Chương 221: Hải Vọng đồn.
Vũ Minh gần nửa năm qua luôn tham gia mọi trận chiến to nhỏ ở Hóa Châu, đi theo Đặng Tất bấy lâu, lại trực tiếp tham gia chiến trường giúp hắn trưởng thành lên rất nhiều. Duy chỉ có cái tính liều mạng là vẫn còn, khi cần hắn luôn lao mình lên trước chiến đấu điên cuồng như chán sống.
Đồn lũy trên đỉnh Bạch Mã được lập lên theo ý kiến của Đặng Tất, ngay sau khi đám sơn tặc thủy tặc to nhỏ ở Hóa Châu được Hoài Văn quân chia ra dọn dẹp ổn thỏa thì Vũ Minh đã xung phong lên đây để xây dựng đồn lũy tiền phương này. Đơn giản vì ở đây hắn sẽ được rèn luyện liên tục với đám thủy tặc và có cơ hội chạm mặt Bàn La Mê.
Từ đây có thể nghe rõ tiếng sóng biển nên Hoài Văn quân gọi nó là đồn Hải Vọng. Đồn làm cũng rất đơn giản, ban đầu vốn chỉ được dựng bằng các cây cọc gỗ giằng buộc lại với nhau như hàng rào trong phạm vi 30 trượng dọc ngang. Bên trong cũng chỉ có vài lều trại đơn giản được dựng lên để ở tạm. Lũy không quá lớn nhưng vừa khéo đủ cho 200 người trú ngụ, lại vừa đảm bảo được đủ người chia ra phòng thủ các mặt. Đặng Tất lựa ngày trời trong để lên đây xem xét một lượt, hắn phóng mắt nhìn ra phía biển xa có thể thấy những chấm đen tàu bè rõ mồn một. Kết hợp cùng phong hỏa đài thì vị trí đồn Hải Vọng quá thuận lợi để kiểm soát hoạt động cả đường bộ lẫn đường biển, nên hắn quyết đoán dồn sức kiến tạo lên một đồn lũy thật chắc chắn để sử dụng mãi về sau.
Trong mấy tháng giời làm việc miệt mài và gian khổ tiếp theo, đồn Hải Vọng âm thầm được làm chắc chắn hơn, kín kẽ hơn nhờ đá, gỗ sắn có. Hỗn hợp bùn đất và rơm vốn là những vật liệu dễ kiếm được sử dụng triệt để để bọc ra bên ngoài cản gió, phòng hỏa công rồi dần dần làm dày thêm tường lũy đủ để ba người song hành. Vài căn nhà gỗ, mái lá trét bùn được dựng lên thay thế cho lều tạm làm nơi che mưa che nắng mà không sợ hỏa hoạn. Vũ Minh nhớ rõ bài học được Đặng Tất áp dụng ở trung lộ, hắn dùng đất đồi trộn với lá cây hoặc rơm rạ thành hỗn hợp rồi đắp lên, chỉ cần chúng khô lại sẽ thành khối cứng ngắc, mưa rừng cũng không xi nhê với chúng, thậm chí nếu tưới nước vừa phải chúng còn dần trở lên cứng hơn. Vì thế một đồn lũy chắc chắn dù không quá cao cứ âm thầm dần mọc lên sau lưng đám thủy tặc mà chúng không hề hay biết.
Tới khi Trà Hải phát hiện ra vấn đề thì đã muộn, hoặc có biết thì thời điểm đấy hắn cũng phải bất lực. Mãi tới, 2 tháng cuối năm một phần vì trời bớt nóng bức giúp tiết kiệm thể lực, một phần vì thủy tặc có vẻ đã phục hồi được sức chiến đấu sau thất bại ở Trương gia nên Trà Hải bắt đầu tổ chức vài đợt đánh lên đồn Hải Vọng phía tây.
Đặng Tất không thể phân quá nhiều binh sĩ cho đồn Hải Vọng vì tiếp tế khó khăn và lượng tù binh hơn nghìn người đang xây lũy ở trung lộ cần người giám sát, cho nên bản thân Đặng Tất cũng trực tiếp tới đây để cùng Vũ Minh chia ra phòng ngự.
