Chương 265: Uy hiếp phật môn
Có một điều từ lúc tới Yên Tử khiến Quốc Toản hài lòng, hoặc ít nhất là bớt ác cảm với Phật môn là ở Yên Tử vẫn giữ được hình tượng của phật giáo truyền thống. Không có chuyện hàng trăm sư sãi ngồi kín sân chùa tụng kinh niệm phật, ruộng vườn được chú tiểu, sư sãi tự tay chăm sóc, chẳng có mấy phật tử được vào làm hộ. Vườn rau thì được cải tạo từ chính sườn của gò đất. Các tượng, chuông, tới đấu củng, bàn ghế, cờ phướn phần nhiều nhuốm màu thời gian nhưng đều sạch bóng không dính hạt bụi.
Không như những chùa chiền mới xây nhan nhản dưới kia, cái sau xa hoa hơn cái trước, ruộng đồng của chùa thì bao la bát ngát, chăm chút toàn là việc tới tay phật tử, sư sãi thì béo mập, áo bào phẳng lừ chẳng có chút phong thái của người tu hành mà hắn biết.
Tịnh Huyền là trụ trì nên có tịnh xá lớn nhất trong chùa, nhưng nhìn đi nhìn lại cũng chỉ có một cái phản làm giường, một bộ bàn ghế đơn giản, một bộ ấm chén, một cái rương quần áo. Trên tường treo vài bức tranh phật tổ, một bức chân dung của Điều Ngự tổ phật. Tấm chiếu cuối phản được cuộn lại, bộ mõ còn nguyên trên mặt phản, có vẻ buổi tụng kinh của Tịnh Huyền còn chưa kết thúc khi bị làm phiền.
Rót chén nước chè có màu vàng sắc xanh ra cái chén sứ cũ kỹ đẩy về phía Quốc Toản, Tịnh Huyền khách khí mời:
– Vương gia, nhà chùa đơn sơ, chỉ có chén trà chát mời vương gia dùng tạm. Mong người đừng trách.
Quốc Toản nhận chén trà đưa lên vừa nhấp một ngụm đã tấm tắc khen:
– Ô, là trà cổ ở Khe Rỗ, ngon thật. Nhưng sao lại chỉ đãi ta loại trà lá già thế này, trà búp đâu hết rồi? Thiền sư, chùa chiền đâu thiếu tiền, người kẹt sỉ quá đấy.
Tịnh Huyền Thiền sư tay vừa lần tràng hạt, tay khác chắp trước ngực như đang niệm phật đáp:
– Không ngờ vương gia vừa uống đã nhận ra nguồn gốc của trà này, cứ như người rất quen thuộc với nơi này vậy?
Quốc Toản chẳng đáp lại câu nói thăm dò của Tịnh Huyên, đợi lão Thiền sư nói tiếp:
– Vương gia học rộng tài cao, đi nhiều biết rộng, người nói không sai. Đây đúng là trà cổ ở Khe Rỗ mãi trong rừng sâu phía Tây Yên Tử. Trà này là do phật tử lễ chùa đem tới, vốn họ mang tới cả búp trà nhưng người cũng biết thứ này giá trị lớn, bần tăng là người tu hành, đâu dám nhận. Nhận chút lá già để không phụ lòng của phật tử đã là tham. Nay có khách quý mới dám đem ra dùng, mong vương gia hiểu cho bần tăng …… Hình như người có vẻ vương gia không có thiện cảm với phật môn. Bần tăng có thể hỏi nguyên nhân không?
Quốc Toản ngừng việc ngắm gian phòng lại, nhìn thẳng vào đôi mắt sắc sảo của Tịnh Huyền thăm dò một chút rồi khẽ thở ra mới trả lời:
– Không phải ta ác cảm với phật môn. Là vương hầu mang họ Trần, chẳng có ai ghét phật giáo cả. Phật giáo dạy con người ta hướng thiện, dạy tu tâm dưỡng tính, dạy lo cho nước. Điều Ngự Tổ Phật còn khéo léo vận dụng phật pháp gắn với các giá trị văn hóa Đại Việt, khuyến khích phật tử cống hiến cho xã hội. Những điều đó, ta yêu thích còn không được, nói gì tới ác cảm.
