Chương 311: Người dập lửa chẳng thể thành kẻ đốt nhà
Ngự Thiên từ khi có giao ngôn bủa vây không khí phần nào ảm đạm, việc buôn bán dần chậm lại, dòng người tìm tới kiếm việc làm giảm sút. Trong Ngự Thiên những lò gạch ven con đê cũ hơn một năm qua không ngừng nghi ngút khói dần bị đập bỏ, các xưởng nhỏ số bán số đóng cửa. Những cửa hiệu công khai của Hoài Văn vương ở khắp nơi đều bị ảnh hưởng, buôn bán ế ẩm, phần lớn trong thời gian vừa rồi đều phải tạm thời đóng cửa.
Người ngoài nhìn vào có thể dễ dàng thấy vương phủ bị thiệt hại nặng nề, ngày càng điêu đứng. Nhờ có Trương Đỗ, nhờ có Trần Kính mà tác động của giao ngôn phần nào giảm bớt, nhưng cũng chỉ ở trong phạm vi xung quanh Ngự Thiên.
Ngay cả huyện Tiên Lữ bên kia bờ sông Luộc cũng có thể cảm nhận rõ rệt sự ảnh hưởng, bến đò ngang tấp nập khi trước là chỗ ăn nên làm ra của các quán nước, gánh hàng rong thì giờ đìu hiu chẳng có khách. Sau vài tháng, các hàng quán la liệt khi trước phải dẹp bớt chỉ còn vài hàng đang cố bám trụ.
Bà lão bán nước chè ở gốc đa bên bến đò là số ít người còn kiên trì mở hàng chờ ngày khách lại tới đông đúc như xưa. Dù ít khách, bà vẫn giữ đúng nếp sinh hoạt, cứ canh năm gà còn chưa gáy là bà đã dọn hàng bày biện sẵn. Gánh hàng của bà cũng đơn giản, một nồi nước chè ủ trong giỏ rơm, một giỏ chén bát, một hộp trầu cau cùng chút đồ ăn vặt cho khách uống chè. Thêm một đùm cơm với chút muối làm bữa ăn trong ngày.
Dọn hàng xong xuôi, bà chủ theo thói quen lấy cơm của mình ra ăn lót dạ. Bữa sáng của bà chỉ là nắm cơm trắng bằng nắm tay kèm chút muối rang giã nhuyễn. Bữa ăn đơn giản nhưng nếu là hơn một năm trước thì đây là bữa cơm trong mơ của bà. Bà chủ lớn tuổi, việc đồng áng không còn làm nổi, bà sống dựa vào mảnh vườn nhỏ sau nhà cùng chút ruộng khoán ít ỏi của con trai và con dâu. Khi đấy, bà còn không nhớ nổi cảm giác no bụng là như thế nào.
Quân Chiêm tràn tới, nhà bà phải dìu dắt nhau bỏ trốn, đồng ruộng nhà bà vất vả gieo cấy bị đốt chạy rụi. Mùa màng thất bát đã hiển hiện trước mắt làm cả nhà bà ôm nhau khóc suốt đêm. Những tưởng đấy là tai họa là hồi kết cho gia đình nhà bà. Nhưng oái oăm thay, không rõ từ bao giờ bà lại cho rằng đấy là điều may mắn cho cả gia đình.
Con trai con dâu bà nhận được việc làm trong Ngự Thiên chẳng mấy mà trả xong tô cho chủ, bến đò ngày càng đông người, bà liền mở gánh nước kiếm sống. Sau một năm, con cái bà chăm chỉ, mua được miếng đất nhỏ trong Ngự Thiên, dựng nhà ở tạm để tiện đi lại. Con cháu hiếu thảo muốn đón bà sang khiến bà nhòe mắt đi vì hạnh phúc, nhưng mộ chồng bà còn bên này, nhà bên này dù dột nát nhưng là của tổ tiên để lại, bà không nỡ bỏ. Gánh nước chè vẫn giúp bà có thể sống thoải mái, bà còn thấy mình khỏe ra nhiều so với trước, thi thoảng sang thăm con cháu một chút là được, dù sao cũng chỉ cách có một bến đò.
Bà chủ vừa cắn miếng cơm vừa nhớ tới những ngày hạnh phúc khi giao ngôn chưa nổi lên thì quán của bà bất ngờ có khách tới. Ông lão tóc bạc, đầu đội nón tre đan rộng vành, râu bạc cắt tỉa gọn gàng, quần áo bằng vải gai sẫm màu đã sờn nhưng không giống người thấp kém, ông lão rất nhã nhặn nhẹ nhàng ngồi xuống gọi:
– Bà chủ, cho tôi chén nước.
Bà lão chủ quán dù ít khách, nhiều khách đều tiếp đón chu đáo. Bà hai tay nâng chén nước chè nóng hổi đặt tới trước mặt ông lão, còn tiện tay bày lên khay trầu mời:
– Mời ông dùng chè.