Vũ Minh hiểu tầm quan trọng của tiền đồn này trong kế hoạch của Đặng Tất, nó vừa đóng vai trò là con dao găm sau lưng để kìm chế thủy tặc bên dưới, vừa là tiền đồn bảo vệ bên sườn của đồn lũy đang xây dựng ở trung lộ. Vì thế mà khi nhận trách nhiệm phòng thủ đồn Hải Vọng này Vũ Minh luôn rất cẩn trọng, bớt dần cái tính máu nóng của mình.
Chiếm ưu thế về địa lợi ở trên cao nhưng đồn Hải Vọng gặp một bất lợi lớn là có quá nhiều lối mòn đều dẫn lên đỉnh núi, mỗi lối mòn lại đều bị chia cắt bởi những dãy núi nhỏ chạy dài xuống tận dưới hồ Đại Lãng. Quân số không đủ, việc phân binh ra để canh giữ toàn bộ lối mòn sẽ khiến bản thân đồn Hải Vọng bị bỏ trống. Đối phó lại vấn đề này, Đặng Tất đã mượn Kajo gần 20 sơn binh người Cơ Tu để phụ trách việc do thám, canh chừng mọi động tĩnh của thủy tặc rồi báo ngược lên trên. Tùy theo hành động của đối phương mà Đặng Tất sẽ đề phương án đối phó cụ thể. Vũ Minh từ những phương án này cũng tích lũy cho bản thân không ít kinh nghiệm.
Vì thế, ngay từ buổi sáng, khi nhận được tin báo từ những thám báo người Cơ Tu, cả Đặng Tất và Vũ Minh đã chia ra hành động. Thủy tặc lần này có chút bất ngờ khi lại rầm rộ tiến quân không chút giấu giếm, chúng lại lựa chọn con đường mòn phía bắc dài hơn nhưng rộng, ngoài vài vị trí khe núi hẹp thì dễ đi hơn so với những con đường khác. Để an toàn, Đặng Tất phân ra, hắn trực tiếp dẫn 50 người xuống núi trước bố trí phục kích và do thám cụ thể, còn Vũ Minh đảm nhiệm ở lại phòng thủ đồn Hải Vọng.
Bh’riu Nùn tới trưa thì quay về được tới đồn Hải Vọng, hắn chỉ cần 3 hơi thở là ngắt được cơn thở dốc để nói năng lại bình thường, điều mà những binh sĩ ở miền xuôi không thể theo nổi:
– Vũ Minh, có lệnh của Đặng Tất báo ngươi giữ nguyên vị trí, không cần tới tiếp viện cho hắn. Đặng Tất nhắc ngươi cẩn thận quân Chiêm có trá.
Vũ Minh gật đầu ra hiệu đã hiểu đáp lại:
– Ta rõ rồi, cảm ơn ngươi Bh’riu Nùn. Ngươi về lều nghỉ ngơi đi.
Vũ Minh đứng trên một tháp canh lộng gió dựng bằng mấy cây gỗ lớn, hắn nheo mắt nhìn xuống cánh rừng rậm rạp khắp bốn phía, cố gắng từ đấy tìm ra chút manh mối. Nhưng ngoài chút động tĩnh chim chóc bay loạn xạ ở phía bắc nơi Đặng Tất đang canh giữ thì chẳng còn gì khác cả.
Trong đồn Hải Vọng còn hơn 150 binh sĩ đều đã sẵn sàng vũ khí trong tay, nếu có thể biết được động tĩnh của đối phương để có thể bố trí mai phục là tốt nhất, tránh trường hợp đối phương kéo tới quá đông đủ sức để vây kín Hải Vọng. Nếu tình huống này xảy ra sẽ thành thảm họa với quân bên trong đồn. Nhưng hiện giờ thông tin thiếu thốn, Vũ Minh đành giữ toàn bộ ở lại trong đồn Hải Vọng để phòng bất trắc.
