Chương 260: Hỏa khí cũ kỹ.
Công xưởng được đặt ngay ngã ba một nhánh của sông Tô Lịch chảy vào Hồ Tây, kế bên là doanh trại thủy quân lớn đóng giữ bến Đông Bộ Đầu. Nơi đây vốn là cửa ngõ phía Đông của Thăng Long nên luôn được bảo vệ rất nghiêm mật. Đóng giữ cũng là đội thủy quân lớn, tinh nhuệ của Đại Việt, được trang bị rất nhiều loại hỏa khí lợi hại. Tiếc rằng trong họa Chiêm Thành một năm trước, Nghệ Tông quá vội vàng rút lui nên những nhóm quân này gần như còn chưa kịp ra trận đã phải rút lên Đông Ngàn.
Có hàng nghìn công tượng làm việc cả đời, thậm chí đời này tới đời khác đều làm bên trong công xưởng. Những sản phẩm do bàn tay khéo léo của những công tượng này làm ra cũng rất đa dạng, từ vật dụng hoa mỹ tinh sảo, đủ loại họa tiết cầu kỳ cho Hoàng cung tới những thứ xù xì như hóa khí, thuyền chiến đều từ đây mà ra cả. Công xưởng gần như là nơi duy nhất được phép rèn đúc chế tạo hỏa khí, nên nơi đây luôn là một trong những trọng địa của Đại Việt nên được canh giữ rất nghiêm ngặt.
Theo Trần Kính bước chân vào Công xưởng, quy mô của công xưởng thực sự rất lớn, chia tách từng khu riêng biệt. Từ xa có thể nhìn thấy những lò nung làm đồ gốm, gạch, ngói, những lò rèn và cả bến cảng bên trong. Công tượng, thợ thuyền đông đảo xuất hiện ở mọi khu vực, chưa kể quân lính và đám thợ học việc đi theo nữa. Nhưng nhiêu đây không đủ làm Quốc Toản bất ngờ, vì so với kiếp trước thì quy mô của nó vẫn vậy, vẫn là mảnh đất này, chẳng mở rộng ra thêm tý nào.
Trần Kính rất tự tin hỏi Quốc Toản:
– Đệ thấy sao? Quy mô rất lớn đúng không?
Nhìn rõ ánh mắt mong chờ của Trần Kính, Quốc Toản hơi há mồm tỏ ra mình có phần bị choáng ngợp nói:
– Lớn quá, so ra xưởng của đệ chỉ bằng một góc.
Cứ cái gì hơn được Quốc Toản hoặc khiến hắn bất ngờ là Trần Kính rất khoái.
– Haha đi nào, vào trong còn nhiều thứ khiến đệ phải bất ngờ nữa. Ta dẫn đệ đi xem.
Sản phẩm của công tượng làm ra có thể nói là ở một đẳng cấp hoàn toàn khác, rất ít sản phẩm ngoài dân gian có thể sánh được với những thứ ở đây. Từ hoa văn, màu sắc, chất lượng tới độ đồng nhất đều vô cùng hoàn hảo.
Là người luyện võ, bảo Quốc Toản đi bài quyền 10 lần như 10 thì hắn làm được, nhưng đấy là nhờ hàng chục năm ngày ngày chăm chỉ luyện tập. Từ đấy mà suy ra, để làm ra những món đồ thủ công đều tăm tắp, người như hắn không thể phân biệt nổi chút khác biệt bằng mắt thường thì những công tượng phải thật sự tỉ mỉ, bàn tay khéo léo của họ đã phải tôi luyện qua hàng nghìn lần, thậm chí còn là theo kiểu cha truyền con nối.
Có điều, trái ngược với bàn tay khéo léo, tài hoa thì những công tượng ở đây trông thật sự khắc khổ, ánh mắt ngoài công việc thì chẳng thấy chút tương lai nào. Về mặt này thì họ kém xa những thợ thủ công ở Ngự Thiên. Chút điều đơn giản đó cũng có thể thấy được mức độ bóc lột mà những công tượng này phải chịu.
Đi qua khi đồ thủ công mỹ nghệ, là tới khu sặc mùi than và những tiếng quai búa đinh tai nhức óc. Đếm sơ sơ Quốc Toản cũng có thể thấy được hơn 200 lò rèn đang đỏ lửa, đây là con số mơ ước với hắn, có ngần ngày lò rèn + thợ thuyền thì chỗ lão Nguyên đã không cần đau đầu thay nhau làm ngày làm đêm cho kịp nhu cầu của Quốc Toản.
