Chương 86: Thánh Nhân Đãi Kẻ Khù Khờ
Mưa phùn lất phất bay trên những mái ngói rêu phong của thành Nam Định, phủ lên tư dinh bề thế của Trần Phú Hào một màu xám xịt ảm đạm.
Trong sảnh đường, không khí đặc quánh mùi trầm hương pha lẫn mùi thuốc phiện. Lão Trần nằm dài trên sập gụ khảm trai, tay mân mê chuỗi hạt hổ phách đắt tiền, miệng ngáp ngắn ngáp dài. Lão đang chán. Tiền lão nhiều như nước sông Hồng, nhưng cái danh phận thì vẫn chỉ là “trọc phú”. Quan lại đến nhà lão chỉ để vòi vĩnh, dân chúng nhìn lão chỉ thấy thèm tiền chứ không nể trọng.
Bỗng, gia nhân hớt hải chạy vào, vấp cả vào ngạch cửa:
“Lão gia! Có biến! Có khách lạ… tự xưng là Cao Bá Quát đang đứng ở cổng!”
Lão Trần bật dậy như lò xo, chuỗi hạt rơi xuống sàn đánh “cốp”.
“Thánh Quát? Cái ông quan ngông cuồng văn hay chữ tốt ấy hả? Ông ta đến cái xó xỉnh đầy mùi cá mắm này làm gì?”
Bản năng con buôn trỗi dậy mạnh mẽ. Đôi mắt híp của lão đảo như rang lạc. Lão nghĩ:
“Chắc lại túng tiền, đến xin tài trợ in sách hay mượn tiền uống rượu đây. Đám nho sĩ nghèo này ta lạ gì, thanh cao cho lắm vào rồi cũng ngửa tay xin tiền.”
Lão chỉnh lại cái khăn xếp xộc xệch, vẫy tay gọi quản gia, thì thầm:
“Vào kho lấy 50 quan tiền. Gói ghém cho kỹ. Nếu hắn mở miệng xin, đưa ngay cho hắn rồi tiễn khéo đi. Đừng để hắn làm thơ chửi ta thì xui xẻo cả năm làm ăn.”
Với tâm thế của kẻ bề trên ban phát, lão Trần đủng đỉnh bước ra tiền sảnh. Nhưng vừa bước qua ngưỡng cửa, lão khựng lại.
Cao Bá Quát đứng đó, giữa sân gạch Bát Tràng ướt mưa. Ông không mặc áo tơi lụp xụp, mà diện bộ áo dài gấm xanh ngọc, tay cầm quạt phe phẩy dù trời lạnh, phong thái ung dung tự tại như tiên ông giáng trần. Cái khí chất thanh cao ấy khiến lão Trần bỗng thấy bộ đồ lụa trên người mình sao mà dung tục, kệch cỡm.
“Trần lão gia,” Quát cất giọng, vang và ấm, không hề có chút khúm núm của kẻ đi vay. “Nghe danh ‘Mạnh Thường Quân’ đất Nam Định đã lâu, nay Quát mới có dịp diện kiến.”
Lão Trần chột dạ, cái lưng tự động còng xuống. Lão chắp tay, cười giả lả:
“Cao tiên sinh quá lời. Kẻ hèn này chỉ là con buôn, hôi hám mùi tiền, đâu dám làm bẩn mắt thánh nhân. Không biết… tiên sinh hạ cố đến đây, có việc gì cần… giúp đỡ về ‘ngân lượng’ chăng?”
Câu hỏi sặc mùi tiền ném thẳng vào mặt. Nếu là Cao Bá Quát ngày thường chắc đã quay lưng bỏ đi, nhưng hôm nay ông đang đóng vai “người đi săn”. Ông không giận, chỉ cười nhạt, ánh mắt nhìn sâu vào mắt lão Trần:
“Ta không đến xin tiền. Tiền bạc với ta chỉ là phù du. Ta đến đây, là để tìm một người có Đức.”
“Đức?” Lão Trần ngơ ngác, miệng há hốc. Cả đời lão chỉ nghe người ta hỏi “Có tiền không?” chưa ai hỏi lão có Đức không.