Ông lão mỉm cười rất phúc hậu nhận chén chè. Ông ấy cứ như ông bụt hiền từ nhân hậu mang tới may mắn cho người xung quanh. Ông lão còn chưa kịp nâng chén nước lên uống thì khách khứa lại từ đâu kéo tới thêm 6 người nữa. Đã lâu rồi bà lão chủ quán không được thấy cảnh này. Tay chân bà tất bật nhưng nét mừng rỡ không thể giấu. Khách mới tới, trẻ hơn nhưng cũng tùy tiện hơn là điều dễ hiểu. Một người trong số họ giọng nói điềm đạm hỏi chuyện:
– Bà chủ, trời đã gần sáng nhưng bến đò không thấy ai. Ta từng nghe nghe nói Ngự Thiên rất tất bật, làm ăn rất khá, sao tới nơi lại không như lời đồn?
Bà chủ thoáng buồn nhưng vẫn niềm nở nói với khách:
– Quý khách chắc là người từ nơi xa tới nên không biết, cách đây vài tháng thì đúng là thế, nhưng từ khi có giao ngôn nổi lên thì người người kéo nhau đi, cũng không còn ai tìm tới nữa nên bến đò ngang trở thành bộ dạng thế này.
Vị khách hơi “à” lên như nhớ ra gì đó liền gặng hỏi:
– Đúng là ta từ nơi xa tới. Bà chủ, giao ngôn bà nói có phải là câu sấm liêm quan tới đệ tử của Tham Lang tinh quân không?
Bà chủ gật đầu rầu rĩ đáp:
– Đúng thế, khi trước thì đồn đệ tử Tham Lang giáng trần mang tới tai họa, người bỏ đi đông lắm, cũng chẳng có ai kéo tới nữa. Ngài thấy mấy cái lò gạch kia không?
Bà chủ vừa nói vừa chỉ tay về phía bờ bên kia sông vừa nói:
– Từ năm ngoái ta chưa từng thấy mấy lò gạch đó ngừng đốt, nhưng tính tới nay thì chúng đã hơn một tháng không có khói rồi. Dạo gần đây lại có tin đệ tử thần tiên hạ phàm mang tới điềm lành, có Trương thanh thiên đại nhân làm chứng thì không phải là giả, chắc cũng ám chỉ Hoài Văn vương, nhưng không nói đích danh thì ai cũng dè dặt. Với lại, dù thế thì có vẻ mọi chuyện đã muộn rồi. Người đi đã bỏ đi, ai hối hận cũng chẳng kịp, muốn quay lại chắc cũng chẳng còn mặt mũi nào. Ta là dân đen, chẳng biết đường nào mà lần, háng quán thì ngày càng ế ẩm.
Vị khách gật gù đồng thuận:
– Bà chủ nói phải, cả hai giao ngôn ta đều đã nghe, đúng là cả hai đều không nói tới đích danh ai, cũng không biết có phải nói tới cùng một người hay hai người khác nhau. Mà hàng quán ế ẩm thế, sao bà vẫn bán?
Bà lão chủ quán vẫn cười vui vẻ như không hề gì, xuề xòa nói:
– Ta cũng già rồi, chân run đi chẳng nổi mấy bước nữa. Mộ tổ vẫn cần người hương khói, nhổ cỏ. Thôi thì ta cứ ở lại quán nước này cho qua ngày đoạn tháng.
Bà lão dù cố ra sao vẫn không giấu nổi sự cam chịu và buồn bã trong giọng nói. Vị khách cũng bị cảm nhiễm mà buồn lây, khẽ gật đầu trầm ngâm, thở dài:
– Đáng tiếc, đúng là thật đáng tiếc.
Bà lão chủ quán thấy khách không nói chuyện thêm đành chỉ châm thêm nước chè vào chén cho mỗi người rồi quay ra lau lau chùi chùi luôn tay như để bản thân bận mải cho quên đi tâm trạng u buồn.
Các vị khách mới tới quay ra nói chuyện, bàn bạc to nhỏ với nhau:
– Chủ sự, dù không thâm nhập được bên kia dò la nhưng xem ra tình hình ở đây cũng thế.
– Đúng vậy, những nơi khác chúng ta xem cũng thấy các cửa hiệu hoặc phải bán nhượng hoặc cố gắng đóng cửa cầm cự.
– Tin đồn mới nổi lên, giao ngôn đã dừng lại nhưng thiệt hại nhìn thấy là rất lớn. Vậy tiếp theo chúng ta có tiếp tục tung giao ngôn không?
Vị khách khi nãy nâng chén trà ra dấu yên lặng, hơi liếc nhìn bà chủ quán vẫn cặm cụi làm việc, thi thoảng châm nước cho ông lão ngồi phía góc kia. Có vẻ như cả hai đều không để ý tới chuyện họ nói, vị khách hạ tầm nhìn lắc đầu nói với cả bọn:
– Không cần, chúng ta rút thôi. Tin đồn mới là do triều đình lan ra để ổn định nhân tâm cho Tân Đế, chúng ta dù không sợ nhưng cũng phải nể mặt. Tránh voi chẳng xấu mặt nào, chúng ta quay về báo cáo tình hình cho “ông chủ”. Chuyện còn lại đợi “ông chủ” quyết định.
