[Tiền truyện 26]: Con diều biển và hành trình ra Bắc(1)
Trước khi thuật việc Nguyễn Huệ hạ thành Phú Xuân, ta không thể không nói đến một nhân vật đã đóng vai tối qua trọng trên sân khấu chính trị bấy giờ.
Người ấy là một vai “công kênh” để Nguyễn Huệ “trèo” vào thành Phú Xuân.
Người ấy là một dịp cầu bắc để Nguyễn Huệ từ Phú Xuân nhảy một bước ra Bắc Hà.
Người ấy là anh “dàn cảnh” để vua Lê Hiển Tông sống lại một ngày oanh liệt.
Người ấy là anh chàng “đánh hôi”: đạp đổ cái ngai chúa Trịnh Kiểm (1545- 1570) đến Trịnh Khải (1782-1786).
Người ấy lại là một bác “mai dong” khiến Ngọc Hân Công chúa nhà Lê được đẹp duyên với anh hùng Nguyễn Huệ.
Nói tóm, người ấy là một tay núp sau Nguyễn Huệ, xoay trở thời cục hồi cuối Lê một cách ngửa nghiêng điên đảo…
Người ấy là ai?
Nguyễn Hữu Chỉnh, tức Cống Chỉnh!
……
Chỉnh, người Đông Hải, huyện Chân Phúc, trấn Nghệ An, vốn thông mẫn và có tài năng từ thuở bé. Mới ít tuổi đã đỗ Hương cống. Sau tập võ nghệ, Chỉnh lên kinh sư, thi Tạo sĩ, nhưng không đỗ.
Tức mình, xoay phá ngang, Chỉnh vào yết kiến quận Việp Hoàng Ngũ Phúc, kiếm một con đường tiến thân ngoài lề lối thường.
Thấy Chỉnh là người kỳ kiệt. Phúc dùng làm môn khách: giắt nghiên cài bút theo đi tòng quân.
…………..
Năm Giáp Ngọ (1774) nhân có việc Ngũ Phúc quyền phong Nguyễn Nhạc làm Tráng tiết Tướng quân, Chỉnh được sai đem đến cho Tây Sơn sắc, ấn, cờ, kiếm: Lần thứ nhất Chỉnh chạm trán với anh em Tây Sơn. Khi về, Chỉnh có nói với Ngũ Phúc:
“Anh em Tây Sơn là tay ngấp nghé khác thường, chắc không chịu ở lâu dưới ai đâu.”
……..
Nhưng trong khi đang mải miết tìm một lập trường trên mảnh đất chính trị ấy, Chỉnh có biết đâu rằng dânchúng ở tầng lớp dưới đương chết đói vì hạn hán, mất mùa. Nguyên, bấy giờ thóc đang kém, gạo đang cao, nhân dân đang thiếu đói; thế mà đến tháng Bảy mùa thu năm Bính Thân (1776) lại gặp cơn đại hạn, đồng ruộng cháy khô, nhà nông không sao làm được công việc. Những người nghèo khó hết qua cửa quyền nọ lại đến nhà sang kia cũng không sao kiếm được một chân làm thuê, làm mướn. Vì vậy, trộm cướp nổi lên như rươi, khuấy nhiễu chốn dân dã, làm cho người ta không sống yên được.
Sau khi Ngũ Phúc qua đời, Chỉnh nương tựa nơi con nuôi Phúc là quận Huy Hoàng Đình Bảo.
Hồi Đình Bảo đóng ở Nghệ An, Chỉnh được sung chức võ, làm hữu tham quân. Giữ việc điều khiển các thủy thủ chống giữ mặt biển, Chỉnh tỏ ra là một tay nhanh nhẹn giỏi giang về nghề thủy chiến. “Con Diều biển” (Hải diêu)! đó làcái tước hiệu người ta kêu Chỉnh để khen tặng Chỉnh trong hồi bấy giờ.
………
Chẳng bao lâu “Con Diều biển” đó được quản Tiền Ninh cơ ở Nghệ An và được phong làmBằng Lĩnh hầu.
Cuối đời Cảnh Hưng, Trịnh Sâm phế con trưởng là Trịnh Tông, lập con nhỏ là Trịnh Cán. Và, để giữ vững địa vị cho con nhỏ này, Trịnh Sâm giao quyền bính và việc gửi gắm vào tay Hoàng Đình Bảo.