“Đúng vậy,” Quát bước lại gần, giọng trầm xuống đầy cảm xúc. “Ta nghe nói năm ngoái đê vỡ, dân tình đói kém. Các thương lái khác găm hàng tăng giá, ép dân vào đường cùng. Riêng kho gạo của Trần gia vẫn mở bán bình ổn, lại còn phát cháo thí ba ngày liền. Việc ấy tuy nhỏ, nhưng cái tâm ấy thì lớn như trời biển. Bắc Hà này thương nhân thì nhiều như cát sông Hằng, nhưng kẻ biết ‘Thương Dân’ biết đặt cái Nghĩa lên trên cái Lợi như ngài… thì hiếm lắm thay!”
Lão Trần sướng rơn người, da gà nổi lên rần rần chạy dọc sống lưng.
Thực ra vụ phát cháo năm ngoái là do mụ vợ lão đi xem bói, thầy phán năm hạn phải tán lộc để giữ mạng cho thằng con độc đinh, nên lão mới cắn răng làm, tiếc đứt ruột gan. Nhưng nay, qua miệng lưỡi của “Thánh Quát” hành động mê tín ấy bỗng hóa thành nghĩa cử cao đẹp của bậc thánh nhân.
Lão thấy mình bỗng trở nên vĩ đại lạ thường. Cái tôi được vuốt ve, cái sĩ diện được bơm căng.
“Dạ… dạ… tiên sinh quá khen,” Lão Trần đổi giọng, cung kính hẳn, mắt rơm rớm (vì xúc động trước sự “vĩ đại” của chính mình). “Đó là bổn phận của kẻ làm dân thôi ạ. Thấy người hoạn nạn, lòng không nỡ…”
“Chính vì cái tâm ‘không nỡ’ ấy,” Quát ngắt lời, ra hiệu cho gia nhân mở tráp son. Ánh vàng lấp lánh từ bên trong tỏa ra.
Ông lấy ra một tấm thiếp mời bọc gấm, trên đó viết bốn chữ “Hội Ngộ Anh Hùng” bằng mực kim nhũ, nét chữ rồng bay phượng múa.
“Ta thay mặt Nguyễn Tổng đốc và Trương Khâm sai, trân trọng mời ngài đến Vọng Các dự tiệc. Trong 5 tỉnh Bắc Hà, ta chỉ chọn đúng 15 người. Ở Nam Định này, có mười người giàu hơn ngài, có kẻ mang vạn lượng vàng đến cầu cạnh ta xin một vé, ta đều đuổi về. Ta gạch tên tất cả, chỉ để giữ lại cái tên Trần Phú Hào.”
Cao Bá Quát đặt tấm thiếp vào tay lão Trần, nhấn mạnh từng chữ:
“Vì hội nghị này không bàn chuyện kiếm tiền, mà bàn chuyện hưng quốc an dân. Chỉ những người có Đức như ngài mới xứng đáng ngồi chung mâm với Tổng đốc.”
Lão Trần cầm tấm thiếp, tay run bần bật như bị sốt rét.
Được Tổng đốc mời! Được Khâm sai đợi! Lại còn được chọn vì “có Đức” chứ không phải vì cái túi tiền hôi hám! Lão đã vượt mặt cả những đối thủ giàu có hơn mình. Đây là cái danh vọng, cái đẳng cấp mà cả đời lão dùng tiền cũng không mua được.
“Tiên sinh… tôi… tôi…” Lão nghẹn ngào, nước mắt ứa ra thật sự. Sự nghi ngờ, toan tính ban đầu tan biến sạch sẽ như sương gặp nắng.
Lão quỳ sụp xuống, nâng tấm thiếp lên quá đầu:
“Đa tạ tiên sinh đã tri ngộ! Đa tạ quan trên đã soi xét! Trần Phú Hào này dù có phải bò, cũng nhất định sẽ đến Vọng Các đúng giờ!”
Cao Bá Quát mỉm cười, đỡ lão dậy.
*
Tin tức về việc lão Trần ở Nam Định được “Thánh Quát” đến nhà lan nhanh như gió mùa Đông Bắc, nhưng Minh An biết, muốn tạo thành bão lớn thì phải có sấm chớp giữa ban ngày.
Tại Bắc Ninh, Hội Lim đang vào chính hội.
Trên đồi Lim, tiếng hát quan họ “người ơi người ở đừng về” vang vọng, chen lẫn với tiếng trống hội thùng thình. Giữa đình làng, nơi trang trọng nhất, một chiếc sập gụ lớn được kê cao. Ngồi chễm chệ trên đó là Phạm “Lụa” – trùm buôn tơ lụa Kinh Bắc.
