Chương 264: Vân Yên tự.
Yên Tử thuộc cánh cung Đông Triều, là dãy núi kéo dài từ đông sang tây. Dãy núi như bức tường thành tự nhiên che chắn phía đông bắc của vùng đồng bằng sông Hồng. Vượt qua dãy núi này sẽ là vùng đồng bằng bằng phẳng, là trung tâm của Đại Việt. Còn đường để đánh từ đây xuống Thăng Long chỉ còn vài con sông cần phải vượt qua.
Mỗi khi vương triều phía bắc xua quân muốn xâm lược Đại Việt, dãy núi này chính là thứ chia cắt cánh quân trung tâm, và cánh quân phía đông của chúng. Trước khi vượt qua được dãy núi, tụ họp lại ở vùng đồng bằng phía trên Vạn Kiếp thì hai cánh quân này hoàn toàn không thể phối hợp được với nhau, phải độc lập tác chiến cho tới điểm hợp binh mà không thể mong chờ tới lực lượng cứu viện.
Vì vậy, Vạn Kiếp xưa nay luôn là cứ điểm chiến lược mà hai bên giành giật. Thời chống Nguyên, quân Đại Việt và quân Nguyên từng nhiều lần quyết chiến, thay nhau chiếm lĩnh Vạn Kiếp nhiều lần mỗi khi có cơ hội. Nói nơi đây thây chất đầy đồng cũng chẳng ngoa.
Ngoài ra, khi trời trong, từ những ngọn núi cao nhất ở Yên Tử có thể quan sát được toàn bộ đồng bằng rộng lớn phía dưới, cũng có thể thăm dò được động tĩnh trong rừng núi phía bắc. Là nơi rất tốt để theo dõi, phát hiện và truyền đi mọi động tĩnh của đối phương.
Vì thế, dù bất kể dưới triều đại nào, Yên Tử đã luôn được xây dựng thành trung tâm phật giáo của Đại Việt, luôn được Triều Đình quan tâm, viếng thăm. Dần dần Yên Tử đã gắn bó trực tiếp với hưng suy của triều đại.
Tiên đế Nhân Tông năm xưa, sau khi chống xong giặc ngoại xâm, ổn định nội trị,… thì đã chọn nơi đây, ở Vân Yên tự làm chốn tu hành.
Phía trước Vân Yên Tự có dốc Voi Phục, là nơi được vua Trần Anh Tông dùng để đi bộ lên chùa. Đi hết con dốc sẽ thấy gò đất khá bằng phẳng, từ đây có thể phóng tầm mắt nhìn khắp bốn phía, phong cảnh theo từng mùa mà có sự khác biệt và từng nét đẹp riêng.
Vân Yên tự nằm ở khoảng một phần ba phía trên đỉnh núi, nên đặt chân tới Vân Yên Tự thì người hành hương đã thưa rất nhiều, phần lớn người đi lễ chùa vẫn bị kẹt lại chùa Lân bên dưới.
Ngoài chùa vườn tháp mộ làm bằng đá hoăc xây bằng gạch để thờ các vị trụ trì của Vân Yên Tự. Quốc Toản chỉ ngắm nhìn, vái lạy Tháp đá trung tâm thờ Điều Ngự Giác Hoàng Trúc Lâm đệ nhất tổ (Tiên đế Trần Nhân Tông) còn nhiều tháp mộ khác xung quanh thì Quốc Toản chẳng mấy quan tâm đến họ là những ai.
Chùa chính của Vân Yên Tự được xây theo kết cầu hình chữ công, bao gồm tiên đường, bái đường và hậu cung. Nền chùa cao hơn mặt sân chùa, có bậc tam cấp để bước lên, hai bên tam cấp là hai rồng đá điêu khắc tỉ mỉ, đặc chưng của Hoàng gia. Để lại Lạt La Tạ Đốn ở bên ngoài giữ cửa, Quốc Toản chỉ một mình bước vào gian chùa hương khói nghi ngút.