Nhìn ánh mắt hau háu của Quốc Toản, Trần Kính lên tiếng cắt ngang mạch suy nghĩ của hắn:
– Không được đâu, việc đầu tiên ta làm khi lên ngôi là chỉnh lý lại quân đội, đệ đừng hòng mà đòi người ở đây. Mà có đòi cũng không được, công tượng là tài sản của Hoàng gia, ai động vào là bị chặt tay đấy.
Quốc Toản bĩu môi chê:
– Ai thèm, Công tượng đúng là tay nghề rất cao nhưng tốc độ thì thua xa thợ của đệ. Làm như này thì tới đời nào mới có 20 vạn quân tinh lương mà dùng.
Trần Kính vẫn rất tự đắc:
– Đương nhiên, tay nghề của công tượng thì miễn chê. Còn tốc độ thì không thể so được. Đồ của đệ xùi xì, trơn bóng, chẳng có họa tiết gì thì làm nhanh hơn là phải. Đồ của Công xưởng thì khác, ngoài chức năng chính còn phải thể hiện được uy quyền, phong phạm của Hoàng gia, là thể diện của triều đình với người dân, với lân bang nên không thể à uôm được. Những chi tiết cầu kỳ rất nhiều, làm không nhanh được là đúng rồi.
Quốc Toản quay ra nhìn công tượng làm việc chẳng có mấy tinh thần thì hời hợt đáp:
– Không phải mỗi thế, có dịp đệ sẽ chứng minh cho huynh thấy. Thôi, muộn rồi, dẫn đệ tới kho hỏa khí đi, đệ muốn xem và thử chúng xem hiệu quả tới đâu.
– Đệ còn muốn thử à?
Trần Kính tỏ ra hơi ngạc nhiên còn Quốc Toản thì vô tư gật đầu:
– Không thử thì sao đệ biết hiệu quả của chúng thế nào? Huynh không phải kẹt tới mức không cho đệ thử vài quả đạn đấy chứ?
– Không vấn đề gì, chỉ là lấy hàng niêm cất phải ghi vào sổ sách. Chúng ta đi loanh quanh xem xét chút, đợi ta gọi quan nội hầu coi sóc sổ sách tới đã.
Mặc kệ lời giới thiệu hoa mỹ của vị Quan nội hầu Trần Phục, với những loại hỏa khí đang được chế tạo, bày ra trước mắt thì Quốc Toản không lạ gì. Về hình dáng cũng không có khác biệt với kiếp trước quá nhiều. Một số loại gần như giống hệt, chỉ khác về kích cỡ. Như mấy khẩu thần công trước mặt, phân ra tới 4 loại hạ, trung, trung thượng, thượng nhưng về cơ bản chỉ là khác nhau về kích cỡ và cân nặng. Từ vài trăm cân với loại nặng nhất là 2500 cân mà thôi. Đạn thì vẫn là những viên đã đẽo tròn, chẳng có gì mới mẻ.
Trần Kính nghiêng người nói với Quốc Toản:
– Mấy loại thần công này rất lợi hại, nếu muốn thử thì đệ có thể thử loại hạ, cùng lắm là trung thôi. Còn với hai mức trên ta được chứng kiến rồi, viên đạn mấy chục cân được bắn đi gần ngàn bước, thử ở đây thì quá nguy hiểm.
Nghĩ tới cảnh cần tới vài ngàn con người để lo hậu cần từ vận chuyển, bảo quản và vận hành vài chục khẩu pháo, chưa kể phải lo sửa đường, làm sạn đạo để kéo được chúng ra chiến trường, rồi phải cẩn thận bảo quản tránh ẩm mốc nơi rừng rú thì Quốc Toản lắc đầu thì thầm:
– Mấy loại này hiện tại đệ không cần. Sức đâu mà dùng chúng. Đệ muốn thử mấy thứ nhỏ nhẹ hơn.
Trần Kính cũng hiểu rồi chỉ gật đầu rồi quay ra nói với Quan nội hầu vẫn đang mải mê diễn giải tính năng từng loại thần công:
– Được rồi Trần Phục, dẫn bọn ta tới khu niêm cất hỏa đồng, hỏa tiễn và hỏa đạn đi.
– Hạ quan tuân lệnh. Điện hạ, vương gia, mời đi lối này.
Hỏa tiễn, hỏa đồng, hỏa đạn đều là vũ khí đã phổ biến từ thời Tống. Với những thứ này Quốc Toản đều đã quen thuộc, hắn chỉ muốn chứng kiến xem những vũ khí này đã cải tiến được đến đâu.
