Chương 110 : Thanh Hà hồi
Có qua bảo về sự tình mà Văn Hiến cho là Nhạc đang có ý phò Vũ Đế, bèn thôi chứ ông ta cứ bảo rõ tính Nhạc thì sao mà cứu? Hắn dẫn cả Châu Doãn Ngạnh và Lý Văn Bưu, cùng gia quyến của chúng mà lên thuyền ra Thuận Hoá.
Đây âu cũng lần đầu bọn chúng đi thuyền, mà vẫn là chiếc Thanh Hà với thêm mấy thuyền nhỏ hơn gồm 5 chiếc hộ tống xung quanh. Hoạ tiết lần này trang trí vàng bạc, châu báu nhiều hơn khi trước nên chúng nhìn vào mà trầm trồ…
Ngọc Yến kiểm lại thời gian ở Quy Nhơn : dẹp được tầm chục cuộc khởi nghĩa nông dân nhỏ, tạo uy tín của quan triều đình, khảo coi tình hình dân cư ngoại xứ, rồi chiêu mộ nhân tài, gặp thêm… Nguyễn Huệ.
Gần thắng trận thì đâu ra thanh Ô Long đao đó thế nhỉ? Hình như theo truyền thuyết phải tận đoạn Nguyễn Huệ bắc tiến qua đèo Bình Đê mới được tặng cơ mà? Hay do hắn chơi ác quá mà phải phá lệ cho trước?
Thực Quy Nhơn thiếu lương dã man, hắn thực thấy vậy. Với nhiều xứ khác chẳng kém gì bao nhỉ? Việc ấy nên tâu với triều đình.
Lần này suôn sẻ, 7 ngày đã tới Thủ Yểm. Dọc có qua Thanh Hà thấy nơi đây phủ đệ xa hoa, trại lính tốt hơn, nhà cửa đầy đủ khang trang, cửa hàng nhiều hơn trước.
Người Quy Nhơn vào đây rõ quê mùa, nhìn khắp nơi mà mua món nào cũng mua. Hắn thì chống gậy mà đi do dư chấn từ cuộc chiến mấy dạo trước.
Hắn tuy lờn nhưng khi gặp thần khí vẫn chút run sợ, thấy Nguyễn Huệ cầm đại trường đao với sát khí trùng trùng như vậy quả thực mệt mỏi. Nhất là vì uy áp mà nó tạo ra, gây nhụt chí cho bọn đối đầu.
Trên đường thì giải giáp cho quân lính về nhà, hắn đi tới đâu người ta đều nhận ra mà chào. Khúc đoạn lại qua mà vào phủ Thanh Hà cũ, ngôi phủ bây giờ khang trang, chạm khắc tinh xảo hơn thời của hắn rất nhiều.
Vào là gặp ngay Phúc Loan, Cửu Thông với Phúc Cường đang ngồi ăn cơm trưa với nhau. Cửu Thông mặt dày, giả nhân giả nghĩa mà chào :
– A! Đây rồi! Nữ Như! Qua bên ni ngồi ăn nè! Mấy bữa ni đợi người mãi mới lộ mặt ra.
Kéo ghế gỗ thị mà ngồi vào bàn, xung quanh treo đủ tranh ảnh khung cảnh, hắn chỉ lắc đầu mà ngao ngắn. Thứ duy nhất cứu cánh bây giờ là đồ ăn.
Ở Quy Nhơn, họ lấy cá làm thức ăn chính do thiếu thốn về lương, về điều kiện đồ ăn. Hắn thân lại ghét cá vô cùng, ăn là phải cố chứ dân ở đó chưa biết làm đậu phụ, món ruột của hắn.
Người ta ăn là ăn cá mới đem lên, làm ngay canh, hấp với nướng lên mà ăn luôn. Vì Quy Nhơn thiếu muối, thiếu rất nhiều hơn Bình Định, mà Khắc Tuyên với phú hào lấy ăn gần hết, hắn đem đi cho lính ăn cho có sức, cho hợp khẩu vị Thuận Hoá, chứ hắn phải chịu khổ mà ăn kham.