– Bà chủ, tính tiền!
Mấy vị khách xung quanh gật đầu đồng thuận với nhau, để lại nắm tiền đồng rồi đội nón rời đi. Bà chủ nhặt nắm tiền vui vẻ dắt vào thắt lưng rồi quay lại ghế của mình trông hàng nước vắng hoe trừ ông lão ban đầu. Ông lão trong lúc ngồi chờ đò mở lời:
– Bà chủ, chủ đò có hay đi muộn thế này không?
Bà chủ đối diện với ông lão phúc hậu cũng thoải mái mà trò chuyện, suy cho cùng từ khi quán vắng khách, thứ bà thiếu nhất là người để nói chuyện:
– Trước kia họ giăng đèn chạy ngày đêm, nhưng dạo gần đây thì họ đi rất ít, nhiều khi sáng bảnh mắt, gom đủ khách họ mới đi vậy.
Ông lão gật gù chép miệng hỏi thêm:
– Như bà nói, dường như xung quanh đây ai cũng đều lo sợ tai họa mà đã bỏ đi hết. Còn bà, bà không sợ ư?
Bà lão chỉ mỉm cười chua chát đáp:
– Đầu năm ngoái, giặc Chiêm tới đốt nhà đốt ruộng có phải tai họa không? Vài câu giao ngôn, vài tháng đủ đầy làm mọi người quên cả rồi. Quên ai là người đã giúp bốn huyện quanh đây tránh một phen khói lửa, tránh được nạn đói cận kề.
Bà lão thở dài buồn bã:
– Ta dù ít học, nhưng cũng hiểu đạo lý “người dập lửa chẳng thể thành kẻ đốt nhà”. Vương gia là cứu tinh của mấy huyện quanh đây thì sao lại thành tai họa được. Haizzz nhưng tất cả đều bị nỗi sợ làm cho u mê rồi, vì nỗi sợ đâu đâu mà đá đi bát cơm của mình, quay lại cuộc sống kham khổ. Tôi già rồi, không còn sợ chết nữa nên có lẽ thoát được vòng luẩn quẩn này chăng? Không có vương gia có lẽ nhà tôi phải bán mình làm nô từ lâu.
Bà lão khẽ mỉm cười lục lại trí nhớ của mình nói với vẻ hạnh phúc:
– Huống hồ, vương gia là đứa trẻ ngoan, chẳng hiểu sao người lại phải mang nhiều tiếng thối vậy. Phụ lòng một đứa trẻ ngoan như thế, nghĩ thôi cũng thật là đáng xấu hổ. Tôi không làm nổi. Còn ông? Ông sang đó làm chi? Ông không sợ tai ương à?
Ông lão mỉm cười thỏa mãn trả lời đầy ẩn ý:
– Ai nói bà ít học, quả thực lời bà nói toàn là đạo lý mà ít người có thể lĩnh ngộ. Một đứa trẻ cứu nhiều người, nhiều người lớn tuổi xúm vào bắt nạt một đứa trẻ, thật là trớ trêu. Ta từng buông xuôi, muốn tranh thủ vài năm cuối đời sống thảnh thơi qua ngày, nhưng có đứa trẻ mắng ta“quyết tâm cao không quá ngọn cỏ, sống như thế còn vô dụng hơn bọn vô năng”. Đứa trẻ kia còn đang lăn xả như thế, ta không muốn bản thân thực sự thành kẻ vô dụng. Chết già cũng là chết nhưng chết uổng phí thì ta không cam tâm. Nên ta tới đây giúp đứa trẻ kia một phen.
Bà lão chủ quán nghe thế thì mừng rỡ, không cần biết đối phương là thần thánh phương nào, chỉ cần là người tới giúp vương gia trẻ tuổi là đủ rồi. Bà lão vội quỳ xuống mắt rưng rưng:
– Chúng con có lòng mà lực bất tòng tâm, chỉ biết ở đây cố gắng duy trì hàng quán để không phụ lòng ngài ấy mà chẳng thể làm gì hơn. Con mặt dày, thay mặt hương dân dốt nát quanh đây đội ơn ông. Xin ông….giúp đỡ vương gia.
Ông lão vội bước tới nâng bà chủ quán dậy nhẹ nhàng nói:
– Ai nói việc làm của mọi người là vô ích. Chỉ cần đồng lòng, mỗi người một nắm đất rôi cũng đủ đắp thành đồi núi. Ta sẽ cố khả năng của mình. Bà đứng lên đi.
Bà lão chủ quán vội lau nước mắt, mỉm cười vui sướng, chìa ở tay ra 6 đồng tiền nhờ vả ông lão:
– Vậy con xin nhờ ông chuyển giúp mấy đồng tiền này cho Bà Tám bán nước ở đầu bến đò bên kia sông. Nói với bà ấy con gửi tiền 6 lạng trà.
Ông lão hơi “a” lên hiểu ra đầy ẩn ý rồi nhận lấy 6 đồng tiền.