Nhưng, như trước đã nói, sau khi Sâm mất, chư quân nổi cuộc đảo chính (tháng mười, năm Nhâm Dần (1782): Phế Trịnh Cán! Lập Trịnh Tông! Giết hại phe đảng Đình Bảo!
Tin biến động đó do biền sinh Hoàng Viết Tuyển, thủ hạ Chỉnh, từ kinh báo đến Nghệ An: Cống Chỉnh sợ!
Đứng trước thời cục gay go đó, giải quyết thế nào đây?
Có hai cách: Một là kéo cờ độc lập, thoát ly hẳn triều đình, Hai là… trốn!
Một ý nghĩ vụt nảy trong óc, Chỉnh vội sang bàn với trấn thủ Vũ Tá Giao:
“ Nguy đến nơi rồi! Chi bằng ta kết hạp với phó tướng ở Thuận Hóa là Hoàng Đình Thể và đồn thủ ở Động Hải là Khôi Xuân, xui họ giết đại tướng (chỉ Phạm Ngô Cầu) chiếm giữ lấy thành, đứng làm một tay cứu viện. Còn ông (chỉ Vũ Tá Giao) ông cứ giữ lấy trấn Nghệ An này, gây thế “thần xỉ” (môi và răng) với các tướng Thuận Hóa, rồi chẹn đường Hoàng Mai, đóng trọng binh ở Quỳnh Lưu. Như vậy có thể giữ vững được lâu dài. Còn việc phòng giữ mặt biển thì chính Chỉnh này xin cáng đáng hết. Ông tính sao?”
Tá Giao lắc đầu:
“ Việc ấy tôi không làm nổi.”
Kế thứ nhất đó không thành. Chỉnh phải tính đến chước thứ hai: chạy!
………………
Chạy vào Quy Nhơn (1782) sau khi Chỉnh từ giã Tá Giao về nhà.
Chạy vào Quy Nhơn, Chỉnh được anh em Tây Sơn hoan nghênh nhiệt liệt!
Nguyên vì từ ngày vâng mệnh Hoàng Ngũ Phúc đem sắc, ấn, cờ, kiếm vào cho Tây Sơn Hiệu trưởng, Chỉnh đã được anh em Tây Sơn biết là con người thế nào rồi. Nay Chỉnh túng bước, cùng đường, phải dắt gia quyến và Hoàng Viết Tuyển vượt biển vào đây chính là dịp tốt cho Tây Sơn lợi dụng.
……..
“Cô gái làm đỏm vì người yêu.” Chỉnh, có thể nói, trổ tài vì tri kỷ. Mà việc bày mưu giúp Tây Sơn lấy Thuận Hoá là ví dụ.
Muốn lấy Thuận Hoá phải hiểu nội tình. Năm Bính Ngọ (1786) Phạm Ngô Cầu tướng Trịnh, đóng ở Thuận Hóa, muốn dòm nội tình hư thực của Tây Sơn, có sai bọn Nguyễn Phu Như và Võ Vĩnh Thành đi “thuyết” anh em Nguyễn Nhạc. Nhưng ngờ đâu Phu Như lại là cố nhân của Chỉnh, Chỉnh một phen miệng lưỡi moi được nội tình Thuận Hoá, vội cấp báo Nguyễn Huệ:
“ Quân sĩ đóng ở Thuận Hóa bấy giờ chịu ảnh hưởng xấu của chư quân ở kinh đô, cũng kiêu rông, cũng khinh lờn kỷ luật, làm nhiều điều tàn ngược tai hại cho nhân dân, gieo vào lòng họ một mối căm hờn vô hạn! Vả, phần vì mỏi mệt vì binh đao đã lâu, phần vì đi xa nhớ nhà, quân lính chẳng còn bụng dạ nào thiết đánh chác nữa! Ngô Cầu là kẻ vô năng, giờ có thể chiếm Thuận Hoá.”
Dù Thuận Hoá là miếng mồi ngon, nhưng Nguyễn Huệ còn chút đắn đo:
“ Họ Nguyễn chưa diệt, đánh giá khác nào để hai đầu thọ địch. Chờ thêm đi.”
Chỉnh gật đầu, nhưng lòng lo nghĩ, bởi từ khi vào chưa lập được công, sợ Huệ nghét. Bèn cho người đi dò la tình hịn ngoài bắc báo về.