Mấy tháng không ăn muối làm hắn suy nhược hẳn, thiếu sức làm nhiều điều, nay về Thuận Hoá có muối dư dả thì quý tới nhường nào.
Cười cười rồi hỏi, Trương Phúc Loan có mấy ý muốn nói :
– Ngài chắc nhận thư rồi chơ? Nghe nói ngài hay qua lại với Tây Dương, biết rõ tiếng của chúng, muốn ngài xin cho chúng có một người vô coi cho bệnh ông Ngự (cách gọi vua thời xưa theo kiểu dân gian)… Ta và Chưởng dinh đều lo lắng cho sức khoẻ của ngài Ngự, mong sao ngài mong tới, nên ngày mô cũng tới đây, kiên trung mà chờ đợi.
Nhồm nhoàm cơm trong mồm, hắn cảnh giác mà hỏi :
– Ông Ngự bệnh chi?
– (Thông) Ấy chà! Ác mộng triền miên, sức khoẻ thì suy kiệt, nếu không sớm thì muộn ắt sẽ chết sớm đó! Ha ha ha!
– (Cường) Ê ê mả cha cái tên ni, phụ hoàng bệnh mà cười rứa hả?!
– Ơ dạ thần xin lỗi.
– (Ngọc Yến) Hừm… đồng tử nhỏ lại không? Hay nôn mửa ngứa ngáy không?
– Có hết! (Phúc Loan)
Tựu chung đều là triệu chứng của chết vì sốc ma tuý, nhìn khuôn mặt hai tên thủ phạm ngay trước mắt giả đạo, hắn tự thấy ghê tởm. Tính kỹ lại hôm nay đã ngày Đinh Hợi (30) tháng Ất Mão (6) năm Ấy Dậu (1765) thì tức là mai Vũ Đế mất, vậy thì ra sức làm gì?
Rồi cái đâu còn tên nhóc nào đi vô, nghênh ngông vô cùng. Vào mà nhảy vào bàn ăn, nhai chóp chép.
– (Phúc Loan) Ấy! Hoàng tôn! Ngài ăn đừng chóp chép rứa, hồi ta mua hồ lô của bọn Tàu cho ngài ăn nhá?
– (?) Hừ! Ngươi biết là tốt.
Tên nhóc mất dạy này chính là Nguyễn Phúc Dương 阮福暘, là con của Cả Chương. Đích tôn dòng trưởng của họ Nguyễn Phúc, ấy hỏi Phúc Cường mới rõ ra. Tên nhóc mồm mép văng thức ăn tứ tung, gắp loạn xạ xem miếng nào ngon thì ăn.
– (Yến) Răng ngài lại đưa hoàng tôn về đây? Giữ lại ở Kinh chơ mắc chi đi cho xa?
– (Loan) Ây…! Do công đức ngài mà? Âm thuỷ tư nguyên (Uống nước nhớ nguồn)! Chừ (giờ) đất Thanh Hà là chốn phồn hoa, nhiều của ngon vật lạ, đi chơi là phải thôi! Chưa kể cũng được tính vô một phần của Thủ Yểm, không cần chi phải xin phép!
– Thế… à? Thôi ta xin đi vào Kinh coi có chi, ăn chừng ni đủ rồi.
– Ấy? Để tụi ta đi luôn! Tiện đường mà? (Thông)
Không muốn mà từ chối, hắn xin con ngựa mà chạy riêng một mình về cái nơi mới gọi là Thủ Yểm kia. Sợ đi chúng với chúng, Phúc Luân lại nổi đoá lên mà đi đánh nhau với hắn nữa.
Đường thì thấy chữ phiên âm được ghi rộng rãi cạnh cả Hán – Nôm, người ta đọc sách hắn viết rất nhiều là đằng khác. Hắn có ghé qua thì gặp tiệm thư viện giờ lớn hơn thật, mà Hoàng Kim Việt cũng không còn nơi đây…
Hỏi qua thì chúng trong vẫn nhận in sách, mà giờ thuộc quản lý của Ngọc Cơ rồi. Kim Việt lại tham gia vào nghiệp lính, không theo nghề coi hàng nữa.
