương. Nhanh chóng xuống bè đổ quân vào bờ, khi mà bên quân Thanh Hà nhờ lợi thế cảng nhiều Hoa kiều mà nhập không thiếu thuốc súng, gắn cả ống tre hỏa thương vào mà bắn sang nổ đùng đoàng quân triều đình.
Chẳng nghĩ lực lượng Thanh Hà lại chủ động tấn công, mà chuẩn bị nhiều vũ khí như vậy. Sai người lấy hỏa trúc (ống tre lửa) ném tới tấp với bắn trở lại đám ngạo mạn Thanh Hà, hai bên thi nhau nổ đoàng đoàng lẫn nhau. Một hồi thì lao nhau mà chém giết, khi mà thuyền Thanh Hà chạy tới vừa húc vừa bắn pháo, súng liên tục.
Hữu Ca kệ hết bọn lính, cầm trường kiếm Tru Man của gia tộc Nguyễn Hữu tới trước mũi tàu mà nhảy qua tàu Thanh Hà, đối diện Hữu Ba cầm trường thương, giáp Minh Quang đàng hoàng, dày nhất phần bụng do bữa bị đao đâm.
– Thằng tê! Bụng chưa hết đau à!? Như lòng lợn lòng heo một giuộc!
Giọng khẳng khái, ngạo mạn với Hữu Ba. Hữu Ba trước từng bị giặc Cao Miên moi bụng rồi, vốn đã từng trải qua mà hét to vang trời, nên lúc bị thanh đao đâm qua, bị cầm mà vật thì như đã quen mà không sợ gì nữa.
– Chà chà… thằng ni nói chuyện mất dạy, ngu học mà vẫn chưa thôi à? (Hữu Ba)
– Hừ? Mi không phải dòng trưởng thì cớ mô tao phải nói giọng kính? Chừ răng mà theo phản loạn thì không cần anh em chi hết thôi, rứa mà cũng hỏi? NGU!
– Chặc chặc, mi thì biết cái chi? Không có cái việc chi mà tụ quân lên tới 1 vạn ở quanh thành hết! Từ lâu đã thấy ngứa mắt, kìm ép mà bảo vể mỗi đám súc vật, tất nổi loạn! Trương Phúc Loan sa đọa chúa, rồi giờ là vua, câu kết bè phái như ri mà nhà ngươi còn theo, chứng tỏ là ngu si! Thôi, không nói nhiều, lên đi thằng súc vật! Dám lấy cả bảo kiếm ra mà chém đi! Chém cho họ ta biết ta trung quân ái quốc!
Tru Man đao 誅蠻刀 tức đao giết tộc man di, là thanh đao mà Nguyễn Hữu Cảnh được cha là Nguyễn Hữu Dật truyền lại cho. Nhờ thanh đao này, Hữu Cảnh chu du khắp mà bình định Chiêm Thành, Cao Miên, đặt phủ Gia Định mở rộng cõi Nam.
Chỉ nghe là thế, song thực Tru Man đao lại không phải do Hữu Dật truyền cho mà là tìm thấy, khi đang ở trên núi thì gặp những tộc người đang ăn thịt đồng loại, ấy quá mà đem giết sạch, tâm can không tĩnh, mở gặp ông tiên mà răn đe, dậy thì thấy thanh đao đã đâm sẵn vào bụng mà khắc chữ Tru Man.
Ấy là nói Hữu Dật không nên tạo nghiệp giết kẻ mọi rợ, mà phải dùng thứ khác làm cho không bị ô uế, phải dùng đao thánh để giữ tiết hạnh. Sau truyền lại cho Hữu Cảnh, dặn chỉ được đem mà giết những kẻ thực sự man di, không được giết kẻ tội nghiệp, cùng khổ.
Đao ấy xuất phát từ việc Hữu Dật bị mơ rồi bị đâm, nay trên tay là Hữu Ca có ý nói Hữu Ba man di mọi rợ. Sẵn tiện nhằm bụng mà đánh mà chém, cho Hữu Ba “truyền thừa” tổ tiên.
Một phi của phái Hắc Hổ, đâm thẳng vào thanh thương của Hữu Ba mà may đỡ được. Chém liên hoàn mà làm trầy hết cả giáp, đâm phát nào giáp nát chỗ đó.