Quat nhiên cơ may, họ Trịnh bấy giờ nội tình lại càng nhiều nỗi gay go: Từ tháng ba năm Bính Ngọ (1786) giá gạo cao lên vùn vụt, trong kinh kỳ và bốn trấn Đàng Ngoài bị nạn cơ cận giày vò: dân đói, chết như ngả rạ. Bấy giờ chỉ có bát gạo là đáng quý, chứ chẳng ai – dù là người giầu – thiết đến chức tước gì cả. Một chứng cớ: Chúa Trịnh Khải ra lệnh cho dân hễ ai quyên tiền thì được ban chức, nhưng không ai đáp theo tiếng gọi của triều đình, đến nỗi chúa Trịnh phải đem sắc lệnh ép gán cho nhà giầu để lấy tiền mà phát chẩn.
…………………
Có tin này, lại thêm Chỉnh nhiều lần khuyên. Tây Sơn quyết định khởi binh.
Ngày 18, tháng năm, năm Bính Ngọ (1786) dưới quyền cắt cử của Nguyễn Nhạc, Huệ làm Long Nhương Tướng quân, tiết chế các quân thủy bộ, Võ Văn Nhậm (người Quảng Nam, rể Nhạc) làm Tả quân Đô đốc, Nguyễn Hữu Chỉnh làm Hữu quân. Hai đạo thủy, lục bên Tây Sơn cùng tiến nhằm theo một đích: đánh thành Thuận Hóa.
Quân thủy đi đường biển. Quân bộ đi đường Hải Vân quan.
Ngày 24 tháng đó, quân bộ Tây Sơn qua Hải Vân quan, bốn mặt đánh thúc vào đồn An Nông: Thủ tướng bên Trịnh là Hoàng Nghĩa Hồ thế cô, sức kiệt, thuốc đạn hết, phải tự vẫn trên mình voi sau khi cố chết chống đánh một cách anh hùng.
……..
Đứng trước cửa thành, Huệ định cường công, Chỉnh thưa:
“ Cầu, đối với Hoàng Đình Thể, bấy nay vẫn đem lòng ghen ghét hằn học; mà Thể bất bình trước cách đối đãi ấy của Cầu, nên để ta viết bức thư kín phong trong sáp, hẹn Đình Thể làm nội ứng, nhưng giả đò bắn lạc vào nơi Ngô Cầu. Sẽ “tháo tung bó đũa ra, rồi sẽ bẻ gãy từng chiếc một.”
Huệ nghe xong tán thưởng. Quả nhiên khi nhận được thư lạc, Cầu nghĩ bụng:
“Thể và Chỉnh, trước kia, đều là môn hạ Hoàng Ngũ Phúc, bây giờ, chúng bí mật thông nhau, chắc có chuyện bất lợi cho mình! Vả, quân Tây Sơn đương như nước lụt ầm ầm đổ đến, Đình Thể nếu lại đứng trong làm nội ứng thì ta hơi sức đâu chống nổi với họ? Chi bằng xoay theo chiều gió, ta kéo cờ hàng là hơn…”
…….
Quả nhiên kế đó đem lại cho Tây Sơn cái kết quả đẹp.
Cầu chưa tính xong nước cờ bí; Nguyễn Huệ đã kéo hai mặt thủy bộ đến rồi!
Bất đắc dĩ Cầu phải làm việc “bổn phận”: sai Đình Thể đem quân ra ngoài thành nghinh chiến.
Sừng sững đứng ngay bờ sông, vách thành Thuận Hóa bấy nay vẫn ngạo nghễ với sương ghê, gió lạnh.
Chân thành cách mặt sông độ hơn 2 trượng. Một cái khó cho quân thủy Tây Sơn, vì không tiện ngửa lên bắn vào được.
Thình lình phát đại bác bên Trịnh bắnra: một chiếc chiến thuyền Tây Sơn chìm lỉm!
Thủy binh Tây Sơn hơi lùi.
Sau, nước sông lên to, nâng thuyền Tây Sơn lên cao ngang với mặt thành.
Súng Tây Sơn theo dịp may đó, cứ đùng đoành bắn vào thành, ngốn nuốt quân dân Thuận Hóa trong vòng khói đạn!
Các cửa thành bị quân bộ Tây Sơn rầnrộ bổ vây và ầm ầm đánh phá.
Hết sức xông pha, chống chọi, Đình Thể và hai con54 cùng quân bản bộ đã thịt được vài trăm quân Tây Sơn. Nhưng bây giờ thuốc đạn đã hết.
Thuốc đạn hết? Tướng tài đến đau cũng đành phải bó tay!