Vân Yên Tự có một bức tượng Tiên đế Trần Nhân Tông bằng vàng để thờ, là một trong hai bức tượng được Tiên đế Trần Anh Tông cho đúc sau khi Nhân Tông băng hà. Thắp hương rồi ngắm nhìn bức tượng rất lâu, Quốc Toản có cảm giác rất lạ. Có lẽ trong thâm tâm Quốc Toản thì tiếng gọi Hoàng thượng của hắn chỉ dành cho Tiên đế Nhân Tông, người mà hắn thực sự rất cảm phục, từ tài năng đến đức độ, lòng bao dung thì khó có vị hoàng đế nào có thể qua được ngài. Quốc Toản thơ thẩn lẩm bẩm:
– Hoàng thượng, mới ngày nào tiểu thần còn được đứng cạnh nghe Người cùng các Vương bàn bạc việc quân, thế mà chỉ chớp mắt một cái, dường như thần vẫn thế, vẫn đứng tại đây, đang vật lộn với mớ bòng bong. Còn Người đã thành Tổ Phật mãi trên cao. Chuyện này đúng là thật khó tin.
Ngước nhìn bức tượng bằng vàng, điêu khắc tỉ mỉ tới từng chi tiết, Quốc Toản lại tiếp tục lẩm bẩm:
– Thời thế thay đổi, Đại Việt lại lần nữa đứng trước nguy cơ tồn vong, thần thực sự mong ước được chiến đấu bên cạnh những người tài năng và đức độ như các vương ngày trước. Nhiều lần thần thử âm thầm tìm kiếm, tìm kiếm xem có ai giống như thần, quay trở về trong thân xác mới không? Nhưng có vẻ như chẳng có ai cả, dường như kỳ tích chỉ xuất hiện ở chỗ thần. Tới giờ thần vẫn không hiểu được chuyện này, 86 năm qua với thần dường như chỉ là khoảng không trống rỗng, không có chỉ dẫn, không có ký ức gì khác, thần chỉ đơn giản là sống lại.
– Hoàng Thượng, nếu người thật sự đã thành tổ phật thì liệu đây có phải là phép thần thông của Người? Nếu đúng thì còn rất nhiều vương tài năng đức độ khác nhưng tại sao Người lại chọn thần? Liệu thần có gánh vác nổi không? Có lẽ, điều duy nhất khiến thần sợ hãi là phụ sự kỳ vọng của người khác, nhất lại là từ người mà thần tôn kính. Hoàng thượng người có thể nói cho thần biết không? Dù là trong mộng cũng được. Thần thật sự rất lo sợ bản thân không đủ sức đảm đương trọng trách này.
Phản hồi lại ánh mắt mong mỏi của Quốc Toản, bức tượng vẫn im lìm đứng đó. Trong gian thờ chỉ có khói hương là lay động. Giãi bày tâm sự một chút thì được, Quốc Toản không muốn mình bị lún quá sâu vào chuyện quá khứ. Tới giờ hắn vẫn chưa tìm hay liên hệ với hậu duệ của các vương ngày trước cũng vì vậy. Không muốn bản thân chìm quá sâu vào cảm xúc này, hắn vái dài khấn:
– Người cùng các đại vương ở trên kia có linh xin phù hộ cho Đại Việt vượt qua được thời kỳ gian khó này, để quốc thái dân an, để cơ nghiệp còn mãi. A di đà phật.
Điều chỉnh lại tâm trạng một chút rồi bước ra ngoài, Quốc Toản cũng không ngờ mình đã ở trong lâu tới thế, bên ngoài người đã kéo tới rất đông. Lạt La Tạ Đốn như hung thần chắn cửa, nhất quyết không cho ai bước vào, từ sư sãi tới hương dân cũng không ai bước qua được. Hương dân biết trong chùa cố đại nhân vật nên cũng không dám làm quá căng.