Quốc Toản hơi ngừng lại, đứng lên nói tiếp:
– Cái ta ghét chính đám phật tử lợi dụng phật giáo, lợi dụng lòng tín ngưỡng của nhân dân mà phục vụ cho lợi ích riêng của mình, để vơ vét cho đầy túi. Hỏi thiên hạ bây giờ, mấy ai tự tin vỗ ngực có ruộng đồng bao la như chùa chiền? mấy ai có đài các nguy nga như chùa miếu? Tượng đá tượng đồng chưa đủ, các ngươi còn làm cả tượng vàng. Chùa sau lại nguy nga hơn chùa trước. Phật tử các người làm thế để thể hiện cái gì? Để thể hiện lòng sùng kính cho thần phật hay ý các ngươi là thần phật yêu tiền tài vàng bạc, yêu đài các nguy nga?
Quốc Toản đang hiền hòa nhưng càng nói càng gay gắt, tay chân đôi khi còn vung lên để thể hiện sự căm ghét trong lòng, không cho Tịnh Huyền có cơ hội nói vào, hắn tiếp tục văng nói nước bọt, từ ngữ ngày càng nặng nề mỉa mai:
– Người khác phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt, đổ cả máu để kiếm được từng chút gạo thóc trên ruộng đồng. Còn các ngươi, mấy vạn con người trẻ khỏe ngày ngày ngồi tụng kinh gõ mõ, ăn không ngồi rồi, chỉ đợi hương dân tới dâng lễ đút ngập mồm tới béo mập như lợn. Hương dân cả đời mặc được mấy bộ quần áo, mặc rách để các người quần là áo lượt? Họ ở nhà lá rét mướt là để các ngươi ở nhà gạch mái mái ngói à? Bảo sao người người muốn bỏ nhà bỏ cửa, bỏ gia đình con cái để đi tu.
Quốc Toản nói tới rối loạn luôn hô hấp, lồng ngực phập phù không thôi, dừng thở một lúc trong tiếng bấm tràng hạt loạn xạ của Thiền Sư, Quốc Toản hạ giọng nhưng vẫn đầy mỉa mai:
– Lạ đời là hương dân dù có ăn đói mặc rách vẫn cố dâng lên lễ vật tốt nhất, đủ đầy nhất nhưng cuối cùng đáp lại họ được cái gì? Chút niềm vui tinh thần? Vài lời chúc phúc vô thưởng vô phạt từ miệng đám sư sãi? Vài lời răn dạy sách vở? Bọn họ có ai thay đổi được cuộc sống nhờ mấy lời này của các ngươi chưa? Bữa cơm của họ có đầy hơn, quần áo có đủ ấm hơn, con cái họ có được học hành, đỗ đạt công danh không? Ta chỉ thấy các ngươi càng ngày càng giàu, chùa chiền mọc ngày càng nhiều, còn hương dân ngày càng túng quẫn. Ruộng đồng thì bỏ hoang chẳng ai cày cấy, đám sư sãi thì vẫn xếp thành hàng bê bát đi xin? Lạ hơn nữa, sự việc như thế, thảm cảnh như thế nhưng phật môn các ngươi chỉ cần há miệng nói một lời, hương dân vẫn nhất nhất nghe theo. Nếu đây là giáo hóa của phật môn thì thật quá khủng khiếp, quá đáng sợ.
Nói câu cuối, ánh mắt Quốc Toản bỗng trở lên quyết liệt, bàn tay siết lại các khớp xương hằn lên da trắng ởn kêu răng rắc, sát ý của hắn không thèm giấu diếm khi nhìn ra ngoài sân. Thiền Sư Tịnh Huyện cũng nhận ra, thoáng cảm thấy lạnh gáy nhưng vẫn đủ bình tĩnh lên tiếng:
– Nam mô a di …..
– Mô mô cái đầu nhà ông. Bỏ phép tắc, lời nói rườm rà đi, ta không đủ kiên nhẫn để nghe mấy lời sáo rỗng. Nói thẳng vấn đề, nếu không, cơ hội cuối cùng ta cho Phật môn mà ta đã hứa với Tuệ Tĩnh cũng bay theo cái nam mô của ông đấy.