Hắn mặc cái áo the khăn xếp bằng lụa Hà Đông thượng hạng, tay đeo đầy nhẫn ngọc, miệng nhồm nhoàm nhai hạt dưa, mắt lim dim thưởng nhạc nhưng thực chất là để thiên hạ ngắm cái sự giàu sang của mình. Xung quanh hắn, đám gia nô đứng quạt hầu, đuổi ruồi, mặt hất lên trời.
Bỗng, đám đông đang chen chúc xem hát bỗng dạt ra hai bên như nước rẽ đôi. Tiếng xì xào nổi lên:
“Kìa! Ai như… Cao Bá Quát?”
“Đúng là ông ấy rồi! Thánh Quát về làng!”
Phạm Lụa đang gật gù, nghe thấy cái tên ấy thì giật bắn mình, suýt sặc hạt dưa. Hắn vội vàng đứng dậy, chỉnh đốn trang phục.
Cao Bá Quát bước tới, phong thái ung dung, tà áo bay nhẹ trong gió xuân. Ông không đi vào hậu cung đình làng, mà đi thẳng đến chỗ Phạm Lụa, ngay trước mắt hàng trăm cặp mắt của dân chúng và du khách thập phương.
“Phạm lão gia,” Quát cất tiếng, sang sảng át cả tiếng trống. “Đường xá xa xôi, nhưng Quát tôi phải lặn lội về đây, chỉ để gặp người dệt nên gấm vóc cho thiên hạ.”
Phạm Lụa mặt đỏ bừng vì sướng, chân tay luống cuống, vái lấy vái để:
“Dạ… dạ… bẩm Thánh Quát, ngài quá lời. Kẻ hèn này chỉ là con buôn bán vải, đâu dám…”
“Ngài sai rồi!” Quát ngắt lời, giọng đầy vẻ tôn kính (giả tạo nhưng cực đạt). “Con tằm nhả tơ là rút ruột cho đời. Người mang tơ lụa đi khắp thế gian như ngài, là mang cái đẹp, cái ấm đến cho muôn dân. Đó là công đức vô lượng!”
Nói đoạn, ông ra hiệu. Gia nhân dâng lên chiếc tráp sơn son. Cao Bá Quát trịnh trọng lấy ra tấm thiếp vàng rực rỡ, lấp lánh dưới ánh nắng xuân.
“Đây là thiếp mời dự ‘Hội ngộ Anh hùng’. Nguyễn Tổng đốc có lời nhắn: Thiếu ai thì thiếu, nhưng không thể thiếu ‘Ông vua tơ lụa’ đất Kinh Bắc.”
Cả sân đình ồ lên kinh ngạc. Những ánh mắt ngưỡng mộ, ghen tị đổ dồn về phía Phạm Lụa.
Cao Bá Quát cao hứng ngâm tặng một bài tứ tuyệt ngay tại chỗ:
“Tơ tằm dệt mộng nghìn thu,
Người mang gấm vóc, xóa mù trần gian.
Bắc Hà đệ nhất giàu sang,
Thiếp vàng trao tặng, xứng hàng vương tôn.”
Phạm Lụa nghe xong, sướng đến tê dại cả người. Hắn cảm thấy mình không còn đứng trên mặt đất nữa mà đang bay lơ lửng trên chín tầng mây. Được Thánh Quát làm thơ tặng! Được Tổng đốc gọi là “Ông vua tơ lụa”! Được ví với “vương tôn”!
Hắn cầm tấm thiệp bằng hai tay, giơ cao lên trời như thể đó là chiếu chỉ của nhà vua, quay một vòng để tất cả mọi người đều nhìn thấy ánh kim lấp lánh của nó.
“Bà con ơi! Nghe thấy chưa? Thánh Quát khen tôi đấy!”
Hắn quay sang đám gia nô, quát lớn, nước bọt bắn tung tóe vì phấn khích:
“Bay đâu! Thưởng! Thưởng cho cả làng! Mở tiệc ngay tại đây! Mời các liền anh liền chị hát thâu đêm suốt sáng cho ta! Ai ăn gì ta trả tiền hết! Hôm nay Phạm Lụa ta rửa mặt cho cả dòng họ Phạm!”
Tiếng hò reo vang dậy đất trời:
“Phạm lão gia vạn tuế! Phạm đại nhân hào phóng quá!”
(Có ai đọc không đó ạ, comment cho tác biết với. Hic. Truyện đầu tay mà thấy flop kinh)