Đứng bên cạnh hắn còn có Bh’riu Liêng vẫn còn thở hổn hển, cứ như vừa chạy từ đâu tới. Thấy trên người hắn còn vết máu, Quốc Toản lên tiếng về phía cả hai tên:
– Tạ Đốn, để mọi người vào thắp hương, ta xong việc rồi. Còn Liêng, vết máu kia là sao? Đắc đâu?
Nghe tiếng Quốc Toản, Tạ Đốn liền quay về bộ mặt ngây ngốc vâng dạ lễ phép, còn Liêng thì cứ vô tư, chống hông thở nói:
– Yên tâm, không phải máu của bọn ta. Ta tới để báo bọn ta quay về thuyền trước được không? Ngươi có cần bọn ta giúp gì nữa không?
– Được, nếu nhớ đường thì cứ đi đi. Tý ta quay về sau.
Quốc Toản vừa dứt lời, Bh’riu Liêng đãng hí hứng rời đi, mang theo cả bó dây thừng quấn quanh eo. Trong sân chùa đang có rất nhiều hương dân tới chiêm bái, dường như mọi ngóc ngách, mọi tảng đá, mọi tháp mộ, mọi bệ thờ đều có người đang khấn lạy. Ai cũng khúm lúm, ngoan ngoãn, nghe thầy chùa răm rắp. Người nào được sư sãi trong chùa cho chút lộc lá dù là một nhành cây cũng tỏ ra mãn nguyện, mặt toàn vẻ hạnh phúc còn hơn nhặt được vàng.
Người phụ nữ chua ngoa chửi bới té tát đám Liêng, Đắc dưới chân núi thì giờ lại ngoan ngoãn một dạ, hai vâng với chủ tiểu nhỏ tuổi, chẳng dám to tiếng lấy một lời. Tên đại hán cao lớn, vạm vỡ từng bặm trợn quát tháo Quốc Toản thì giờ hai tay chắp trước ngực, rúm ró quỳ lạy, miệng lẩm bẩm khấn vái như mèo. Dường như là hai con người đối lập nhau.
Quốc Toản cười nhạt nói có chút mỉa mai:
– Khả năng giáo hóa của phật môn thật đáng sợ. Ta nói thế có đúng không Tịnh Huyền Thiền Sư?
– Tham kiến vương gia. Phật môn chỉ truyền đạt lời Phật dạy người ta cách tu tâm dưỡng tính, rèn luyện bản thân, hướng tới cái thiện. Cớ sao vương gia lại lấy làm đáng sợ. Vương gia có vẻ không mấy thiện cảm với phật môn như lời đồn.
Tịnh Huyền Thiền Sư, khoảng 70 tuổi, hiện đang là trụ trì Vân Yên Tự. Tịnh Huyền dáng người gầy gò lọt thỏm trong bộ áo cà sa nâu cũ sờn và rộng, hàng mi thọ đã bạc kéo dài tới má, chòm râu ngắn và thưa. Nhìn cơ thể của lão già nua nhưng dáng đứng rất vững, ánh mắt thì ánh lên vẻ sắc sảo có thể nhìn thấu hồng trần, cho thấy từ sức khỏe tới đầu óc của Thiền Sư còn rất tốt. Quốc Toản đối diện với vẻ không hỉ không nộ của lão cũng vái lại đáp lễ:
– Thiền sư dường như đã biết ta là ai? Tin tức của phật môn vẫn luôn thật nhanh nhạy.
– Vương gia quá lời, Hoài Văn vương tái xuất đã là chuyện lan truyền khắp cả nước. Bần tăng ở chỗ núi hoang vu còn nghe được sự tích ngài dẫn 200 gia binh đánh khắp bốn huyện, diệt địch vài ngàn mà chẳng tổn thất một binh một tốt. Trên Triều thẳng tay đánh quan Ngự Sử tới gãy răng cũng đã thành truyền kỳ, hơn nữa, Tuệ Tĩnh cũng kể rất nhiều về ngài thì bần tăng sao có thể không biết được.