Thấy mấy tập “Việt Nam Quốc Sử Toàn Lục” tập 4 và 5,6 với nét chữ là chúng biết ngay ai viết, bọn này đều lính mới hôm nay trực nên thành ra không rõ, chứ đi ra đã thấy người đi mất tăm rồi. Chúng lại không chú ý chứ nhìn trẻ mà mang kính thì chắc chỉ mình hắn.
Trên đường thấy nhiều nơi dân ngoại cũng tới ở, đa số là thương nhân hoặc giáo viên. Càng ngày hình như trường học càng đông, đủ các loại dân tới học.
Đâu ra thì hắn cũng muốn vào mà coi một chút, nhưng đi qua thấy có kẻ gãy chân mà tìm không ra được thầy lang. Hắn tới coi thì té ra chỉ là bong gân mà cứu qua, bỗng có ý nghĩ sau nên lập bệnh viện công để người ta biết chỗ mà kiếm, chữa bệnh sau chứ nhỉ? Nói thế chứ vào trong trường thăm một tí đã.
Bị cản lại, một cụ già không cho hắn vào. Chốc sau thấy Ngọc Cơ ra uống nước, mới kêu lại, nhìn qua mà cho hắn vào. Thế mà mới bỏ đi nửa năm đã thành người lạ nơi đây rồi.
Ngọc Cơ đang dạy môn nữ công gia chánh, phổ biến đạo làm nữ hiền cho người xung quanh.
– Nhà ngươi về do nhận tin phụ thân à?
Ngọc Cơ đang lúc mới nghỉ tiết, thấy hắn mà vô cảm hỏi qua xã giao cho vậy.
Ngọc Yến chỉ tặng cho Ngọc Cơ… một thùng cá Quy Nhơn. Còn đâu hắn phải lo đi qua bên lò đan lát mới lập, nhờ may cho mấy con diều.
Theo lệ : Hoàng đế hay Vương tử chết, thì phải mấy ngày sau mới tuyên cáo. Hắn nhớ việc ấy mà nghĩ còn nhiều việc phải làm gấp,
Đang mùa khá nhiều gió, hắn đây muốn dùng hoả công để đánh nếu có loạn. Thư từ của Phúc Luân có bảo lính riêng của phe phái của hắn đang dồn hết ra ngoài chỗ Thanh Hà rồi. Tính đâu khoảng 2 vạn quân tất cả.
Hoả công là lối đánh dùng lửa để đánh địch, như việc trồng rừng mà đốt hắn đánh Tây Sơn, hay người Xà Đàng phun lửa cũng có thể coi là một kiểu như vậy.
Hắn kiểm coi kho của Phúc Cường có bao nhiêu thuốc súng mà đem ra hết, tiền đều đem đi mua thuốc nổ của người Tàu cập cảng.
Hoả công thường dựa vào hướng gió, muốn đỡ phụ thuộc thì phải dùng diều.
Diều được làm bằng vải, giấy, và nan tre như thường. Được ngâm thêm rượu cồn nồng độ cao, tẩm thêm giấy gió là dầu trám, da diều thì tẩm lưu huỳnh, diêm tiêu.
Dây diều là dây gai dễ cháy, đuôi diều thêm giấy mà bằng cỏ bấc đèn. Làm chừng hơn ngàn chiếc, chuẩn khi nào đánh thì đốt dây mà cho diều cháy mà rớt xuống chỗ của địch.
Ra sức mà đốc thúc và thuê thêm người làm diều, mà còn huy động thuê, mượn tiền mấy họ xung quanh mà đóng thuyền ghe nhỏ và cỏ.
Một cách đánh lấy ít địch nhiều khác là dùng trận địa hỏa thương bằng ống tre nhồi thuốc nổ, nhét thêm mũi tên, mảnh gang mà chôn trong lòng đất.