Nguyễn Hữu Ba không hay học võ Hắc Hổ, vì bản tính thích thẳng thắn, cận trọng… Đời hắn chỉ sợ ma, sợ quỷ chứ chưa bao giờ sợ người! Liền một đấm phát vào ngực thằng em trời đánh, bay ngã cả lui sau.
Bạch Hổ với Hắc Hổ gầm gừ nhau, lao tới vồ nhau mà đâm chém. Hữu Ba một kích vào đầu làm nát cả giáp của Hữu Ca, đầu óc vang trời, đương lúc ấy một xoẹt ngay nách mà phế đi tay trái, đạp ngay vai cho gãy rồi tai trái một phát giựt ra.
Lực đạo mạnh mẽ một phát làm Hữu Ca đau mà thét lên, dùng chân đạp bay Hữu Ba, lao lên xoay người chém mà đỡ một thương xoẹt qua của thằng anh. Không chú ý lại bị vả một phát đập thẳng xuống sàn.
Bị táng liên tục bằng đấm vào mồm tới gãy cả răng, gãy cả mũi, nhưng không phục là không phục. Lôi sau lưng ra khẩu hoả mai nhỏ nã một phát xuyên qua cả bụng của Hữu Ba, đá ra xa, ôm tay lủng lẳng như vòi voi mà mà cắn răng chịu đựng, lấy đao một chém vào bụng của Hữu Ba.
Tuy Hữu Ba đã vận công nhưng đao sắc khó mà chịu nổi, đã rồi còn bị đâm một phát phụt hết cả máu ra ngoài. Đây là chơi bẩn, vì Hữu Ba không biết tên này giấu sẵn súng trong người, gắn gượng mà để thanh đao cứa hết vào đống nội tạng trong người, hai tay đập hai vai của Hữu Ca mà khống chế xuống, để Hữu Ca không di chuyển được toàn thân.
Chỉ đợi có thế… “Song chỉ thu châu” vào mắt Hữu Ca, lôi hết mà giựt hai con mắt ra một cách dã man, nhét thẳng vào trong họng rồi đập đầu một cái cho nuốt luôn. Ôm mắt mà gào rống, con Hắc Hổ mất mắt, Hữu Ba cho một chõ ngay đầu gãy xương, tiếp lại mấy chỏ thêm vào ngực cho nát hết giáp với xương.
Can chửi Hữu Ba, nhưng vị Chưởng thủy được chức này là vì tính hào sảng, tính của Hữu Ca quá tự cao, tự cho mình là rốn vũ trụ mà ganh ghét lẫn nhau. Mấy chỏ một hồi, Hữu Ba chấp hay bàn tay mở ra, một chưởng vào ngực mà làm tràn dịch phổi của Hữu Ca, rồi hắn rút đao ra, ra cả mấy mảnh nội tạng đang chảy xiết thành dòng mà ngất đi.
Bữa mấy tên Tây y cứu hắn, phải khâu mấy muỗi vì rách nhiều chỗ, bỏ lại cực khổ mà nay hắn lại như vậy…
Dân Thanh Hà chừng đâu chỉ 2 vạn người, người dân thấy người từ các làng mạc xung quanh tới nhiều là đã thấy có điềm lạ, không nghĩ vài ngày sau đã chiến tranh. Dân số Đại Việt lúc này đâu đó chỉ 5 triệu dân ở Bắc Hà, Nam Hà tầm hơn 1,2 triệu dân, một làng đông nhât là ngàn người, đinh lấy từ 18 tới 59 tuổi, vậy tức một làng đâu đó có 400 đến 500 đinh là tối đa.
Có nghĩa là hiện tại đã điều động hơn khoảng 40 làng để đạt được số lượng binh lính của Thái tử, nhưng khó có thể tính là vì toàn là lính trả tiền, lính vào để kiếm cái ăn. Nên số này có thể chỉ khoảng 20 tới 30 làng, lượng ấy không hiếm, riêng một huyện thời Mạc đã có thể huy động được số ấy.