Dù rất tự tin vào khả năng chiến đấu của Hoài Văn quân nhưng không khí trên tường lũy cũng dần trở lên căng thẳng. Rồi điều không mong chờ nhất cũng tới, một, rồi thành ba cột khói phía dưới thung lũng dần bốc lên, toàn bộ đều ở những lối mòn phía đông, đông nam nơi có địa hình dốc, nhiều vách đá cheo leo, muốn phân người ra canh chừng tất cả những hướng này là điều không thể.
Cả đồn Hải Vọng lập tức bước vào trạng thái khẩn trương, nỏ được lên dây. Nhờ có nguồn gỗ sẵn có, hai cỗ tam sảo pháo được chế tác tại chỗ lên đạn chờ đợi sẵn. Đây sẽ là những vũ khí lợi hại nhất ở địa hình đồi núi này.
Nửa canh giờ sau, trong ánh mắt chờ đợi của Vũ Minh hai sơn dân chạy như bay vượt qua bãi đất trống hiếm hoi trước lũy chạy về phía cổng, vừa qua cổng hắn đã ngửa cố hét lớn:
– Vũ Minh, phía đông phát hiện dấu vết mới có người đi lại, ta đếm dấu chân thì khoảng 40-50 người.
Người còn lại cũng chưa kịp thở nói xen vào:
– Phía Nam cũng thế, dấu vết còn rất mới, chỉ khoảng hai ngày trước.
Vũ Minh nghe thế thì vừa thở phào vì quân số của đối phương chỉ khoảng vài trăm người, không quá đông, không đủ sức bao vây Hải Vọng. Nhưng hắn cũng vừa đấm tay tiếc nuối vì nếu biết trước để chủ động đón đánh bên ngoài sẽ khiến vấn đề đơn giản đi rất nhiều. Hắn nghiến răng chửi thề rồi dò hỏi níu lại chút hi vọng giật lấy thế chủ động:
– Chết tiệt, nhân lực không đủ, để cá lọt lưới rồi. Hai người có lần theo được dấu vết bọn chúng để lại để tìm ra được vị trí chúng ẩn nấp không?
Cả hai sơn binh bên dưới lắc đầu:
– Có thể, người bọn ta ở lại vẫn đang tìm kiếm thêm dấu vết nhưng phải tốn hai ngày, ta e rằng không kịp. Với lại trong đội bọn chúng có hảo thủ đi rừng, biết đặt bẫy cản trở, nếu đuổi theo mà chỉ có vài người sẽ rất nguy hiểm.
Vũ Minh có chút thất vọng gật đầu đáp:
– Được rồi, hai người vào trong nghỉ ngơi đi, toàn doanh sẵn sàng chiến đấu. Phái người duy trì liên lạc với Đặng chỉ huy.
– Tuân lệnh đội trưởng.
Trương Tú là số ít cựu binh sống sót từ thời cuộc chiến ở Trương gia trong đội ngũ cũ của Vũ Minh, ở bên cạnh hỏi nhỏ như muốn nhắc nhở Vũ Minh:
– Đội trưởng, vậy Đặng chỉ huy phía ngoài thì sao? Ngài ấy chỉ có 50 người. Liệu bọn chúng có quay ra bao vây ngài ấy không?
Vũ Minh nhìn một sơn dân khác chạy vọt vào cánh rừng phía bắc lắc đầu bất lực:
– Chúng ta không thể làm gì khác, bảo vệ Hải Vọng quan trọng hơn. Đặng chỉ huy chỉ cần nắm bắt được tình hình ở đây sẽ có cách thoát thân nếu bị địch bao vây. Cung cấp tin tức cho ngài ấy là điều tốt nhất chúng ta có thể làm lúc này.
Lợi dụng quân số thiếu thốn của lũy Hải Vọng, lượng thám báo dù lợi hại nhưng thưa thớt trong khi rừng núi thì bạt ngàn. Trà Hải đã chia quân của mình thành từng tốp nhỏ được dẫn đầu bởi vài người đi rừng lão luyện âm thầm vượt rừng, vượt núi từ nhiều ngày trước rồi tập kết lại. Bản thân Trà Hải thì rầm rộ tiến quân để thu hút sự chú ý của đối phương, tạo điều kiện cho cánh kỳ binh kia có thể âm thầm tiếp cận đỉnh núi.