Cần đến 100 – 200 thân cây tre núi to để làm hỏa thương, mỗi thân dài hơn 5 thước, miệng rộng 2 tấc. Đoạn đầu thân tre đục thủng lỗ to, đoạn dưới nhồi đầy thuốc phun và thuốc súng.
Sau đó dùng ống tre nhỏ dài 3 tấc, cắm vào đầu hỏa thương làm miệng. Trên miệng lấy giấy cắt ra thành mảnh nhỏ rồi lấy hồ dán kín miệng ấy. Bên đầu hỏa thương lại dùi một lỗ nhỏ để làm chỗ dẫn lửa.
Khi được chuẩn bị xong xuôi, các ống hỏa thương sẽ được chôn xuống những rãnh hào hình chũ bát, mỗi ống cách nhau hơn 3 thước. Miệng hỏa thương để lòi ra 1 tấc, phần còn lại thì chôn sâu dưới đất.
Tại chỗ giáp rãnh chữ bát đào một hốc sâu 4, 5 thước để đặt đá lửa và dao sắt, để làm máy đánh lửa. Sau đó đặt ngòi dẫn lửa từ máy đánh lửa đến lỗ ngòi của các hỏa thương. Cuối cùng lại lấy cát, cỏ phủ lên ngụy trang trận địa, không để địch biết.
Khi lâm trận, quân ta sẽ khiêu chiến rồi giả thua và cứ nhắm vào trận địa hỏa thương mà chạy. Khi giặc chạy xéo vào dây đánh lửa thì dao và đá cọ xát nhau mà tóe lửa, lửa cháy vào ngòi thông đến hàng trăm ống hỏa thương, các chất cháy bùng nổ trên một diện tích rộng tạo nên một biển lửa khủng khiếp thiêu cháy quân địch.
Hắn chuẩn bị như vậy là vì hắn rành, còn đâu lính vận như sau hắn không rõ lắm. Đang làm diều, thì Phúc Luân cũng tới mà đón hắn, cùng với hai sư thầy sư huynh.
– Ngọc Yến! Làm chi mới về làm nhiều diều với thuyền rứa?! (Hữu Đông)
– A! Kính chào Thái tử, sư phụ, sư huynh!
– Ngươi tánh làm cái chi ri? (Luân)
– Chuẩn bị đánh giặc, bọn loạn tặc sắp nhanh, mọi người ngồi xuống ta bàn mau…
Đúng ra thì quân của Phúc Luân phải tan rã khi bị bắt, mọi chuyện đều tan thành mây khói. Mỗi lần gặp là mỗi lần chẳng hiểu nổi Ngọc Yến, nhưng đánh rất đa dạng kiểu.
Giờ trong vài ngày phải lôi hết Lê Cao Kỷ và Trương Văn Hạnh về Thanh Hà cả. Thăm dò xung quanh, thấy có mấy xã làng đã có lính theo phe Nguyễn Cửu Thông, đơn giản là vì bọn này bỗng nhập một đống giáp và súng vốn không được trang bị cho lính làng xã.
Toàn bộ thuyền bè của quân Thái tử đều được chuyển về Thanh Hà để bảo toàn lực lượng, lực lượng quân địa phương chỉ quanh quẩn đâu quanh sông Hương và Thanh Hà mà thôi.
Ngày mấy liên tục, huy động toàn dân thủ công, dân nghèo mà thuê làm diều, thuyền và ống tre nổ.
Phúc Luân cũng không trở về Thủ Yểm, thư của bọn loạn thần gửi xin Thái tử về, cho đúng đạo tắc cha bệnh con về lo canh trông.
…
Trương Phúc Loan lo toan vô cùng, tiệc ăn với Cửu Thông, với thêm mấy tên họ Nguyễn Hữu, Nguyễn Cửu, Tống Phước… Thêm vài tên Nguyễn Phúc ăn cơm mà tính toán.
Bệnh tình Vũ Đế ngày càng nặng, ngày thăng càng ngày càng sớm. Phúc Loan sớm đã lấy lòng đứa trẻ tên Phúc Dương kia, chuẩn chỉnh chỉ cần Vũ Đế mất đi mà đưa lên, bắt Phúc Luân mà giết đi.