Hiện nay, dân cư đông đúc, Kim Trà xưa 72 làng thì nay đã 120 làng, ít nhiều huy động là thoải mái. Chính vì thế mà tổng quân của huyện đạt đỉnh là 5 vạn quân, song Cửu Thông chỉ đem 1,5 vạn chứ không mắc gì huy động cả lính toàn huyện. Còn lính của Phúc Luân đa số từ Phú Vinh, người đi biển nên rất nhanh nhạy, rắn rỏi.
Bên Cửu Thông sai người bắn vào Thanh Hà, làm cháy cả một khu Thanh Hương, người dân chạy triền miên cả ra về khu vực bên bờ sông Hương, chứng kiến cảnh mấy tàu bắn nhau chí chóe cháy dữ dội.
Dù không muốn, song Ngọc Yến tận dụng gió đổi chiều, liền sai người thả diều lên, một người phải 4 cái cầm liền nhau giơ cao lên làm Cửu Thông nhìn đằng xa không hiểu gì cả. Chỉ khi thấy mấy con diều cháy rồi bay xuống mới kêu lính bắn diều bay sang chỗ khác, sai Đỗ Văn Tâm và Nguyễn Cửu Lương đem mỗi tên 2 ngàn quân chạy vào Thanh Hà.
Chạy tới tấp ra khỏi Thanh Hà vì diều rơi xuống cháy phồng lên toàn bộ làng Thanh Tiên, người dân chạy tán cả ra. Đạo quân còn đem 1 vạn quân còn lại chạy theo, gọi bọn chạy tới tấp theo mà đánh vào phủ Tĩnh Phủ.
Ngọc Yến lần đầu đánh trận lớn như vậy, hắn ban đầu cũng hơi đau đầu vì tốn quá nhiều thời gian ở Quy Nhơn, mò mẫm sao vẫn không biết cách để đánh, nhưng có lẽ giờ hắn dần quen tới mức mà những kiến thức hắn từng đọc qua cho vui hiện ra ngay, lập trận hỏa mà đánh địch. Lên ngựa, sai Lý Văn Bưu cùng Châu Doãn Ngạnh lên ngựa ra nghênh chiến.
Sai quân lấy phân nhão ném hết ra đường, ngựa địch đi qua trơn mà ngã ngựa, Lý Văn Bưu một tiễn từ cung Kỳ Nam, con Xích Hỏa bay ra một găm vào ngay ngực làm Đỗ Văn Tâm chết ngay tại chỗ, đúng theo cái tên của hắn là “Tâm” tức trái tim.
Nguyễn Cửu Lương yêu cầu quân của Tâm theo hắn, tản ra 4 đường mà vào chiến với quân địch. Một mình một trường đao như cha xoẹt cái là đứt ngang người một tên, một quạt bay 4 đầu làm lính sợ mà chạy hết. Còn lính đối lính thì bình thường, đao của quân triều đình lâu không bảo quản nên nhiều thanh chém cái đã gãy, giáp thì mềm hơn đối phương mà dễ vài chém đã vỡ, xuyên hết vào lồng ngực, vào đầu.
Đối diện Cửu Lương là Châu Doãn Ngạnh, cưỡi Bạch Mã che mắt, tay thì cầm điểu thương có lê. Doãn Ngạnh rất thích súng do Ngọc Yến cải chế thêm, rất hợp hắn, vừa thích đâm của thương mà vừa thích bắn cung không quá khó. Dơ súng cái đoàng là Cửu Chương ngã ngựa mà dính mặt vào… phân.
Bực tức đứng dậy, lao tới tung một cắt nhằm chân ngựa, ấy thế Doãn Ngạnh lại đạp thân ngựa cái là ngựa nhảy lên, kéo cương là ngựa đà chân sau tới, làm Cửu Lương khắp ngươi hôi rình, không chịu được.
– Ha ha ha! Tặc nhơn! Dính c*t thơm hông (không) hả mậy!? Phù tá thằng chi chi… à Phúc Loan! Hèn chi dân cực vãi, ắt toàn do tụi bây hết! Chết đi!
Nhảy từ trên ngựa xuống mà đâm thẳng lê vào tay của Cửu Chương, làm tên này đau quá lên, tung đao thì bị Ngạnh lộn nhào đáp phát gãy lưng. Lối đánh của Doãn Ngạnh là nhanh nhưng phong tú, dựa nhiều đòn chân như ngựa, Võ Thần của hắn là Bạch Long, nhưng giờ chưa hiện ra vì vẫn không coi đối thủ là kỳ phùng.