Tịnh Huyền dùng từ “tái xuất” trong lòng Quốc Toản khẽ nổi sóng nhưng rất nhanh đã chuyển biến, hắn cũng biết chuyện Tuệ Tĩnh thư từ qua lại, nhưng vẫn nổi hứng thú hỏi:
– Diệt địch vài ngàn? Ô hô, Tuệ Tĩnh kể gì về ta vậy, là chuyện tốt hay xấu?
Thiền Sư Tịnh Huyền mỉm cười nhẩn nha đáp:
– Không giống như tiếng thối ngông nghênh hống hách, thích đánh người mà ngài bày ra ở kinh thành, Tuệ Tĩnh kể rất nhiều việc tốt ngài làm. Nhưng hắn nói ngài như đa nhân cách, cứu giúp rất nhiều người bất kể thân phận nhưng ngài cũng không ngần ngại mà xuống tay giết sạch đám hung ác. Đặc biệt Tuệ Tĩnh khuyên bần tăng không nên tranh luận quá nhiều với ngài, nói nhiều với ngài chỉ thiệt thân.
Quốc Toản khóe môi khẽ nhếch lên có chút tức tối:
– Sao ta thấy giống như hắn đang chửi ta thế nhỉ?
Quốc Toản vừa dứt lời thì phía con dốc trước cổng chùa vang lên tiếng nhốn nháo hỗn loạn. Đoàn người hành hương bông đứng dạt hết sang một bên đường, người la hét hoảng sợ, người thì với tay chửi bới, người thì hiếu kỳ nhón chân nhìn theo nhưng chẳng ai dám lại gần. Bh’riu Liêng, Pơ Loong Đắc cứ mặc kệ, hai tên quần áo rách rưới, mỗi tên một đầu gậy đang khiêng con hổ đã mềm oặt bị trói như lợn chạy xuống núi. Con hổ tới vài trăm cân mà hai tên này cứ khiêng như không.
Cảnh thanh tịnh của chùa chiền gần như lập tức bị phá tan nát. Những hương dân vốn sùng tín thần phật không kìm được mà bỏ đi bộ dạng hiền lành, lương thiện để lên tiếng chửi bới om sòm:
– Bọn điên, khi không dám làm ô uế nơi cửa chùa.
– Đồ mất nết, dám vác cái thứ ô uế ấy tới cửa Phật!
– Chỗ thanh tịnh cũng không để yên, đúng là đồ vô phúc!
– Rước hổ tới đây, muốn rước cả tai ương vào chùa chắc?
Tiếng quát mắng vang lên nghe rất rõ, Quốc Toản ái ngại nhìn Tịnh Huyền đang cố kìm nén tức giận xuề xòa:
– Nếu ta nói chuyện này ta không hề biết thì thiền sư có tin không? Thiền sư thông cảm, ta vẫn đang cố giáo hóa hai tên này nhưng chưa thành công.
Thiền Sư Tịnh Huyền đối diện với vẻ không mấy hối lỗi của Quốc Toản vẫn cố kìm chế:
– Không rõ chuyện này là do vương gia sắp xếp hay chỉ là do thuộc hạ vô tình gây ra. Nhưng bần tăng chợt nhớ Tuệ Tính có căn dặn bần tăng rằng: “Vương gia rất giỏi chọc tức người khác để làm lợi thế cho mình”. Vừa đúng, chuyện này thật khéo.
Rất nhanh, Tịnh Huyền đã lấy lại vẻ điềm đạm của mình rồi dang tay ra mời:
– Vương gia, chúng ta không nên ở tại nơi này làm phiền hương dân tới chiêm bái. Bần tăng có thể mời ngài tới tịnh xá dùng trà được không? Lần đầu gặp mặt, bần tăng hi vọng có thể được cùng vương gia trò chuyện.
– Được, mời Thiền sư dẫn đường.