Sát ý của Quốc Toản chẳng giảm đi chút nào, Tịnh Huyền đối diện với Quốc Toản trẻ tuổi nhưng quyết liệt, lời nói cay nghiệt chẳng chút nể nang, tự tin thì có thừa. Trong khi vừa nãy nhìn hương dân thì lại chẳng có chút khinh thường, luôn hiền hòa, lời nói dù không theo phép tắc nhưng rất dễ gần. Cứ như hai người khác nhau, đôi mắt sắc bén của Tịnh Huyền chẳng thể đoán biết nổi. Lão không dám làm liều trước lời đe dọa trực tiếp kia, mà cố gắng giải thích:
– Suy nghĩ của Vương gia thật khó đoán định. Những điều người nói, tình trạng người kể đều đúng, bần tăng cũng biết, đây là thực trạng đau lòng của phật môn. Nhưng không phải toàn bộ phật tử đều thế, không phải toàn bộ chùa chiền đều vậy. Phật môn vẫn còn.…..
Quốc Toản tỏ ra hết kiên nhẫn, dơ tay ngắt lời của Tịnh Huyền nói xen vào:
– Thiền sư có thể cho rằng ta ngông cuồng, không biết tự lượng sức, không biết phép tắc hay cho rằng ta đang cố thử ngài. Nhưng đừng thăm dò hay cố khuyên giải ta mà vô ích. Ta nói cho thiền sư biết, chuyện này ta hoàn toàn nghiêm túc. Ta không có thời gian, Đại Việt cũng không có thời gian. Để ta nói thẳng với thiền sư, kế hoạch thanh trừng phật môn ta đã có. Những lời ngài nói như phật môn vẫn còn chân phật, những kẻ tham lam, đồi bại, lợi dụng danh nghĩa phật môn để chuộc lợi kia chỉ là một phần. Nói có thể dùng lời nói để từ từ giáo hóa…. Tất cả những điều này ta đã nghe quá nhiều lần, đến Tuệ Tĩnh cũng từng khuyên ta như thế.
Quốc Toản hơi ngừng lại, nhìn trừng trừng vào mắt Tịnh Huyền nói rõ từng chữ:
– Nhưng ta nói lại lần nữa, đời người có hạn, ta không có thời gian, Đại Việt đang nguy cấp cũng không có thời gian. Với ta mỗi ngày bây giờ đều quý báu. Nể tình Tuệ Tĩnh, nể tình Yên Tử không làm ta quá thất vọng ta sẽ cho Thiền sư biết.
Tịnh Huyền không kịp suy nghĩ quá nhiều, gần như đến thở cũng đang phải cố theo nhịp của Quốc Toản. Quốc Toản dơ lên bốn ngón tay cương quyết nói:
– Bốn năm, ta cho thiền sư bốn năm để thay đổi những điều này. Đúng ngày này 4 năm nữa, cho ta danh sách những ngôi chùa đồng ý với sự quản chế của triều đình. Số còn lại, ta sẽ không ngần ngại mà đập nát. Đây là lời cảnh báo, cũng là nhân nhượng duy nhất của ta.
Tràng hạt trong tay Tịnh Huyền bỗng đứt đoạn, những hạt bồ đề theo đó bung ra rơi lạch cạch lăn đi khắp phòng. Quốc Toản mặt không biến sắc, vẫn nhìn chằm chằm vào Tịnh Huyền đợi câu trả lời. Thiền sư Tịnh Huyền hơi thất thần khó xử cố thuyết phục:
– Nhưng vương gia, mấy nghìn ngôi chùa ở khắp Đại Việt, với bốn năm, bần tăng sao có thể thuyết phục được tất cả bọn họ.