Hỏa tiễn là dạng dàn phóng, tùy theo kích thước mà mỗi dàn có 50-100 mũ tên. Đầu mũi tên buộc một ống chứa thuốc súng bằng giấy, một đầu có gắn dây cháy chậm. Khi thuốc được đốt, những ống thuốc súng này sẽ kéo mũi tên bay đi xa. Tầm xa của hỏa tiễn tới 200 bước, xa hơn rất nhiều với cung thủ truyền thống chỉ có điều tên bắn lại quá tản mát và rất khó khống chế được hướng bay của những mũi tên. Sau mỗi loạt bắn lại tốn rất nhiều thời gian để thay được loạt tên mới vào. Được cái là rẻ, dễ sử dụng, dễ vận chuyển theo chiến trường.
Hỏa thương thì là loại ống kim loại hoặc ống tre bọc kim loại, phần đầu có lỗ để nhồi thuốc nổ, có lỗ mồi để châm lửa, có cán dài để cầm. Đạn thì dùng đạn đá nhỏ, bi sắt hoặc mảnh sành. Sát thương tầm gần thì rất lớn, nhưng hiệu quả thực sự chỉ trong phạm vi 30 bước đổ lại. Nếu đối phương có giáp dày, khiên lớn thì đạn không thể xuyên qua được. Còn nếu gặp những đội kỵ binh giỏi kỵ xạ như quân Nguyên năm xưa thì gần như vô dụng vì tầm bắn còn thua xa cung nỏ. Còn nếu giáp lá cà thì cũng chỉ có ích ở thời điểm đầu, vì muốn thay đạn bắn loạt mới cũng rất tốn thời gian. Vận hành cũng khá cồng kềnh, hỏa thương cần 1 người cầm giữ điều chỉnh phương hướng, 1 người căn để châm lửa. Hữu ích nhất của hỏa thương có lẽ là dựa vào công sự để phòng thủ trước những đội quân đông đảo.
Còn hỏa đạn, hình dáng của nó vẫn là một bình gốm bằng hai bát ăn cơm úp lại, được nhồi thuốc nổ, kèm lẫn bi sắt, mảnh sắt để tăng khả năng sát thương. Cách dùng thì đơn giản là châm lửa rồi ném về phia đối phương, hoặc dùng máy bắn đá bắn đi nhưng các thuyền chiến hay dùng cũng được.
Đi lòng vòng quanh bãi đất nơi vừa thử vũ khí, nhìn các vết tính trên mấy tấm khiên xung quanh Quốc Toản không giấu được chút thất vọng trên gương mặt khiến Trần Kính tò mò hỏi:
– Sao thế? Mấy vũ khí này không đủ hữu dụng à?
Quốc Toản lắc đầu buồn bã nói:
– Không phải, hỏa khí vẫn rất lợi hại, tương lai nó sẽ thành chủ lực trên chiến trường. Nhưng cái làm đệ thất vọng là so với gần trăm năm trước dường như không có đột phá rõ ràng nào. Cái đống thần công thì chỉ làm to lên thôi, vác ra chiến trường thì hao tổn hậu cần rất lớn. Hỏa tiễn vẫn quá tản mác, với chiến trường rộng, rừng núi dùng không mấy hiệu quả. Hỏa thương thì còn cồng kềnh, cần tới 2 người vận hành, tầm sát thương cũng quá ngắn. Chỉ có hỏa đạn là hữu dụng nhất nhưng vẫn không khác gì trước đây, vẫn không thể xuyên nổi thuẫn. Muốn hiệu quả thì phải ném đi xa, ném xa thì phải ném mạnh nhưng nếu căn không đúng thời gian, vỏ gốm vỡ ra khi va chạm là coi như vứt đi ngoài chút khói lửa được tạo ra thì chẳng còn gì khác….
Trần Kính không khỏi ngạc nhiên hỏi lại:
– Sao đệ nắm rõ mấy chuyện này như thế?
Quốc Toản phủi tay nói bừa:
– Huynh quên nhà đệ có mấy lão tổ tông đấy à? Mấy thứ này đệ nghe chán cả rồi, nay xem thực tế thì thấy đúng là chả khác gì?
Trần Kính xưa nay không chú ý tới chuyện này nên nhất thời cũng không biết ứng phó ra sao. Quốc Toản nhìn công tượng kham khổ trong xướng hiếu kỳ tụ tập xung quanh thì nảy ra ý nghĩ, hắn úp mở hỏi Trần Kính:
– Hoàng Thái tử Điện hạ, huynh còn nhớ câu chuyện chúng ta nói ở Ngự Thiên sau đám cưới của đệ không? Chuyện gia nô nhà đệ làm việc hiệu quả hơn hẳn công tượng triều đình ấy.
Trần Kính nhớ lại chút rồi gật đầu đáp lại. Quốc Toản vỗ tay cái đốp hứng khởi nói:
– Huynh có muốn chứng kiến khả năng sáng tạo của những công tượng này sẽ mang lại lợi ích lớn tới đâu không? Theo đệ, chỉ cần huynh ủng hộ đệ, sau đó phụ họa vào là được.