Vốn dĩ Trà Hải huy động tới 250 người vượt lên trước nhưng một tốp bị phát hiện buộc phải quay về, số còn lại thì do ngã núi, bị độc vật cắn mà bỏ mạng, nên tới được vị trí tập kết cũng chỉ còn gần 200 người. Bên dưới lũy Hải Vọng cách chỉ tầm nửa canh giờ leo bộ, gần 200 thủy tặc đang yên lặng nép mình dưới những bụi cây tay cầm sẵn cung tên đã lên dây canh chừng. Một tên như khỉ từ ngọn cây tụt xuống cúi người tới gần viên chỉ huy chắp tay báo lại:
– Chỉ huy, có khói hiệu bốc lên ở chỗ chúng ta đã đi qua, có vẻ hành tung của chúng ta bị lộ rồi. Đám binh sĩ trên lũy vẫn không có dấu hiệu rời lũy đi tiếp viện chỉ huy của bọn chúng. Chỉ huy, tiếp theo chúng ta nên làm thế nào?
Bàn La Mê vạm vỡ siết cán đao trong tay đắn đo, đăm chiêu suy nghĩ. Khó khăn lắm hắn mới có cơ hội áp sát gần đỉnh núi thế này. Cũng vì kế hoạch lén lút này mà quân số của hắn không đủ đông để tấn công trực diện, cũng không đủ vũ khí để công thành, tất cả chỉ có trang bị nhẹ và lương thực.
Theo kế hoạch thì hắn sẽ tấn công đồn Hải Vọng sau khi quân đồn trú ở đây bị Trà Hải dụ đi, nhưng mấy ngày qua để đảm bảo bí mật hắn đã hoàn toàn bị cắt đứt liên lạc với Trà Hải. Hiện tại, quân trong đồn Hải Vọng trừ một tốp nhỏ buổi sáng thì chưa có dấu hiệu rời đi, Bàn La Mê hiện giờ không biết vị trí của Trà Hải, cũng không rõ tình hình ở phía đó nên hắn phải tự mình cân nhắc. Nên theo kế hoạch tiếp tục tấn công, lựa chọn an toàn rút đi hay mạo hiểm vòng ra phía bắc kết hợp cùng Trà Hải. Biết tấn công trực diện đồn Hải Vọng là rất nguy hiểm nhưng hắn cũng không muốn bỏ lỡ cơ hội này. Bàn La Mê nghiến răng hạ lệnh:
– Lệnh các huynh đệ chế thang, chúng ta không giấu giếm nữa, trời vừa tối chúng ta sẽ đánh lên núi.
Thời gian tới khi trời tối không còn nhiều, đám thủy tặc nghe lệnh của Bàn La Mê không giấu giếm nữa mà bắt đầu lục ục xếp hàng tiến về phía đỉnh núi. Vị trí của chúng vì thế cũng rất nhanh bị phát hiện. Nhưng chúng không còn sợ binh sĩ trong đồn ra ngoài mai phục bọn chúng nữa. Hiện giờ tình thế đổi ngược lại, Hoài Văn quân mới thành những người không dám mạo hiểm tiến vào rừng vì sợ trúng phục kích. Tất cả binh sĩ bao gồm cả thám báo đều phải rút ngược vào trong Hải Vọng.
Tới sát đỉnh núi đám thủy tặc chia nhau ra chế tạo những cây thang làm bằng cây và dây rừng đơn giản, nhưng với tầm cao chỉ hơn một trượng của Hải Vọng thì quá đủ dùng. Bàn La Mê tiến lên phía trước nhìn đồn Hải Vọng tuy nhỏ nhưng chắc chắn cũng có chút ê răng. Không còn thời gian suy nghĩ thêm vấn đề khác, trời đã khuất bóng, Bàn La Mê phất tay cho quân mình bắt đầu tiến lên.