Nhưng giờ lại tập trung hết binh lực về phía Thanh Hà, chặp dần Phúc Loan cũng chẳng biết sao chặp Thanh Hà càng khó quản, không thể nào chấp nhận được!
– Chừ giờ như răng? Cứ đợi bọn chúng tụ quân à? Phải lo mà động quân liền đi chơ?! (Nguyễn Hữu Ca 阮有釓)
Hữu Ca lên tiếng, hắn làm Tả hữu Cai cơ trong triều, thực ra không thuộc dạng mất dạy, loạn, nhưng lại có hận với Nguyễn Hữu Ba.
Tuy chung một giuộc, song từ nhỏ bị Hữu Ba ăn hiếp, Hữu Ba là dòng trưởng nên tuy nhỏ nhưng lại làm bác của hắn. Hữu Ba lúc nhỏ hay làm mấy chuyện khó cho Hữu Ca, nên rất là ghét thằng bác của mình.
Cũng vì cơ chế con ông cháu cha, cả hai tên đều muốn chức Chưởng dinh Thuỷ hộ, nhưng phận dòng thứ mà bị bỏ qua, để cho Hữu Ba làm tước chính.
Suy nghĩ một hồi, Nguyễn Cửu Thông thân tước Chường dinh mà phát ngôn lớn cho cả cái điện nghe :
– Chuẩn bị đi… lên giáp mà vài ngày sau chuẩn bị thuyền tiến thẳng vào Thanh Hà. Chiếm rồi đốt hết nếu ai kháng cự, tiên phát chế nhơn!
– Ngài Chưởng dinh chí phải! Lính quanh vùng cũng được cho sẵn sàng mà đánh! (Hữu Ca)
– Ta phải cho lý! Lý là Thái tử tự ý tập quân, có ý định cướp ngôi mưu phản, kêu gọi toàn dân chống lại, là ổn nhất! (Trương Như Tế)
Trương Như Tế ganh tị với tên đồng học, nên đã đầu quân mà làm cho Trương Phúc Loan. Định sẽ cho tên này về làm gián điệp, báo việc quân ở Thanh Hà cho bọn chúng, nội gián phía trong.
Bên phía Thanh Hà, Ngọc Yến và các tướng lĩnh đốc thúc thuyền ra chiếm cứ sẵn hai làng Thai Dương Thượng thượng giáp (Hải Dương) và Thai Dương Thượng hạ giáp (Thuận An) mà án ngữ lối ra biển của Thanh Hà, quân hơn ngàn quân ra thủ với khoảng 15 thuyền chiến.
Thành Hoá Châu gần đó cũng đốc lính, bí mật tối mà đưa trộm hàng hoá vào thành.
May cho Ngọc Yến : thời gian ở Quy Nhơn tuy ngắn ngủi, song lại đi dẹp loạn nhiều, giúp cho khả năng đánh giá địa hình, dàn chiến của hắn tốt được thêm vài phần.
Giờ còn thêm gặp lại Étienne… Lão già thật, mấy tháng thôi đã bạc phơ đầu tóc, râu ria um xùm. Lão chính là lý do một đống người Pháp tới đây để giúp phụ làm động cơ, làm dệt máy.
Chính sách của Phúc Cường không có gì mới, người dân ở đây thấy người Tây Dương thì đôi phần sợ hãi, sợ bị mất việc. Ngọc Yến đề xuất vấn đề tạo điều kiện để người Tây Dương học tiếng Việt… hơi khó nhỉ?
Mà nhiều người đau bệnh, có bác sĩ Tây Dương với Việt Nam chu toàn mà lo. Bệnh sốt rét thì xin bắt dân đun sôi nước trước khi uống, bảo dưới nước nhiều phân của thuỷ quái ô uế mà doạ nạt. Nuôi cá trong chum, lu để giết muỗi đi.
Phân biệt thì cũng có song thiện cảm là chưa mất, cha Michael với đám giáo viên rất được người dân coi trọng.