– Cái đó ta không quan tâm, 4 năm đã là cực hạn của ta, còn làm thế nào thì tùy thiền sư. Ngài phải nhớ, Điều Ngự Tổ Phật là thánh nhân thông thái, cổ kim hiếm ai bì được, người nhìn ra được nguy cơ cho phật giáo, cho cả Đại Việt nếu cứ để các thiền phái tự do lớn mạnh, tự do đấu đá mà không có sự quản chế. Vì thế, năm xưa Điều Ngự Tổ Phật bỏ ra 10 năm đi khắp nơi từ Đông tới Tây, từ Nam chí Bắc để giảng giải phật pháp, nắng chẳng đội nón, mưa chẳng che dù mới có thể thống nhất được Diệt Hỉ, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường vào Thiền phái Trúc Lâm. Lấy Trúc Lâm Yên Tử làm trung tâm để quản lý tất cả các chi hệ, cả các phật tử và chùa miếu trong khuôn khổ cho phép. Một nước này có thể định tương lai vạn năm cho Phật giáo ở Đại Việt. Nếu không, thần quyền càng lớn mạnh thì ngày hủy diệt sẽ tới càng gần. Tại sao phật môn các người không ai hiểu chuyện này? Ai cũng muốn phân li ra lập dòng riêng? Bảo sao, ngoài ba vị tổ phật Điều Ngự, Pháp Loa, Huyền Quang mấy chục năm qua Trúc Lâm Yên Tử chẳng sinh ra được vị tổ phật nào khác.
Thiền sư Tịnh Huyền còn đang bần thần, Quốc Toản đã nói trước khi rời đi:
– Thiền sư Tịnh Huyền, ngài là người trí tuệ, vẫn giữ mình với đạo, ngài cũng từng chứng kiến, nghe giảng đạo trực tiếp, có thể nói là ngài đang giữ chân truyền của những vị tổ phật cũng đúng. Thiền định không phải chỉ để giác ngộ cho riêng bản thân, còn phải truyền nó đi cho những người xung quanh. Phật môn chẳng phải có câu “giáo hóa vạn vật” đấy ư. Không đi thì không tới, khống cố thì sao mà biết được.
Quốc Toản nói xong liền bước ra cửa, nhưng chợt khựng lại nói thêm:
– À phải, ta biết phật môn có một bảo khí rất lợi hại, mà Ngọa Vân am Yên Tử chính là đầu não. Phật tử các ngài trải khắp thiên hạ, nam tới Chiêm Thành, bắc tới Đại Minh, tin tức vô cùng linh động và nhanh chóng. Giờ các chi phái phân li nhưng tin rằng không quá ảnh hưởng. Xưa nay đều thế. Đây là thứ Đại Việt đang thiếu, cũng là thứ liên quan tới tồn vong đất nước, ta không thể nhân nhượng. Chuyện này ta cũng đã nói với Thái Tử Điện hạ. Sắp tới, hy vọng Thiền sư có thể chuyển những tin tức này cho ta một bản.
Nói xong, Quốc Toản khẳng khái bước thẳng ra ngoài, không để cho Tịnh Huyền thêm chút cơ hội giãi bày. Tới khi bóng lưng của hắn đã khuất, khuôn mặt đã nhăn nheo của Tịnh Huyền lại càng nhăn lại. Giọng lão cất lên:
– Tiểu An, vào đây.
Một tiểu sư phụ chỉ khoảng hơn 13 tuổi bước vào, nhìn thấy tràng hạt lăn lốc trên nền khiến nó hơi hoảng, rồi cũng nhanh chóng bình tâm ngoan ngoãn chắp tay thưa:
– Bẩm, thầy cho gọi con.
Tịnh Huyền thở ra, không giấu được vẻ mệt mỏi trong giọng nói:
– Con tới Ngọa Vân am, báo với Pháp Hỷ hai việc. Một là gửi tin tức tới các trụ trì trong Thiền phái, bảo với họ: Ta đã cố hết sức, nhưng không thể thay đổi được điều gì. Bảo họ, sống thu mình, quay lại lối cũ, nếu không cơn phong ba sắp tới sẽ cuốn trôi tất cả. Nói thêm với họ, khuyên đươc ai cứ khuyên.
– Hai là nói với Pháp Hỷ, thu xếp mọi thứ ở Ngọa Vân am, sắp tới sẽ có người tới tiếp nhận. Ta mệt rồi, con đi sớm về sớm. Vài ngày nữa, con cùng ta đi thuyết pháp, có thể là đi vài năm mới về.