Cửu Lương thì đau lưng qua, dẫu Ngạnh nhảy ra xa, nhưng mồm dính phân chẳng thơm tho gì. Phóng đao tới mà bị Ngạnh né, lao tới dùng võ Ô Long thường gồm trảo vào hiểm huyệt mà đánh, nào là Ấn Đường, Cực Tuyền, Đản Trung… đánh tới tấp nhưng không qua được lớp giáp của Ngạnh, vì giáp Thanh Hà chuẩn hơn giáp mà bọn chúng dùng nên khó xuyên qua.
Không để ý mà bị một đấm xoáy của Doãn Ngạnh đánh bay lui, lướt tới một chân phải đạp chảy máu mấy cước liên tục. Nói chung là tên này gà, chẳng đủ thấm Doãn Ngạnh, lấy lê đâm xuyên họng và lưỡi mà hất qua hất lại rạch cả một vết lợn ở cả trước sau của Cửu Chương.
Quân triều đình bắt đầu loạn, giáp đánh thì khó xuyên qua, đao kiếm thì tốt hơn, điểu thương thì thua không có lê. Thường mất 25 đến 30% là tan rã, chạy tứ tung mà bị lính Thanh Hà bắn chết, chém mà đuổi theo. Nguyễn Cửu Chương không cản nổi, một trường đao ném thẳng vào phía bọn kia, mặc mấy tên chết nhưng vẫn không dừng chạy.
Song chạy thì phía Hương Giang, phía cháy ngổn ngang không biết như sao, nhiều kẻ chọn bơi qua sông mà bị đón đầu chém giết. Dương Văn Luyện với 1 ngàn quân đóng ở Nam Thanh phía Tây Thanh Hà thấy cảnh đó thì sợ mà chạy đi luôn, một toán quân tinh nhuệ theo Cửu Thông vứt ngựa đi, lao vào Tĩnh Phủ mà ra sức tìm kiếm Phúc Luân.
Sở dĩ như vậy là vì phủ Thanh Hà nhỏ nhoi, chắc chắn Phúc Luân không chọn mà ở được. Nhưng vào trong đập phá chỉ thấy một Ngọc Cơ ngồi tu rượu trong chính điện mà thôi, bọn lính bỗng nổi lòng tham mà lao vào. Nhưng mới nửa bước đã bị gươm lửa chém bay tay, mất nửa đầu… Mang trên người bộ triều phục, Phúc Luân và Phúc Cường cầm côn nhị khúc đứng canh sẵn ở gần đó bay ra.
Thấy khó ăn, Cửu Thông chỉ bảo :
– Thái tử biết rồi thì thôi… Đối đầu là tất nhiên rồi, thôi chừ ta rút quân, hồi sau sẽ đánh trở lại!
Thuyền cháy sáng cả Thanh Hà, bao nhiêu kẻ chạy bộ lê máu về kinh thành. Làng Thanh Tiên sáng hôm sau đã bị cháy gần trụi sạch, dân chúng phải ra sức mà kéo xác mấy tên lính và thương binh, liệt sĩ để đem đi chôn cất. Đầu của 3 tên tướng được treo lên tại chợ Thanh Hà, xin táng mộ Nguyễn Hữu Ba vào một khu riêng.
Bao nhiêu dân đều được ổn định lại, hợp quân với bên Hóa Châu mà chiếm cứ Nam Thanh, dân quân Thanh Hà còn 1,6 vạn quân, đưa quân chạy đi chiếm đóng làng Lại Ân, đưa Trịnh Bình quản làng ấy. Nhanh chóng chiếm các làng ở giữa hai nhánh sông Bồ và Hương, đánh động dân quân phò Thái tử đánh giặc giã.
Trong khi đó, một toán quân của Mai Đức Nghị tại làng bánh bèo – lọc Đức Bưu cũng hưởng ứng. Tất cả là vì chiếu cầu hiền tài phò trợ đánh quyền thần của Ngọc Yến viết cho Thái tử…