Thuốc đạn hết? Mặc! Phạm Ngô Cầu cứ bịt tai giả điếc trước những tiếng Đình Thể gấp rút đòi xin tiếp tế đạn dược và cầu cứu thiết tha!
Không thể nhịn tức trước thái độ tàn nhẫn đó của Cầu, Thể định quay về thành, giết phăng Ngô Cầu trước đã, rồi lại ra quyết “ăn thua” với quân địch sau. Nhưng Thể thấy trên thành đã kéo cờ trắng: đầu hàng rồi!
Thể vừa căm giận, vừa tức bực, nhưng vẫn không quên làm phận sự đến phút cuối cùng:
Thể, tay cầm đoản đao, thúc quân cứ tiến, vùng sang tả, quật sang hữu, chém giết một hồi, làm rụng đến vài mươi chiếc đầu của quân địch.
Hai con của Thể đã chết vì bị trọng thương!
Tỳ tướng Vũ Tá Kiên lại chết ở vòng trận!
Thể cũng tự vẫn trên mình voi, chết vì nghĩa vụ sau khi sức lực đã kiệt và thuốc đạn đã hết nhẵn.
Bên Trịnh, đốc thị Nguyễn Trọng Đang56 và nhiều tướng khác hoặc bị dấp dáy trong vòng loạn quân, hoặc bị vùi dập nơi hào nước, sẽ theo những hồn cô trung âm thầm rên rỉ trên bãi sa trường trong những đêm gió mưa ảm đạm!
Nguyễn Huệ ung dung kéo binh vào thành giữa những tiếng hò reo thắng trận của ba quân.
Để xin hàng, Cầu sợ cuống, vội sai trói mình đem nộp trước gót chân nhà chiến thắng. Nhưng, van lạy người ta cũng không xong, Cầu phải làm một tên tù binh điệu về Quy Nhơn, rồi bị giết chết tại đó!
Trước khi xảy ra trận chiến này, Thuận Hóa đã kéo bao người Nghệ An đến để chực kiếm ăn vì Nghệ có nạn mất mùa đói kém. Ai ngờ chưa tránh khỏi thần Cơ cận, họ lại gặp ngay con quỷ Binh đao! Họ, một hạng dân quê vì đói phải tha hương cầu thực, bỗng bị chết oan vì khói lửa: thây xác lấp nghẽn cả sông! Không những họ chết, ngay những tướng sĩ và “kiều dân” Bắc Hà cũng chỉ còn được vài trăm người sống sót chạy về thôi.
Sau khi hạ được, Nguyễn Huệ sai thiên tướng (cũng như tì tướng) là Nguyễn Lữ đánh hãm hai đồn Cát Doanh, Động Hải. Tướng Trịnh đóng ở Động Hải là Ninh Tốn bỏ thành chạy. Các tướng ở đồn Cát Doanh cũng theo gót trốn hết. Thế là mảnh bản đồ mà Trịnh Sâm trước đây đã nhọc công tốn của giựt được khỏi tay triều Nguyễn, nay lại lọt vào trong “túi” Tây Sơn!
Tiếng ca đắc thắng vang dậy một bầu không khí Thuận Quảng. Nguyễn Huệ hội họp chư tướng, bàn định lại sai quân lính sửa sang trường lũy ở Động Hải, cứ giữ mốc cũ La Hà, lấy con sông đó làm giới hạn ngăn chia Nam, Bắc.
Nghe lời Chỉnh, Nguyễn Huệ ra lệnh tha về hết cả mọi người các nơi đến nơi cư trú ở Thuận Hóa đã sống sót sau trận chiến tranh này.
Cờ chiến thắng của Tây Sơn đã cao bay ở thành Thuận Hóa,
……….
Tin chẳng lành nhưng bí mật ấy, triều đình định bưng bít không cho dânbiết.
Dẫu vậy, tiếng đồn đại mất Thuận Hóa, theo gió đông nam, cứ thổi thổi khắp dân gian!
Họ rùng rợn trước cuộc thế đổi thay! Họ cõng trẻ dắt già, nhốn nháo bỏ kinh thành, tìm nơi lánh loạn!
Họ, khi gặp cơn chiến tranh, cảm thấy mình bị bỏ rơi: từ tính mệnh đến tài sản, không có gì gọi là được bảo đảm lấy một chút xíu.
Dân chúng bỏ không theo. Binh lực rỗng tuếch.
Họ Trịnh đương dắt nhà Lê lảo đảo bên vực rỗng không!