… Đâu ra giờ còn có tên sản xuất ra cối xoay nước, bước đầu còn thuê cả người Tây và Việt, Tàu vận dụng mà giặt quần áo, xoay lúa số lượng lớn ven sông. Ấy nhưng này phải làm trên thượng nguồn mới mạnh và hiệu quả lận.
Tên thì làm ra mỏ cày nhờ cải tiến từ máy bán nước mía… Giáo dục theo kiểu Tây Dương mới mong sự đổi mới, sự tiến bộ trong khoa học kĩ thuật được. Ngọc Yến dân xã hội cũng mong dân tự lo chứ hắn khó có thể lo mãi việc tự nhiên.
Ghé qua lò đúc, một đống dây dợ nối mấy khối sắt, với một đống ròng rọc để tán bớt lực đi để làm nên hệ thống đúc khuôn bán tự động. Vứt bỏ đống áo quần nhà quan, hắn tham gia cùng mấy anh em xưa lại nghề rèn với nhau.
Étienne cũng tạo hệ thống dây và ròng rọc để tối ưu hoá việc tôi thép, à đâu? Là do Hoàng Như Lại với con lão chế cháo ra, cột mấy cái thép hoặc thành phẩm vào dây mà nhúng vôi, tôi sắt thép nhanh hơn.
Nhược điểm là tuy nhanh nhưng chất lượng không cao, phải có kẻ canh, không thì đang nghiên cứu cách gắn động cơ hơi nước thêm vào cho đều.
Trang bị như đao kiếm quý thì toàn bộ rèn tay, nhưng đôi lúc hắn cũng tự hỏi có thần khí thì rèn vũ khí làm gì? Song ngoài rèn vũ khí cho binh sĩ thông dụng, thì nghề rèn còn rèn thêm mấy thứ khác trong đời sống con người, thông dụng mà thời này khó thiếu.
Nghiên cứu về tướng địch, rõ ràng có Nguyễn Cửu Thông người cao lớn, mình đồng da sắt, theo võ phái nào không rõ, đao Ô Long của hắn thần hay không cũng không biết?
Thêm mấy tướng như Nguyễn Hữu Ca, Tống Phước Luận đều là tướng đường thuỷ, một tên thì đang có hận thù với Hữu Ba, tên thì thù Ngọc Yến vì bắt bớ con gái nhà hắn.
Đường bộ là 3 tướng Dương Văn Luyện, Đỗ Văn Tâm, và con trai Cửu Thông là Nguyễn Cửu Lương 阮久涼, bọc đầu từ hai phía Lại Ân – Thanh Tiên và Triều Sơn Trung là dễ dàng nhất.
Thời gian bị đưa vào Quy Nhơn, hắn không kịp bày binh bố trận mà giờ gấp rút như chim tìm đàn. Thế cục tốt nhất là né Thủ Yểm mà đi, Phúc Loan đương nhờ hắn như vậy là có ý dàn xếp sẵn, đợi lúc Vũ Đế mất thì bắt giam hắn ấy mà?
Trong cái lúc tất bật chuẩn bị của hai phe, Ngọc Yến lại tối nào cũng nghĩ coi việc luyện võ.
Hắn nhận ra trước giờ ham lý luận mà chểnh mảng việc học võ đi. Võ chia thành nhiều bài ai cũng biết, song đều qua phú hoặc thơ mà thuộc. Hắn đây vẫn còn tự trách việc gây ra vụ thảm sát Chăm, cũng như sợ sau Lão tử chơi to như Vishnh, thì không ai cản nổi Nguyễn Huệ.
Đáng lẽ mấy tên đó thực không phải xấu thì hắn đã không tha… Mà sự bảo kê của Lão tử cũng làm hắn khó theo, nếu được trở lại, hắn sẽ cố mà đánh chết luôn Huệ mặc Lão tử can ngăn.
Là hắn quá nhân từ thì cũng đúng, có phần là do muốn thỉa cái tôi nữa. Việc để Nguyễn Huệ lớn hơn một tí, đánh nhau thì sẽ vui hơn là bóp nát một quả dưa khi nó còn là hạt…